Dẫn nhập

Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là từ sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc năm 1954, di sản văn chương trong quá khứ của dân tộc bao gồm văn chương dân gian và văn chương bác học, cà sáng tác và lý luận đã được giới nghiên cứu quan tâm tìm hiểu và đạt thu được nhiều thành tựu đáng kể. Riêng văn chương trung đại, chúng ta đã có thể nói tới việc phát hiện ra Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm, phát hiện lại thời đại Lý – Trần, Nguyễn Du, Cao Bá Quát.

Tuy nhiên, chưa thể nói tới sự phát hiện với quy mô và tính chất như vậy đối với di sản lý luận văn chương cổ của của dân tộc. Năm 1981, trong “Từ trong di sản... – Mấy điều thu hoạch” nhân Nhà xuất bản Tác phẩm ấn hành cuốn “Từ trong di sản...”, Nguyễn Minh Tấn đã xác nhận: “Đối với di sản văn học, nếu như phần sáng tác đã được phát hiện, thì phần di sản  tư tưởng lý luận văn nghệ (chữ in nghiêng do N.M.T. nhấn mạnh) có thể nói vẫn còn chưa làm được bao nhiêu, tình hình đó gây nên một cảm tưởng ở không ít người về sự nghèo nàn của tư duy lý luận, thậm chí có lúc có ý kiến cho rằng trong ngót mười thế kỷ vừa qua, di sản văn học của ta ko để lại “một giọt lý luận nào” [41, 209]. Cho đến thời gian gần đây, mặc dầu đã có một vài bước tiến quan trọng, song tình hình nghiên cứu quan niệm văn chương cổ của dân tộc về cơ bản vẫn chưa có sự thay đổi thật sự đáng kể”.

VănMột nội dung cần được chú tâm nghiên cứu là quan niệm về thơ. Đó là vì thơ trong quá khứ là sản phẩm sáng tạo phức hợp nhất, tinh tế nhất của những thành tựu văn hóa cổ xưa. Đó còn là vì thơ được các văn nhân, học giả xưa luôn xem là thể tài văn chương quan trọng bậc nhất, đồng thời bộc lộ rõ nhất đặc thù của “văn” (      ) theo nghĩa hẹp nhất của từ này.

Với tiêu đề “Tìm hiểu quan niệm thơ cổ Việt Nam”, từ chỗ đứng và tư duy hiện đại, chuyên luận nhằm góp phần phân tích, đánh giá và lý giải một số vấn đề cơ bản, bao quát của quan niệm thơ thời trung đại Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX). Đây chủ yếu là quan niệm thơ của các nhà nho, bao gồm đại nho và hàn sỹ, bộc lộ trong các trước tác được viết bằng chữ Hán là chính.

Thực tế, có thể nghiên cứu quan niệm thơ cổ qua hình tượng văn chương trong sáng tác của các nhà thơ tiêu biểu thời trung đại. Chuyên luận không đi theo hướng này, mà đi theo hướng khác có phần trực tiếp hơn: tìm hiểu quan niệm thơ cổ qua các ý kiến luận bàn về thơ (như các bài Đề từ, Tựa, Bạt, Bình các tập thơ) và qua ý tứ ít nhiều có liên quan tới quan niệm thơ ẩn trong ngôn từ, hình ảnh của các bài thơ.

Trong thời trung đại ở ta, theo các tài liệu đã được công bố, thì không có những công trình lý luận đồ sộ chuyên bàn về văn chương kiểu “Thi pháp học” của Arixtôt (384 – 322 TCN), “Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật với thực tại” của N.G. Tsecnưsepxki (1829 - 1889)... ở phương Tây và “Văn tâm điêu long” của Lưu Hiệp (khoảng 465 - 520), “Tùy viên thi thoại” của Viên Mai (1716 - 1797)... ở Trung Quốc. Tuy nhiên, trong nhiều công trình khảo cứu có tính chất bách khoa, chẳng hạn của Lê Quý Đôn (1726 - 1784), có những chuyên mục bàn về thơ văn (như mục “Văn nghệ” gồm 48 điều trong bộ “Vân đài loại ngữ”). Các ý kiến bàn về thơ nhiều hơn cả nằm trong các bài Đề từ, Tựa, Bạt, Bình... các hợp tuyển thơ (như Việt âm thi tập, Trích diễm thi tập, Toàn Việt thi lục), nhất là các tập thơ của các nhà nho. Các bài tải văn loại này nhiều khi do chính tác giả viết, như lời Tựa Bạch Vân am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), Ngôn chí thi tập của Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613)... nhưng cũng không ít trường hợp do những người “tri âm” viết, như Lê Hữu Kiều (1690 - 1760) viết Tựa cho tập thơ Tàng khuyết của Mai Doãn Thường, Phan Huy Chú (1782 - 1840) viết Bạt cho Dương mộng tập của Hà Tông Quyền... Các bài loại này có khi được viết dưới hình thức thơ như trường hợp Cao Bá Quát (? - 1854) viết Đề sát viên Bùi Công Yên đài anh ngữ khúc hậu (Viết sau tập Yên Đài anh ngữ của ông đô sát họ Bùi), nhưng phần nhiều được viết bằng văn xuôi chữ Hán.

Trong tình hình tư liệu chưa thật giàu có và tập trung như hiện nay, để tìm hiểu quan niệm thơ Việt Nam thời trung đại, người nghiên cứu không thể không lưu tâm đến bản thân sáng tác của các nhà thơ. Đó là những ý thơ rải rác trong các bài thơ ẩn tàng nhiều quan niệm sâu xa của các tác giả. Phải nói càng đi sâu nghiên cứu nguồn dữ liệu loại này ta càng thấy chúng thật sự phong phú và quý giá. Xin được nêu hai trường hợp tiêu biểu: Nguyễn Trãi (1380 - 1442) và Nguyễn Du (1765 - 1820).

Quan niệm thơ của Nguyễn Trãi được bộc lộ rõ rệt trong nhiều bài thơ cả chữ Hán (Ức Trai thi tập) lẫn chữ Nôm (Quốc âm thi tập) của ông. Nguyễn Thị Dư Khánh đã dùng câu thơ “Túi thơ chứa hết mọi giang san” (Tự thán – Bài 2) của Nguyễn Trãi để biện giải cho “khả năng bao quát không gian của thơ” [44, 18] (). Còn Lê Ngọc Trà thì đã dẫn hai câu: “Liêu bả tân thi tả ngã sầu” (Tạm đem thơ mới giải nỗi sầu của ta) và “Hảo bả tân thi hướng chí luân” (hãy cảm bài thơ mới mà nói cái chí của mình) để chứng minh cho “sức mạnh và đặc điểm của nghệ thuật là ở chỗ nó dùng tiếng nói tình cảm để thể hiện cả những quan niệm sống, quan niệm triết học về xã hội và tự nhiên” [32, 11] (). Trong thực tế, rất nhiều câu thơ của Nguyễn Trãi đụng chạm đến những vấn đề khác nhau của lý luận thi ca. Chẳng hạn, hai câu kết bài “Hý đề” (Đề chơi) thể hiện rõ ý nghĩa của thơ với con người và với cuộc đời: Nhãn để nhất thì thi liệu phú/ Nhâm ông thùy dữ thế nhân đa? (Trong đáy mắt một buổi thi liệu dồi dào/ Thi nhân với người đời thì ai thú hơn?) [8, 360 - 361].

Còn về mối quan hệ giữa thơ với cảnh trí thiên nhiên và rộng ra giữa thơ với thực tại thì không gì điển hình và thấm thía bằng câu thơ sau trong bài “Tức hứng” (Hứng làm ngay) của Nguyễn Trãi: Vũ dư sơn sắc thanh thi nhãn (Sau mưa sắc núi làm trong trẻo mắt thơ) [8, 362].

Trong lời giới thiệu Nguyễn Du toàn tập, Mai Quốc Liên đã nhiều lần nhấn mạnh đến ý nghĩa lý luận thâm trầm và ý vị của nhiều câu thơ chữ Hán của thi hào Nguyễn Du. Ví như, đề bàn về lẽ “mầu nhiệm” hướng tới chính bản ngã của mình và bản thể vũ trụ của thứ thơ ca “không lời” (vô ngôn), ông đã dẫn ra câu thơ sau của Nguyễn Du: Linh văn bất tại ngôn ngữ khoa (Văn thiêng không phải ở ngôn ngữ)

Đó là câu rút ra từ bài “Lương Chiêu Minh Thái tử phân kinh đài” (Đài đá chia kinh của Thái tử Chiêu Minh nhà Lương) [6, 538].

Tuy nhiên, theo chúng tôi, có lẽ phải cần tới nhiều tiểu luận mới mong khai thác được tương đối đầy đủ quan niệm thi ca Nguyễn Du bộc lộ qua thơ chữ Hán của ông. Chẳng hạn, nói về mối quan hệ giữa thi nhân và thi ca, Nguyễn Du viết: Thi nhân bắt đắc kiến/ Kiến thi như kiến nhân (Người thơ không được thấy/ Thấy thơ như thấy người) (Đề Vi Lư tập hậu) [6, 336].

Còn đây là vai trò của thi ca đối với cuộc đời trong quan niệm của Nguyễn Du: Thi thành thảo thụ giai thiên cổ (Thơ làm xong, cỏ cây cùng thơ được truyền đến ngàn năm) (Hán Dương vãn điểu) [6, 405].

Trên cơ sở hai nguồn tư liệu chủ yếu bao gồm các ý kiến trực tiếp bàn về thơ và các ý kiến ẩn tàng trong các bài thơ, chúng tôi tự đặt cho mình nhiệm vụ khái quát thành quan niệm thơ chứ chưa đến mức quan điểm thơ thời trung đại Việt Nam.

Cho dù mới dừng sự nghiên cứu ở mức độ quan niệm thơ, chúng tôi vẫn luôn ý thức được sự khác biệt giữa quan niệm thơ nội dung thơ. Trên thực tế, hai khái niệm này “hòa nhi bất đồng”. Không đồng nhất với nội dung, quan niệm thơ là một bộ phận quan trọng của quan niệm văn chương, quan niệm nghệ thuật, rộng hơn là quan niệm mỹ học có ý nghĩa bao trùm và chỉ đạo sáng tác. Nó có thể tồn tại một cách “lý thuyết”, tự giác và có ý thức. Cũng có khi nó chưa đạt tới tính chất và trình độ đó. Tuy nhiên, theo lẽ thường, sáng tác ắt sinh ra quan niệm, dẫu là tập trung hay phân tán, trức tiếp hay gián tiếp, tự giác hay không tự giác. Nội dung thơ chính là là nội dung cụ thể của các bài thơ trong đó có nội dung hiện thực song chủ yếu bao gồm nội dung tư tưởng, tình cảm được bộc lộ qua các phương tiện nghệ thuật như ngôn từ, hình ảnh, âm điệu, vần luật... Dễ lẫn với quan niệm thơ hơn cà là các nội dung có tính chất khái quát, đặc thù cho một một giai đoạn hoặc một nền văn chương như: nội dung hiện thực, nội dung yêu nước, nội dung nhân văn...

Cố nhiên, người nghiên cứu cũng không nên quá tách bạch hai khái niệm này vì chúng vốn có quan hệ rất hữu cơ với nhau. Cần thấy tác động qua lại giữa chúng. Quan niệm chỉ đạo sáng tác và bộc lộ qua sáng tác, nên có thể ở một mức độ nhất định dùng thực tiễn sáng tác soi sáng thêm quan niệm. Điều cần hết sức tránh là áp đặt nội dung lên quan niệm, thay thế quan niệm bằng nội dung.

Cũng do hạn chế có thể nói là khá ngặt nghèo của tư liệu về mặt lịch sử, chuyên luận nghiêng về việc tìm hiểu quan niệm thơ cổ trên bình diện cấu trúc. Ngay ở mặt cấu trúc, chuyên luận cũng chỉ đi vào những vấn đề chung có tính bao quát như: các quan niệm về chủ thể sáng tạo, về quan hệ giữa thơ với thực tại, về nghệ thuật thơ, và về phê bình thơ. Một vài vấn đề cụ thể có ý nghĩa như: thơ với cảnh trí thiên nhiên, động và tĩnh trong thơ... có được phân tích, lý giải trong các chương mục khác nhau của chuyên luận nhưng không được tập trung nghiên cứu thành những mục riêng.

Ngoài việc tìm hiểu những vấn đề cơ bản trong quan niệm thơ là chính, chuyên luận còn gắng phát hiện ra bản sắc riêng trong lối bàn luận về thơ của các thi nhân học giả xưa. Điều này không phải không đáng quan tâm, nhất là khi cần đối chiếu để thấy sự tương đồng trong lối tư duy lý luận của các dân tộc phương Đông cũng như sự khác biệt với lối tư duy lý luận của người phương Tây. Suy rộng ra, đó cũng chính là những nét đặc thù trong văn hóa và tư tưởng Á Đông, có cội nguồn sâu xa từ những điều kiện tự nhiên, lịch sử và xã hội riêng biệt.

 

*

*           *

 

Khái niệm “trung đại” được các nhà nhân văn chủ nghĩa ở châu Âu thế kỷ XV dùng để chỉ thời kỳ lịch sử từ khi đế chế Tây La Mã sụp đổ (thế kỷ V) cho tới thời đại Phục Hưng (XV). Thời trung đại Việt Nam là một trong những thời kỳ phát triển của dân tộc trên nhiều phương diện. Nền văn hóa, và nói riêng là nền văn chương kể cả sáng tác lẫn quan niệm, đã phát triển và thu được nhiều thành tựu, góp phần khẳng định bản sắc dân tộc cùng bản lĩnh của con người Việt Nam. Do vậy, không thể hiểu thấu đáo được văn hóa, văn chương và con người Việt Nam hiện đại nếu không nghiên cứu đầy đủ, kỹ lưỡng văn chương thời trung đại, trong đó có quan niệm thi ca.

Nếu như vấn đề quan niệm thơ cổ được giải quyết đúng hướng và xác đáng, nó sẽ có ý nghĩa cà về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Trước hết, là ý nghĩa khoa học và đào tạo của vấn đề nghiên cứu. Trong nhiều năm trở lại đây, một câu hỏi luôn đặt ra cho các nhà lý luận là làm thế nào để xây dựng nên lý luận văn chương và nói riêng là nền lý luận thi ca dân tộc hiện đại. Theo chúng tôi, không thể giải quyết được vấn đề này nếu không xuất phát từ tinh hoa di sản lý luận trong quá khứ. Bởi “ôn cố tri tân” và còn bởi “tân tòng cố xuất”.

Cho đến giờ, có lẽ không còn ai cho rằng các bậc tiền bối đã không để lại “một giọt lý luận” nào cho con cháu. Tuy nhiên tâm lý xem thường, nhất là khi có dịp đối chiếu di sản lý luận cổ Việt Nam với di sản lý luận đồ sộ của các dân tộc khác như Trung Quốc, Pháp, Nga... vẫn còn là tâm lý khá phổ biến. Đúng là ngày trước “không mấy người bàn về lý luận văn học” [48, 16]. Mà nếu có bàn về văn thơ thường rất ngắn, lại có vẻ như sơ sài, rập khuôn. Trong khi tư liệu được sưu tầm, biên dịch từ kho tàng Hán Nôm cho đến giờ vẫn chưa thể coi là thật sự phong phú. Có điều, theo chúng tôi, nếu đi sâu tìm hiểu nguồn tài liệu quý giá đó, với ý thức trách nhiệm cao đối với khoa học và đối với dân tộc, thì sẽ nhận ra những gì đáng nâng niu trân trọng từ di sản ông cha ta để lại.

Đáng tiếc, trên thực tế việc khai thác di sản lý luận thơ cổ của dân tộc chưa làm được bao nhiêu. Chúng tôi không tán thành với Nguyễn Thị Dư Khánh khi tác giả nhận xét: “Cho đến nay, các nhà lý luận thơ đả kế thừa một cách triệt để nền “thi thoại” cổ của dân tộc” [44, 18]. Phải nói là các nhà lý luận văn chương hiện đại chưa làm được bao nhiêu trong việc khai thác, phát huy di sản lý luận thi ca trong quá khứ. Tình hình này đã phần nào ảnh hưởng tới nội dung và phương hướng đào tạo ở phổ thông cũng như ở đại học. Trên phương diện tìm hiểu những quan niệm chung về văn chương thời trung đại, nhìn đại thể, đã có những bước tiến. Ngoài một vài bài viết lẻ tẻ đây đó đã xuất hiện những chuyên luận dầy dặn như tập “Về quan niệm văn chương cổ ở Việt Nam” của Phương Lựu (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1985). Riêng những tập chuyên luận hoặc giáo trình về quan niệm thơ cổ thì chưa thấy xuất hiện. Tình hình đó, cố nhiên đã ảnh hưởng trực tiếp ảnh hưởng tới việc giảng dạy và học tập văn chương thời trung đại ở bậc phổ thông. Trong cuốn “Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp” được giới thiệu là “Sách dùng cho sinh viên ngữ văn và giáo viên ngữ văn phổ thông”, tác giả có lưu ý tới một vài ý kiến về thơ của Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Cao Bá Quát, Nguyễn Trãi, Trần Nhân Tông, Nguyễn Cư Trinh, Ngô Thì Sỹ [44, 18]. Đó là điều đáng ghi nhận. Nhưng ngoài những sơ sót không nên có (như câu của Cao Bá Quát là trong lời Bạt tập thơ chứ không phải trong tập thơ “Thương Sơn công thi tập”), theo chúng tôi, trích dẫn như thế chưa thể coi là “hơi nhiều”, nhất là lại nhằm khẳng định “dân tộc ta quả đã có một nền thi thoại”, đúc rút được nhiều ý kiến và kinh nghiệm quý về nghệ thuật sáng tác loại hình đặc biệt này [44, 18]. Đấy là chưa nói trong nội dung của cuốn sách, tác giả không hề phân tích những quan niệm thơ cổ đã tác động ra sao tới việc phân tích, thẩm bình thơ về mặt thi pháp.

Trở lên trên là ý nghĩa khoa học và đào tạo của vấn đề nghiên cứu. Đề tài còn có ý nghĩa thực tiễn. Dễ thấy văn chương hiện đại nước ta đang trong giai đoạn chuyển mình. Một trong những dấu hiệu đồng thời là biểu hiện của tính giao thời là ở chỗ các thể nghiệm văn chương, đặc biệt là thể nghiệm thi ca đang có xu hướng mở rộng. Đó là lẽ bình thường. Tìm tòi, tự đổi mới trong nghệ thuật là đúng và cần, nhằm làm cho văn chương và nói riêng là thi ca ngày càng đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ của thế hệ công chúng mới. Tuy hiện trạng còn ngổn ngang nhiều điều bất ổn, như đã xuất hiện xu hướng quá chú trọng tới tu sức hình thức, ngôn từ trong thơ. Nhiều cây bút, theo Vũ Quần Phương, thiên về việc “thể nghiệm ngôn từ” trong khi “nội dung bí hiểm, tự đánh mất độc giả”. Họ muốn học Xuân thu nhã tập. Nhưng, cũng theo lời Vũ Quần Phương, thật ra kinh nghiệm của trường phái này là “một kinh nghiệm phủ nhận chính nó” (Báo Văn nghệ - Số 47/1995).

Trước tình trạng này, nếu có điều kiện trở về với các ý kiếncủa các văn nhân học giả xưa thì vấn đề sẽ được phần nào tháo gỡ. Chất và văn, ý và lời luôn là những cặp phạm trù song hành trong những lời bàn của người xưa về thơ. Trong bài thuyết “Liên hạ thi minh”, Ngô Thì Nhậm coi việc “chỉ chăm chắm vào việc ăn cắp văn tự” là việc làm của “hạng người nhỏ mọn” [44, 225]. Theo ông, thi ca đích thực “đâu phải việc tranh hơn từng chữ từng vần” [44, 226]. Tình ý trong thơ đã được Ngô Thì Nhậm đặc biệt coi trọng. Tuy ông không rơi vào thái cực khác: Xem thường vai trò của các yếu tố hình thức trong thơ. Cũng trong bài viết trên, Ngô Thì Nhậm hết lời ca ngợi Ly tao “lời bén bút sắc, tranh đẹp đua tươi” có “cái lạ của một chữ, cái khéo của một vần” [44, 225]. Ông còn chân tình giãi bày rằng ông củng “thi xã” đã sáng tác các bài thơ “Liên hạ thi minh” từ lâu, “nhưng bởi bận việc thôi sao, nên chưa kịp đóng thành tập” [44, 226].

Có người lập luận đó là thứ thơ răn người, sửa đời của các bậc danh nho, thứ “văn học có hình thức đẹp chính là để phục vụ cho nội dung hay” (Đinh Gia Khánh) nên không thể không nhấn mạnh tới nội dung. Tuy nhiên, ngay cả những người ít nổi tiếng hơn cũng không chủ trương thứ thi ca duy mỹ. Đỗ Hạ Xuyên viết: “Thơ là tiếng nói của trái tim, trái tim chưa đủ thì biểu hiện ra lời, lời chưa đủ thì biểu hiện ra thơ... còn như sự sửa lời nắn điệu, tranh lạ đấu kỳ, bị coi là cái học thấp kém” [17, 245]. Không ai muốn là những người bảo thủ hay phục cổ. Có điều, những thử nghiệm đi ra ngoài giới hạn của thi ca chân chính chắc chỉ đưa đến ngõ cụt. Nhà thơ Nga đương đại Iuri Lêvitanxki nói rất đúng rằng: “Phải, thơ cần tự do. Nhưng có hai điều nó không thể tự do: nó không thể tự do khỏi chính bản thân nó, và khỏi thế giới” (Báo Văn nghệ - Số 44/1995). Muốn không ra “khỏi thế giới”, thơ không thể sa vào vũng bùn của chủ nghĩa hình thức.

Đó là về sáng tác. Trên lĩnh vực phê bình thơ sôi động như hiện nay chưa phải đã hết những điều đáng băn khoăn. Câu nói của Nguyễn Hàm Ninh ở thế kỷ trước hoàn toàn sát hợp với tình hình phê bình thơ hiện giờ. “Câu chuyện thơ càng ngày càng lắm tác giả” [17, 73]. Lối phê bình “quy chụp” đã lùi xa vào dĩ vãng. Nhưng đã xuất hiện những thiên lệch mới đáng được báo động vì chúng bất lợi cho sáng tác của nhà thơ và cho định hướng thẩm mỹ của bạn đọc. Có nhiều bài phê bình quá “kinh viện”, quá “học đường” của những cây bút đạo mạo ít chất sống của đời sống văn chương. Lại có không ít bài phê bình, thường của các nhà thơ, lại quá phóng túng, quá bay bướm. Nếu đọc lại ý kiến về phê bình của người xưa chắc giới phê bình hiện nay sẽ nhận được nhiều bài học bổ ích. Ngô Thì Hoàng viết: “Đạo bàn luận, nếu quá buông tuồng thì hóa ra phóng túng, nếu quá câu nệ thì hóa ra gò gẫm. Ở trong khuôn khổ thỉnh thoảng cũng phải ra khỏi lối mòn” [41, 80].

Từ nhiều góc độ khác nhau, có thể dễ dàng khẳng định giá trị những ý kiến được đúc rút từ vốn đời, từ sức học, sức đọc đáng kinh ngạc của cha ông ta ngày trước.

 

*

*          *

 

Việc khảo cứu di sản văn chương thời trung đại Việt Nam liên quan chặt chẽ với khoa văn bản học Hán Nôm. Đúng như quan niệm của nhà nghiên cứu người Nga Nhitraêva: “Văn bản học trong ý nghĩa đầu tiên của nó là cơ sở cho tất cả các bộ môn nghiên cứu văn học. Những công trình nghiên cứu văn bản chuẩn bị cho việc nghiên cứu về mặt lịch sử văn học, dọn đường cho nó” [36, 62]. Quy luật này có tính phổ quát trong nghiên cứu văn chương trung đại Việt Nam ở những vấn đề chung cũng như những vấn đề cụ thể. Mai Quốc Liên coi việc “phát hiện” ra Ngô Thì Nhậm với tư cách là một tác gia văn chương bắt đầu “từ việc tìm tòi” trong kho Hán Nôm “những văn bản tuyệt diệu” đồng thời cũng là những văn bản dễ là nản lòng vì sự phức tạp của nó [36, 10].

Có thể xem công việc sưu tầm, hiệu đính, chú giải các tư liệu liên quan tới các ý kiến của các văn nhân học giả thời xưa trực tiếp bàn luận về văn thơ chính thức được khởi đầu vào năm 1962 khi Nhà xuất bản Văn hóa lần đầu tiên cho công bố bản dịch bộ sách “Vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn. Ngay sau đó, Tạp chí Văn học (Số 12/1963) cho đăng tải một loạt ý kiến về văn thơ của một số tác giả ở hai thế kỷ XVIII và XIX như Nguyễn Cư Trinh, Lý Văn Phức, Phan Thanh Giản, Nhữ Bá Sỹ, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Ngô Thế Vinh, Miên Thẩm... do nhà Hán học Nguyễn Đức Vân sưu tập và trực tiếp dịch. Năm năm sau, vẫn trên Tạp chí Văn học (Số 9/1968) cụ lại cho công bố thêm ý kiến của một số tác giả khác ở các thế kỷ trước đó như: Lý Tử Tấn, Hoàng Đức Lương, Lê Hữu Kiều, Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Ngô Thì Nhậm...

Từ năm 1973 trở đi, theo hướng của cụ Nguyễn Đức Vân, các tạp chí Văn học, Nghiên cứu nghệ thuật, Tác phẩm mới cho in một loạt những ý kiến hoặc những bài viết bàn về văn thơ của các tác giả đời trước. Đặc biệt vào những năm 1982, Nhà xuất bản Tác phẩm mới cho in cuốn “Từ trong di sản...” tập hợp khá phong phú ý kiến bàn về văn chương chủ yếu của các bậc học rộng đỗ cao từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX ở nước ta. Có trong tập sách là các ý kiến của hầu hết các tên tuổi lớn thuộc các thế kỷ như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Sỹ, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Chú, Bùi Huy Bích, Nguyễn Du, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát...

Cũng cần phải kể đến công lao to lớn của soạn giả các bộ Nguyễn Trãi toàn tập (Nxb Khoa học xã hội – 1976), Nguyễn Du toàn tập (Nxb Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học – 1995), các bộ tuyển tập thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu (Nxb Văn học – 1963), Phan Bội Châu (Nxb Văn học – 1967), Nguyễn Quang Bích (Nxb Văn học – 1973), Ngô Thì Nhậm (Hai tập, Nxb Khoa học xã hội – 1978), Nguyễn Khuyến (Nxb Văn học – 1979), Nguyễn Công Trứ (Nxb Văn học – 1983), Cao Bá Quát (Nxb Văn học – 1984)... Trong những công trình này, các soạn giả không những đã lưu tâm thu thập các tư liệu có liên quan tới việc tìm hiểu quan niệm thơ văn của các tác giả thời trước mà còn có công hiệu đính, chú giải văn bản một cách tỉ mỉ và khoa học.

Công trình sưu tập, biên dịch đáng kể nhất vào thời gian gần đây là liên quan đến việc tìm hiểu quan niệm thơ cổ là tập sách “Người xưa bàn về văn chương” (Tập I) của Giáo sư Đỗ Văn Hỷ có ý nghĩa trên nhiều phương diện. Trước hết nó làm sáng rõ, phong phú thêm nguồn tư liệu giúp việc nghiên cứu quan niệm thơ cổ vốn còn chưa thật tập trung và giàu có. Nguồn tư liệu này càng quý giá hơn bởi tính khoa học được nâng cao của công trình với ý thức: “Để người đọc hiểu rõ những quan niệm cụ thể được viết ra trong những hoàn cảnh cụ thể, các bài văn sẽ được dịch trọn vẹn... Riêng những bài bàn về quan điểm thơ lại viết bằng thơ, để tránh hiện tượng “bào mòn” hay “xuyên tạc” trong lúc dịch, và nó lại ràng buộc bởi vần luật và số chữ trong câu thơ, nên các bài thơ được dịch theo thể văn xuôi” [18, 2]. Sau nữa, và điều này rất đánh được ghi nhận, cuốn sách giúp chúng ta tiếp xúc với nhiều ý kiến của nhiều nhà nho danh vị thấp, tiếng tăm ít như: Vũ Trọng Đại, Đỗ Tuấn Đại, Ngô Cương Mạnh Đoan, Trần Cao Đệ, Trần Bá Kiên, Ngô Quý Đồng... Thậm chí có một số văn bản trong tập sách còn chưa xác định được tác giả. Lời bàn của những người này thường “phi chính thống”, hồn nhiên và chân thực, nên giúp chúng ta ngày nay có thêm sơ sở gây dựng lại một cách xác thực và khoa học hơn quan niệm văn chương và nói riêng là quan niệm thi ca thời trung đại ở nước ta.

Cùng với quá trình phát hiện các tư liệu nói trên là việc bước đầu nghiên cứu, phân tích, đánh giá, lý giải quan niệm thơ cổ Việt Nam. Ở đây, cần phải chú ý đúng mức tới các công trình nghiên cứu lịch sử văn chương và lý luận văn chương thời trung đại. Trong khi bàn về những vấn đề chung hay những vấn đề của từng giai đoạn, từng tác giả, các nhà nghiên cứu đều ít nhiều đề cập tới quan niệm thơ của các thi nhân, học giả xưa, bời vì thơ là một thể tài luôn giữ một vị trí đặc biệt trong sáng tác của các nhà nho thời trước. Ví như, trong công trình “Ngô Thì Nhậm trong văn học Tây Sơn”, Giáo sứ Mai Quốc Liên đã trình bày quan niệm thơ của Ngô Thì Sỹ và nhất là của Ngô Thì Nhậm. Chương “Một vài vấn đề thi pháp tác phẩm của Ngô Thì Nhậm” của chuyên luận đã góp phần khẳng định mặt tích cực trong quan niệm thi ca của tác giả quan trọng vào bậc nhất của Ngô gia văn phái này. Mai Quốc Liên viết: “... Ngô Thì Nhậm đã có những quan điểm và sáng tác nghệ thuật tiến bộ. Ông chống lại sự “quá cầu kỳ... sa vào giả dối, quá trau chuốt sa vào xảo trá” “chỗ thần diệu của thơ là cốt ở tấm lòng để hiểu lòng mà thôi”. Ông tán thành quan niệm thơ của Phan Huy Ích: “Hãy xúc động hồn thơ để gọi bút có thần”” [36, 180]. Giao sư đồng thời không quên những hạn chế lịch sử và giai cấp tất yếu trong quan niệm thơ của Ngô Thì Nhậm: “Quan niệm “văn dĩ tải đạo”... đã được Ngô Thì Nhậm nhấn mạnh: “Thơ là để vịnh lời, lời là để chở đạo, đạo là trung hiếu vậy” (Cẩm đường thi tập tự)” [36, 169]. Đặc biệt, tác giả “Ngô Thì Nhậm trong văn học Tây Sơn” đã kết hợp được cái nhìn lệch đại và đồng đại khi phân tích quan niệm thơ của thời trung đại. Giáo sư viết: “Nếu như trước đó hai thế kỷ, Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613) khuyên học trò mình “phải đi theo cổ nhân từng bước, từng bước một, lấy họ làm mẫu mực” thì ở thế kỷ này Lê Quý Đôn lại viết: “Người xưa nói: làm thơ, làm văn, dù nhiều chỉ sợ không hóa”, ý bảo đem lời và ý của cổ nhân mà đúc kết luyện lại cho mới; chứ đừng bắt chước theo lối cũ” [36, 179].

Trong cuốn “Tìm hiểu văn học”, khi trở về cội nguồn di sản lý luận văn chương dân tộc, ở những vấn đề cụ thể, tác giả Lê Đình Kỵ thường trở về với quan điểm thơ. Đi vào một hiện tượng tiêu biểu là Lê Quý Đôn, nhà nghiên cứu không quên nhắc tới câu nói nổi tiếng: “Làm thơ có ba điều chính: một là tình, hai là cảnh, ba là sự”, rồi bình luận: “cảnh chủ yếu là thiên nhiên, ngoại vật; sự chủ yếu là chuyện con người, chuyện xã hội; tình là do “cảnh” và “sự” tác động vào con người mà sinh ra vậy. Có lẽ vì là thơ nên Lê Quý Đôn không nói đến ý, nhưng chúng ta có thể hiểu là trong tình đã hàm ý rồi... Cái cấu trúc tình, ý, cảnh, sự là cơ sở cho hình thành Văn nghệ...” [30, 327]. Giáo sư Lê Đình Kỵ đồng thời bàn đến quan niệm thơ khi đi vào vấn đề có tính nguyên lý chung: “Nổi bật lên trong tư tưởng văn nghệ của cha ông là là quan điểm “văn dĩ tải đạo”, “thi ngôn chí”. Đạo ở đây không chỉ là đạo đức theo quan điểm Nho giáo, mà còn là điều thiện, là thế đạo nhân tâm, là đạo làm người nói chung; chí là chí hướng, là tấm lòng, là điều mình ôm ấp, mong ước, nhưng chí phải từ “tâm” mà ra” [30, 336].

Tiểu luận “Từ trong di sản... Mấy điều thu hoạch” của Nguyễn Minh Tấn cũng đã dành nhiều đoạn bàn về nguyên lý “Thi ngôn chí”. Nguyễn Minh Tấn cho rằng: “Quan niệm “thi ngôn chí” có thể được các nhà văn, nhà nho nước ta vận dụng muộn hơn là “văn dĩ tải đạo”. Nhưng, như chúng tôi nghĩ, Thi ngôn chí đã góp phần tạo nên khuôn mặt độc đáo của văn học Việt Nam xưa, được các cụ ta vận dụng uyển chuyển, tâm đắc hơn là “văn dĩ tải đạo”” [41, 237]. Vì sao có thể nói như vậy? Tác giả lý giải: “Thi ngôn chí là tiếng nói chân tình, là tâm hồn, tình cảm của người viết” [41, 237]. Nguyễn Minh Tấn còn góp phần giải thích: Thế nào là chí trong Thi dĩ ngôn chí? “Chí có nhiều nội dung rất khác nhau. Chí của nhà thơ hướng về đâu thì Chí mang nội dung đó” [41, 238]. Đi xa hơn, tác giả viết: “Gắn với chí là tâm và tình. Tâm và tình vừa là điểm xuất phát vừa là mục tiêu của chí”, “Tâm và tình là động lực trong lòng nhà thơ do tác động từ bên ngoài khơi dậy cảm hứng của nhà thơ. Cuộc sống đã gợi ý cho nhà thơ, hướng cái chí nhà thơ về nơi đó” [41, 239].

Trong chuyên luận “Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam”, Nguyễn Bá Thành cũng đã lưu ý phân tích quan niệm “thi ngôn chí” của các nhà nho xưa. Tác giả cho rằng với Thi ngôn chí thì “mục đích của thơ không phải là “nhận thức và phản ánh hiện thực”, mà là để bộc lộ cái ý chí, tình cảm của con người. Cái chí đó cũng tức là cái tâm, cái hồn, cái phong cốt của mỗi con người. Theo quan niệm “thi dĩ ngôn chí” thì tư duy thơ thiên về hướng nội” [38, 37-38]. Tác giả đồng thời lưu ý: “Thơ là để nói chí hướng, nhưng không phải là cái chí hướng chung của mọi lớp người, mà chỉ là ý chí, tình cảm của một lớp nho sỹ trí thức... những người quân tử, những vị quý tộc, các bậc vua chúa, những người học hành đỗ đạt cao” [38, 38]. Vậy là nội dung “chí” trong “thi ngôn chí”, theo tác giả, bị quy định bởi tính chất giai cấp sâu sắc. Đánh giá chung về nguyên lý “thi ngôn chí”, Nguyễn Bá Thành viết: “Quan niệm thi dĩ ngôn chí đã mang một ý nghĩa tiến bộ ở chỗ coi thơ là sản phẩm tinh thần gắn liền với chủ thể sáng tạo... Nhưng do những nguên tắc có tính đạo lý chi phối mạnh... nên tư duy thơ cổ không vận động được tự do hoàn toàn” [38, 40-41].

Trên thực tế chỉ có hai bài chuyên tìm hiểu về quan niệm thơ là:

-     Thử tìm hiểu quan niệm “thi ngôn chí” của nhà Nho (Trần Lê Sáng – Tạp chí Văn học, Số 1/1973).

-     Thơ với nhà thơ Lê Quý Đôn (Đỗ Văn Hỷ - Tạp chí Văn học, Số 6/1984).

Trong bài “Thử tìm hiểu quan niệm “thi ngôn chí” của nhà Nho”, Trần Lê Sáng cho rằng, đây là một nguyên tắc “chi phối hết sức sâu sắc hoạt động làm thơ và phê bình thơ của dòng thơ chịu ảnh hưởng Nho giáo”. Tuy nhiên, nội dung của nguyên lý chung này lại “không cụ thể” nên “hầu như nhà Nho ở mỗi nước, mỗi thời kỳ hoặc mỗi trường phái khác nhau đều có thể có những quan niệm khác nhau”. Muốn làm sáng tỏ quan niệm “thi ngôn chí” của các nhà Nho nước ta, theo tác giả, cần phải ngược trở về nguồn gốc quan niệm “thi ngôn chí” cũng như nội dung quan niệm “thi ngôn chí” từ bên Trung Quốc.

Về nguồn gốc của quan niệm, tác giả đã chứng minh nguyên lý “thi ngôn chí” mặc dầu được nhiều người dẫn ra từ phần “Thuấn điển” (Kinh thư) và phần “Nhạc ký” (Lễ ký) – những tác phẩm được các nhà nghiên cứu xác định được viết từ thời Tây Hán về sau, nhưng quan niệm này “chắc chắn có trước thời Tây Hán”. Trần Lê Sáng có nêu ra câu “thi dĩ ngôn chí” trong Tả truyện, câu “thi dĩ đạo chí” trong Trang Tử, câu “thi ngôn thi kỳ chí dã” trong Tuân Tử, nghĩa là những tác phẩm có trước thời Tây Hán đến mấy thế ký.

Về quan niệm của các nhà Nho Trung Quốc, tác giả nhận thấy ngày nay ta từng hiểu “thơ nói chí” “từ phương diện nhiệm vụ của thơ”, trong khi quan niệm cổ nhất về ba chữ “thi ngôn chí” lại “từ phương diện định nghĩa thơ”. Thơ là gì? “Thơ là chí”. Vấn đề cần đặt ra: Vậy chí là gì? Về vấn đề này, theo tác giả, ý kiến của các nhà Nho “rất phong phú, rất tỉ mỉ, khó ai có thể tường thuật hết”, nhưng trên đại thể chia làm ba loại ý kiến lớn: Loại thứ nhất chủ trương “chí” là “đạo” (ở đây là “đạo Nho”); Loại thứ hai chủ trương “chí” là “tình”. “Thơ nói chí” tức “thơ ghi tình” và loại thứ ba chủ trương “chí” bao gồm cả “tình” lẫn “đạo”.

Sau đó, Trần Lê Sáng dành phần lớn tiểu luận tìm hiểu “thơ nói chí” của các nhà Nho nước ta. “Thi ngôn chí” đã là chữ của kinh điển Nho gia nên các nhà Nho Việt Nam “phải biết đến, phải suy nghĩ và vận dụng” nó trong sáng tác và bàn luận văn chương nói chung, thi ca nói riêng. Nhưng có một điểm dễ nhận thấy là thơ (và đi liền với nó là quan niệm thơ) của nước nào cũng vậy, “đều bị chi phối bởi hoàn cảnh cụ thể của nước đó”. Từ đây tác giả khẳng định “chí” trong quan niệm “thi ngôn chí” ở các nhà Nho Việt Nam có 3 nghĩa chính: Thứ nhất: “chí” là “chí khí giết giặc”; thứ hai:thứ ba: “chí” được hiểu là tình cảm của nhà thơ. Phần kết luận, tác giả đồng thời lưu ý: “Tất nhiên giữa ba mặt này vẫn có mối qhan hệ gắn bó, nhưng trong từng thời kỳ, hoặc trong từng nhóm nhà thơ vẫn có mặt này hoặc mặt khác nổi lên rõ hơn. Đồng thời, từ nội dung cơ bản của mỗi mặt trong quan niệm “thơ nói chí”, nó còn được phát triển thành từng quan niệm nhỏ hơn, từ quan niệm nhỏ hơn đó, nhà Nho nước ta đã đem ứng dụng cụ thể vào sáng tác hoặc lý luận về thơ”. “chí” là “chí hướng Thánh Hiền”;

Nếu Trần Lê Sáng đi vào vấn đề trọng điểm thì Đỗ Văn Hỷ đi vào tác giả tiêu biểu. Giáo sư Đỗ Văn Hỷ đã tìm hiểu “Thơ với nhà thơ Lê Quý Đôn” nhắm phát hiện ra “cái nhìn rất tinh tế về thơ” của nhà lý luận thi ca lớn vào bậc nhất trong quá khứ. Giáo sư tập trung nghiên cứu thiên Văn nghệ trong “Vân đài loại ngữ” của nhà bác học Lê Quý Đôn.

Trước khi đi vào những luận điểm qua trải nghiệm của Lê Quý Đôn, Đỗ Văn Hỷ đã nêu lên những quan niệm khác nhau về thơ của các học giả và thi nhân Trung Hoa xưa mà Lê Quý Đôn có điều kiện tiếp xúc. Đó là quan niệm về “năm cái tục” và “ba cái đến” của Giải Tấn đời Minh, về “bốn cái không”, “bốn cái sâu”, “hai điều bỏ”, “hai điều xa lìa”, “sáu điều rất mực” và “bảy đức” của Hạo Nhiên đời Đường, “hai mươi bốn phẩm chất thơ” của Tư Không Đồ; “năm điều”, “chín phẩm chất thơ”, “ba công dụng”, “hai điều đại cương” và “mười bốn điều” trong phép làm thơ của Hứa Ngạn Chu. Sau đó, tác giả tập trung phân tích luận điểm của Lê Quý Đôn về ba điều cốt yếu trong sáng tác thơ: một là tình, hai là cảnh, ba là sự. Đỗ Văn Hỷ muốn chứng minh sư tương quan giữa ba điều trên, đặc biệt muốn biện giải “quá trình thai nghén tác phẩm và cái gì là tiền đề cho quá trình thai nghén đó”. Từ sự gặp gỡ giữa yếu tố bên ngoài (cảnh) và yếu tố bên trong (tình), tác giả đi tới khái niệm “ý tượng” văn học theo cách gọi của các nhà nghiên cứu văn chương ngày nay mà thời xưa Lê Quý Đôn gọi nó là sự: “Nói chung tình là người, cảnh la trời, sự là phối hợp trời và người mà xâu chuỗi lại”. Tác giả đã dừng lại phân tích “ý tượng” thơ nảy sinh trong bài thơ “Bài ca người con gái chơi đàn ở Long Thành”. Từ tất cả những gì đã nêu ở trên, Đỗ Văn Hỷ đi tới kết luận: “để phê phán một quan niệm sai lầm: cái hay của thơ là ở mặt hình thức của một số nhà thơ Trung Hoa thời trước, Lê Quý Đôn đã đưa ra một quan niệm mà chính ông thể nghiệm... Đây là một cống hiến tương đối lớn lao của Lê Quý Đôn đối với nền lý luận thơ ca của nước ta thời quá khứ”.

Có thể thấy các nhà nghiên cứu đã gắng phát hiện ra những quan niệm chung về thơ của người xưa qua các trọng điểm vấn đề và tác giả khá tiêu biểu. Tuy nhiên, trong thực tế, đó chưa phải là tất cả mọi vấn đề trong lý luận thơ cổ.

Từ hai trường hợp vừa nêu, nhìn vào hiện trạng nghiên cứu nội dung quan niệm thơ cổ Việt Nam (rộng ra là quan niệm văn chương cổ Việt Nam nói chung) ta thấy nổi cộm lên hai vấn đề sau:

1.    Mối quan hệ giữa quan niệm thơ cổ Việt Nam với di sản tư tưởng Trung Hoa thời cổ đại

2.    Việc sử dụng tư duy hiện đại ra sao khi nghiên cứu quan niệm cổ xưa

Về vấn đề thứ nhất, đã tồn tại hai khuynh hướng đối lập nhau:

-     Một số nhà nghiên cứu, tiêu biểu là Giáo sư Phương Lựu, cho rằng quan niệm văn chương cổ (trong đó có quan niệm thi ca cổ) chủ yếu phản ánh điều kiện tự nhiên, lịch sử và xã hội của nước ta. Giáo sư viết: “Hệ thống quan niệm văn chương cổ Việt Nam phải được xét trước hết như một bộ phận trong sự chi phối của bản chất lịch sử của xã hội Việt Nam, lịch sử tư tưởng Việt Nam, và trong sự tác động qua lai với thực tiễn sáng tác văn chương Việt Nam” [49, 35].

-     Một số nhà nghiên cứu khác, đại diện là Giáo sư Trần Đình Hựu, lại chủ trương lý luận văn chương cổ (trong đó có lý luận thơ cổ) của dân tộc không thoát khỏi vòng ảnh hưởng sâu đậm của các học thuyết tư tưởng Trung Hoa, rõ nhất là Nho giáo. Giáo sư Trần Đình Hựu cho rằng: “Văn học là sản phẩm của cuộc sống, chịu sự quy định của thể chế kinh tế, chính trị, xã hội, nhưng trực tiếp với nó hơn nữa là đời sống văn học, là quan niệm văn học, là lý tưởng thẩm mỹ, tất cả đều gắn bó với ý thức hệ. Ở các nước Đông Á, trong thời gian dài, Nho giáo, Phật giáo và các tư tưởng Lão – Trang thống trị đời sống tinh thần cùng nhau tác động vào văn học... Có ảnh hưởng nhất là Nho giáo” [48, 80-81]. Giáo sư không phủ nhận sự quy định của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam tới quan niệm văn chương, nhưng tác động chính vẫn là ý thức hệ có nguồn gốc từ Trung Quốc.

Thật ra, nếu tránh thiên lệch, nếu kết hợp cả hai cách nhìn, ta sẽ có điều kiện tiếp cận gần hơn với chân lý.

Cũng nảy sinh hai thiên hướng trái ngược khi giải quyết vấn đề thứ hai:

-     Khuynh hướng tạm gọi là “hiện đại” quan niệm thơ cổ, dễ thấy trong các công trình nghiên cứu của Giáo sư Phương Lựu. Giáo sư đã đề cập tới “Quan niệm văn chương yêu nước và tự hào dân tộc”, “Quan niệm văn chương hiện thực và nhân dân”... bởi Giáo sư cho rằng: “Nếu phát hiện được nội dung đích thực về một quan niệm nào đó, cho dù chưa có sẵn công thức nào để mệnh danh, thì hoàn toàn có thể đặt thêm tên cho nó” [49, 36].

-     Khuynh hướng khác, tạm gọi là “phục chế” quan niệm thơ xưa, được Giáo sư Trần Đình Hựu và một số đồng sự của ông kiên trì bảo vệ và tuân thủ. Để tránh gượng ép, Giáo sư “nắm bắt đúng cái mà trước đây tác giả cảm nghĩ, phát hiện đúng cái đẹp mà tác giả theo đuổi” [48, 82-83], gắng tiếp cận với “cái hình dung của họ” [48, 17]. Bởi vì Giáo sư quan niệm: “Có sự khác biệt khá lớn giữa cách nghĩ thời đó với cách nghĩ của chúng ta ngày nay” [48, 17].

Rõ ràng, tính khách quan khoa học đòi hỏi rất cao về sự “nguyên dạng”, tính xác thực khi tìm hiểu quan niệm thơ thời trung cổ. Người nghiên cứu gắng nhìn bằng con mắt của người xưa, nghĩ bằng cái đầu của người xưa nếu muốn xây dựng lý luận thơ ca đích thực của người xưa. Không thế, dễ mắc phải căn bệnh “trùng ngôn” (nghĩa là lời ấy, việc ấy, không phải của người xưa nhưng đặt ra rồi gán cho họ). A. Gurevich từ phương châm “phương pháp nghiên cứu đối tượng phải xuất phát từ đặc trưng của đối tượng” [20, 16] đã xác định rất rõ khuynh hướng nghiên cứu này. Giáo sư vừa thừa nhận: “Nhận thức lịch sử bao giờ cũng là một sự tự nhận thức... Chúng ta dễ lấy những thước đo của ta để đo những thời đại và những nền văn minh khác” [20, 7], vừa xác định: “Cố gắng phục chế lại bộ mặt tinh thần của con người trung cổ” [20, 5], khi: “chúng ta không thể không xem xét quá khứ với nhiều tiêu chuẩn tương xứng với nó” [20, 8]. Nói thế không có nghĩa ta khước từ phương pháp và tư duy hiện đại. Theo chúng tôi, vừa ôn cũ để hiểu mới, lại vừa từ mới để hiểu cũ. Nếu không, ta sẽ tự trói buộc mình, khiến công trình nghiên cứu khó vươn tới tầm cao thời đại cho phép.

Một điểm cần lưu ý khác là khi đi sâu khai thác vốn lý luận cổ, các nhà nghiên cứu ít chú trọng phát hiện cách trình bày ý kiến của người xưa. Nhà nghiên cứu có nhắc tới bản sắc những lời bàn của cổ nhân là Giáo sư Lê Đình Kỵ. Trong cuốn “Tìm hiểu văn học”, Giáo sư viết: “Trên những vấn đề cơ bản nhất, có những ý kiến khiến chúng ta càng sung sướng, cảm động không những gần gũi với chúng ta mà còn được diễn đạt một cách thật độc đáo, với một dáng vẻ riêng, một hương vị chỉ người xưa mới có được, do đó mà gợi cảm gợi nghĩ” (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1984 – tr. 325). Đáng tiếc, vì không coi là mục đích chính nên Giáo sư chỉ mới xới vấn đề lên mà không đi sâu bàn luận cụ thể.

Comments