Lời ca vịnh và văn trước thuật

Với thơ, người xưa bao giờ cũng ngưỡng mộ đến mức “kính nhi viễn chi”. Thơ luôn giữ vị trí danh dự, hàng đầu trong thứ hạng loại thể văn chương thời trung đại. Xem không khí tôn nghiêm trong bình thơ xưa thì rõ. Ai cũng thấy mình đang tham dự và chứng kiến thời khắc thật linh thiêng. Nhất cử nhất động đều cẩn trọng, khẽ khàng như thường thấy trong các buổi lễ tôn giáo. Chỉ khác tôn giáo ở đây là thi ca.

 

Tiếp xúc với tập “Liên đoàn kê thi loại biên”, một tác giả vô danh “nghiêm mặt sửa áo, đốt trầm mở đọc” [17, 52]. Cầm tập thơ “Nam trình liên vịnh ngâm” của thân phụ trên tay, Ngô Thì Sỹ “đốt hương kính đọc” [17, 19]. Đó cũng là thái độ của Nguyễn Thượng Hiền dành cho thơ nay: Thắp hương đọc đi đọc lại hai ba lần (Nam hương thi tập).

 

Thi nhân được xem là bậc tao nhân mặc khách có “ngọc nhả châu phun, gấm bày vóc giãi” (Phùng Khắc Khoan) [17, 16]. Đó là loại người như ý của Lê Thánh Tông: “Cẩm tâm tú khẩu điển văn nhân” (Lòng như gấm, miệng như vóc, thực đúng là người coi giữa văn chương) [13, 333]. Lối so sánh thơ với châu ngọc, lụa là đã thành quen thuộc. Đề thơ là “thăm dò ngọc quý” (Bùi Ngọc Quỹ) là “thêu hổ chạm rồng” (Nguyễn Thứ Phủ). Đó là bỡi thơ là “vật báu” (Ngô Thì Sỹ), cùng với nhạc thơ là “hai điều kỳ tuyệt” ở đời (Miên Trinh).

 

Ngô Thì Nhậm cũng từng khẳng định: “Ở dưới trời này, những cái gọi là hoa, là chè, là khúc, là thơ, có cái gì cao diệu hơn những cái ấy” [41, 74]. Có lẽ nên coi đây là cách nói nhằm đưa thi ca tránh xa mọi thứ “phàm tục” ở đời, “không thể đem mắt tầm thường mà xem, miệng tầm thường mà nếm được” (Hoàng Đức Lương). Với người ưa thích và am hiểu thì thi ca là một sản phẩm tinh thần cao quý và kỳ diệu. Lê Thánh Tông cảm kích viết: Hùng từ lạn lạn lăng tiêu hán/ Diệu cú dương dương khắp quỷ thần (Những lời hùng hồn đến át cả sông Ngân/ Những câu kỳ diệu khiến quỷ thần phải khóc) [13, 333].

 

Tho không hoàn toàn giống với những tác học thuật mà người xưa đều gộp chung vào khái niệm “văn”. Nét riêng biệt ấy được Phan Huy Chú nhận diện khá rành mạch khi đối chiếu lao động của “học giả với “thi nhân”, của “nhà trước thuật” với ”nhà ca vịnh” trong lời Tựa “Quế đường thi tập” của Lê Quý Đôn. Các “nhà trước thuật”, theo ông, “vốn bắt nguồn từ thể văn kinh Thư, Xuân Thu” nên “cô đọng, bao quát, xa rộng ,cốt ở tính chất mực thước và hệ thống”. Còn các “nhà ca vịnh” thì lại được khơi nguồn “từ thể tỷ và hứng ở Kinh Thi, ở nỗi cảm xúc tiếng thở than của Ly tao”, nên lấy việc “diễn tả tình cảm đến tột bậc” và việc “thu lượm được mọi cảnh hay vật lạ” làm chính [41, 108].

 

Xem xét kỹ, đặc thù của thi ca đã manh nha trong đầu óc của nhà bác học Lê Quý Đôn. Điều 5 (Văn nghệ) có đoạn: “Các sách Trang Tủ, Hoài Nam Tử là tổ của văn chương. Sở từ là tổ của từ phú”. Các tác phẩm của Bách gia Chư tử là các sách triết học có giá trị văn chương. Cái hay của chúng là ở tài “nghị luận” (chữ dùng kế theo của Lê Quý Đôn) nghĩa là khúc chiết, chặt chẽ, sắc sảo, chủ yếu hướng tới thuyết phục lý trí của người đọc. Trong khi đó, “Sở từ” lại khác hẳn. “Sở từ” là gì? Sở là quê củ nhà thơ danh tiếng Khuất Nguyên. Nước này nắm phía Nam Trung Quốc có nền thi ca rất phát triển. Đã từng có hẳn một thuật ngữ “Sở điệu” để chỉ sắc thái riêng của thơ nước Sở. Còn “từ” không phải là lời nói (như ngôn từ) cũng không phải là thể tài thi ca (có loại thơ gọi là từ bắt đầu từ Hán Võ Đế), mà là “lời thơ”. Với ý nghĩa loại biệt, nổi rõ đặc thù của thơ như vậy mà người ta lấy “Sở từ” để đặt tên cho tập thơ bao gồm thơ của Khuất Nguyên và một số nhà thơ đồng thời hay kế tục ông. Cái hay của “Sở từ” theo lời Lê Quý Đôn, gắn liền với “mỗi câu thơ đều bay bướm”, giàu hình ảnh, sinh động tới mức sống động. Vậy là Lê Quý Đôn rất có ý thức khi dùng khái niệm “văn” theo nghãi hẹp để chỉ văn chương nhất là để chỉ thi ca.

 

Trong thi ca nghệ thuật, yếu tố hình thức được đòi hỏi rất cao. Lê Hữu Kiều cho rằng thơ phải “linh hoạt” trong “lập ý”, “trang nhã” trong “cách điệu”, “sắc sảo” trong “đặt câu” và “có âm hưởng” khi “dùng từ” [41, 55]. Đó là đòi hỏi nhiều mặt, khiếm khuyết mặt này không thể không ảnh hưởng tới mặt kia.

 

Vào thời “văn sử bất phân”, việc phân biệt giữa thơ và sử là cần thiết và khó khăn hơn hết. Ở điểm này dễ thấy nét đặc trưng của thi ca trong quan niệm của người xưa. Thơ va sử cố nhiên có nhiều điểm gần gũi. Chúng đều nhằm mục đích giáo dưỡng con người. Cao Xuân Dục viết: “Thơ và sử đều có nhụ ý khuyên răn” [12, 152]. Chúng cũng đều đem lại nhận thức về quá khứ cho người đọc. Nguyễn Mại viết: “Phong dao lại gọi là sử vì muốn nhân phong dao của dân mà biết sử sách của nước vậy” [41, 177]. Song thơ rất khác sử. “Tôi thường nghĩ trong sử không có thơ như trong thơ có sử. Gọi là Quốc phong, phong là thi, nhưng Quốc phong chẳng phải là sử của 15 nước sao?” (Cao Xuân Dục). Đấy dẫu sao cũng là mới nhìn ở nội dung bề mặt dễ thấy. Đi sâu hơn vào các tập thơ vịnh sử nổi tiếng, Cao Xuân Dục càng có điều kiện phát hiện ra sự khác biệt giữa thơ và sử. Đánh giá tập thơ “Việt sử tam bách vịnh” của Nhữ Bá Sỹ, ông viết: “Tài liệu chọn lọc, lời văn cô đúc, ý nghĩa sâu sắc”. Ông đã nhìn tập thơ vịnh sử này ở góc độ văn chương hơn là góc độ lịch sử. Đặc biệt đáng chú ý là những đánh giá của ông về tập thơ vịnh sử của Đặng Minh Khiêm. Ông viết: “Bởi vì ông gửi tinh thần ở trăm ngàn năm trước... khí tượng thanh thoát, cốt cách vững vàng, học vấn thâm thúy, trong bụng chứa đầy văn chương”. Rất rõ là ở đây chỉ còn lại tiêu chí văn chương để xem xét giá trị của tập thơ. Dễ hiểu là tại sao trong lời kết luận Cao Xuân Dục lại viết: “Nếu không đủ tài trí và sở trường thì làm sao được như thế?” [12, 152].

 

Do nét riêng biệt của thơ mà người làm thơ cần phải có tài nghệ. Trong quan niệm của người xưa, tài gắn liền với nghệ. Lê Quý Đôn viết: “Giáo khoa dạy cả Lục nghệ (lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số) trong đó có cả văn sự và vủ bị” (Điều 3 – Văn nghệ). Đó là nếp tư duy quen thuộc của thời trước cả ở phương Đông cũng như phương Tây. Thi ca có nhiều nét gần gũi với các nghề thủ công đến mức làm thơ được coi là “chế tạo” thơ, “sản xuất” thơ. Từ đó nảy sinh nguồn gốc của các từ Poésis (thi ca) và Poetès (thi nhân) từ Poiéo (tôi làm). Và tên gọi Ấn Độ cổ nhất của từ “thi pháp” (Kriyakalpa) nghĩa là “sự hiểu biết công việc thi ca”. Đặc biệt ở Pháp thời trung cổ nhà thơ thường tự gọi mình đơn giản là Rimeurs (người làm những vần thơ).

 

Thi ca cũng như các nghề thủ công khác “nhất nghệ tinh nhất thân vinh”. Cao Xuân Dục viết: “Để làm nên tập thơ điêu luyện... kẻ làm thơ phải có biệt tài, không phải ai cũng làm nổi” [12, 152]. “Biệt tài” nhằm đáp ứng những đòi hỏi có phần riêng biệt của thi ca. Nhưng để bền lâu, người xưa còn chú ý đến “thực tài”. Phan Huy Ích cho rằng: “Cây có gốc sâu thì càng tốt, người có tài thực thì tiếng tốt truyền xa” [41, 83]. Được thế, quả không mấy dễ dàng. Đúng như nhận thức của Ngô Thì Sỹ: “Tài thơ vốn không phải dễ” [17, 64]. Đó là bởi thơ, thơ hay vốn không dễ.