Cái thần của thơ

Tác phẩm thơ lớn nào xưa nay đều vậy: Giúp soi sáng bao điều trong cuộc sống vốn sôi động và đa dạng. Tựa như Phan Phu Tiên nhận xét về thơ Hán, Đường, Tống bên Trung Quốc: “Có thể xem thịnh suy của thơ mà bình sự được mất của đời” [41, 21]. Cố nhiên, mối quan hệ giữa đời và thơ không phải lúc nào cũng cùng chiều. Nhưng hình bóng của cuộc đời trong thơ thì cách này cách khác đều có thể nhận ra.

 

Được vậy không phải tình cờ. Người xưa khi dụng bút thường không quên đời, quên người. Nguyễn Hành ví tiếng thơ như tiếng chim cuốc kêu: “Tiếng kêu của chim như thế nào, âu cũng có nguyên do của nó” [41, 145]. Mà nguyên do của tiếng kêu thảm thiết, khắc khoải của chim cuốc thì ai cũng rõ. Đó là tư duy luận lý. Bằng hình thức thơ, Miên Thẩm viết: Rót nước bên núi xanh gọi Lý Bạch dậy/ Ông hãy vì tôi lại rung cây bút khỏe viết bài trường ca [17, 87].

 

Người làm thơ, khi hứng tới, phải gọi Lý Bạch – bậc thi Tiên. Tuy muốn có “cây bút khỏe” để “viết bài trường ca” nhà thơ đã không quên “rót nước bên núi xanh”. Cái nhìn hiện thực thấm nhuần từ bên trong hồn thơ đến độ có thể xem là nhuần nhuyễn.

 

Từ đó, không lấy làm lạ, khi Ngô Thì Nhậm cùng các bạn hữu của ông khuyên nhau “gắng sức bám vào cái thực” [17, 135]. Mà muốn thế phải chú trọng “công phu tại thi ngoại”, phải học ở nơi “hữu tự thư” (sách có chữ), đồng thời cả ở nơi “vô tự thư” (sách không chữ). Bằng sự so sánh xác đáng, Nguyễn Dưỡng Hạo ví mối quan hệ của nhà thơ với cuộc đời như mối quan hệ giữa Trúc với Gió: “Trúc không có ý với Gió, nhưng Gió đến thì Trúc động và sinh ra tiếng; lòng không dụng vật, nhưng vật tiếp thì lòng cảm mà thành thơ” [41, 51]. Tiếng trúc sở dĩ phát ra là bởi vừa có Trúc vừa có Gió. Trúc và Gió lại muôn hình vạn trạng nên tiếng trúc, tiếng thơ nhơ thế không đơn điệu thuần nhất.

 

Đáng nói là có lời thơ “trung thực” lại có lời thơ “bẻ quẹo sự thực” (Miên Trinh) [17, 219], có lời thơ “lột tả cảnh sắc của cảnh... bóc trần thần thái của người” (Vô danh) [17, 242], lại có lời thơ hời hợt mon men bên ngoài hiện tượng. Chính ở đây vai trò chủ quan của nhà thơ được khẳng định. Không nên quên muôn vật, muôn cảnh, muôn người danh “chung” mà thực “khác”. “Vật” và “lý”, nói theo Trần Cao Đệ, “tự nó có điều khinh trọng khác nhau” [17, 233]. Qua “vật” thấu “lý”, chọn “vật” bộc lộ rõ “lý”, cần con mắt sáng thấu suốt được “cái thực” nhằm đạt tới “cái thần”. Ý nghĩa của thi ca cao thấp phần nào tùy thuộc ở đó. Nguyễn Văn Siêu viết: “Sự ghi chép của người xưa, cũng như một bức vẽ, chỉ mô tả hình đáng bề ngoài, mà không nắm được cái thần... thì nó ít khi giữ được điều chân thực” [41, 128]. Có ai cầm bút lại không nhằm đạt tới một chữ “chân”. “Chân” là chân thành, chân tình. “Chân” còn là chân thực, chân thật. Cả hai ý nghĩa của từ “chân” gắn bó với nhau. Tuy nghĩa đầu nghiêng về chủ thể còn nghĩa sau thì nghiêng về khách thể.

 

Bàn về mối quan hệ giữa thi ca và đời thực không phải không tồn tại những quan niệm thô thiển, máy móc. Ví như trường hợp Lê Thúc Hoạch. Trong lời Tựa tập “Nông sự toàn đồ”, ông cho rằng đây là tập thơ “có ích rộng lắm”. Vì sao? Ông viết: “Muốn tìm hiểu được rõ ràng và dễ hiểu, xem được đầu cuối các việc nhà nông... không đầu bằng tập họa và thơ này” [5, 150]. Thơ không có chức năng tìm hiểu đầy đủ, cụ thể “đầu cuối” hiện thực. Ngay cái “rõ ràng”, “dễ hiểu” của sự, việc và người trong thơ cũng không giống với đời thực. Nên việc đối chiếu hiện thực thi ca với hiện thực đời sống không phải bao giờ cũng đem lại kết quả mong muốn, vì không phải bao giờ cũng phù hợp với quy luật sáng tạo nghệ thuật.

 

Cùng viết về tập “Nông sự toàn đồ”, nhưng cái nhìn của Cao Xuân Dục sáng suốt hơn vì vậy thuyết phục hơn nhiều. Trong lời Tựa tập thơ, Cao Xuân Dục có thuật lại cuộc đối thoại giữa ông với người môn sinh. Vị môn sinh băn khoăn vì tập sách hoặc “chỉ thuật sự vinh hạnh được người biết đến, sự vui theo lẽ trời; hoặc chỉ ca ngợi sự vẹn toàn của danh tiếng và phúc phận; sự khuyên răn về xử thế, còn về việc nông thì nhiều chỗ không nói đến, vậy đặt tên sách là “Thoại nông lục”, đúng chăng?” [1, 149]. Cao Xuân Dục đã lấy nghĩa “mnih nông” đễ trả lời: “Những bài thơ trong tập sách này, từ việc xướng họa, ăn uống, đều từ trong phạm vi việc nông mà viết ra; ý thái, tinh thần của của những bài thơ ấy thu được nết bút, lời nói của những bậc văn chương tao nhã lộ ra, bởi vậy gọi là tập thơ bàn về nghề nông cũng được; gọi là tập thơ dạy về nghề nông hay tập thơ ra sức làm nghề nông cũng không có gì không được” [1, 149]. Cái quan trọng trong thơ là ở “ý thái, tinh thần” của hiện thực “lộ ra” dưới “nét bút”, đâu phải cứ y như thục, sát đời thực. Được như vậy, riêng về già trị nhận thức, thơ đã rất có ích cho đời, cho người. Ở phương diện này, thơ đi gần với họa. Miên Thẩm viết: Một ngày kia già tới, không gì thưởng ngoạn/ Trong nhà nhìn bức vẽ này hay đâu gặp được cái thần [17, 80].

 

Có được cái “thần” trong thơ trong văn, thì người đọc “tuy không được dự cuộc chơi... mà tình tiết của núi sông, thanh u của cảnh sắc, có thể nắm bắt được ở nơi mặt giấy” [17, 242]. Có thể dễ nhận thấy sự gần gũi trong quan niệm của người xưa với chúng ta ngày nay.