Chữ Chí trong thơ

Đi liền với “tâm” là “chí”. Người xưa quan niệm “tâm” là điểm đến của “chí”: “Nói tâm là cái chỗ mà chí đạt tới vậy” (Nguyễn Bỉnh Khiêm) [41, 36]. Trên cơ sở “tâm”, thơ nhằm bộc lộ “chí”. Dầu xưa kia ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam nảy sinh nhiều khuynh hướng triết học khác nhau, tranh chấp ảnh hưởng lẫn nhau, nhưng riêng nguyên tắc “thi ngôn chí” thì “nhìn chung không phụ thuộc vào sự khác nhau của trường phái triết học” (I. S. Lisevich) [34, 213]. Nói cách khác, ‘thi ngôn chí” có tính phổ quát rộng rãi. Bởi vì “chí” (nếu chiết tự) là “tâm” của kẻ sĩ nghĩa, là “tâm” của nhà thơ. Phạm Nguyễn Du viết: “Người xưa không riêng để ý ở từ chương, thơ của họ là để nói lên cái chí, phải đâu vì hơn thua” (Tạp chí Văn học, Số 4/1980).

Có phần khác với “tâm”, nói đến “chí” là nói đến thế giới bên trong của thi nhân. Phan Chu Tiên cho rằng: “Trong lòng có điều gì, tất hình thành ở lời; cho nên thơ để nói chí vậy” [41, 21]. Điều này hoàn toàn gần gũi với ý kiến của tiền nhân mà Nguyễn Cư Trinh tâm đắc: “Để trong lòng là chí, ngụ ra ý là thơ” [10, 115]. Có nhiên “chí” hàm nhiều nghĩa. “Chí” để chỉ giáo lý của đạo Nho như Nguyễn Thứ Phủ thừa nhận: “Thơ nói chí, nguyên ủy và thể tài đã ghi rõ trong sách vở” [17, 126]. “Sách vở” đây là sách vở Thánh Hiền là “Tứ thư”, “Ngũ kinh”. Cái khung tư tưởng vô cùng chặt chẽ và bó buộc. Đáng chú ý là quan niệm của Phùng Khắc Khoan. Ông vừa tuyên bố: “Tối đối với thơ, có lẽ vẫn hằng có chí”, lại vừa giải thích: “Có lẽ cũng là cái chí của riêng mình” [41, 16-17].

Đặt vào hoàn cảnh xưa Á Đông mới thấy hết được tư tưởng khoáng đạt của Phùng Khắc Khoan. Ở phương Tây, yếu tố cá thể, cá nhân “quan trọng hơn tất cả thế giới, hơn cả sức khỏe của Hoàng đế Trung Hoa” (Biêlinxki) [34, 221]. Xã hội Á Đông thì có phần trái ngược. Cộng đồng, dòng tộc mới là nhân tố hàng đầu. Vậy mà học giả họ Phùng lại nói tới “chí riêng” thì quả là táo bạo. Tuy nhiên, phải thấy “chí riêng” không tách rời “chí chung” và trong hầu hết trường hợp chịu sự chi phối của “chí chung”. Thơ là để nói “chí”, “chí” là cái được sinh ra trong lòng nhà thơ song nguồn gốc của nó lại là “cả đại dương tồn tại” (I. S. Lisevich) [34, 218].

“Chí” có căn nguyên sâu xa từ đạo lý Nho gia khi được biểu hiện thành lời, thành thơ lại rất đa dạng. Tập trung và nổi bật hơn cả là nội dung chí hướng và chí khí. Bùi Văn Dị, một nhà thơ sống ở thế kỷ XIX khẳng định: “Thơ cốt để nói chí hướng của mình” [10, 120]. Lê Hữu Kiều sống trước ông một thế kỷ cũng thừa nhận: “Thơ để nói chí hướng của mình” [41, 55]. Nhưng những người phát ngôn rõ nhất cho quan niệm thơ là bày tỏ chí hướng của người viết là thầy trò Nguyễn Bỉnh Khiêm. Mỗi người sống trên đời đều theo đuổi mục đích riêng. Mục đích quyết định thiên hướng và cuộc đời con người. Nguyễn Bỉnh Khiêm viết: “Thơ lại là để nói chí; có kẻ chí để ở đạo đức; có kẻ chí để ở công danh, có kẻ chí để ở sự nhàn nhàn dật” [41, 36]. Ông thừa nhận khi về già “chí thích nhàn dật, lấy cảnh núi non sông nước làm vui”. Nên phần nhiều thơ ông hoặc “ca tụng cảnh đẹp đẽ của sơn thủy hoặc là tô vẽ nét thanh tú của hoa trúc, hoặc là tức cảnh mà ngụ ý, hoặc là tức sự mà tự thuật” [41, 37].

Phùng Khắc Khoan có ý thức mở rộng ý kiến của thầy học và đặt dấu nói đậm giữa “chí lớn” nuôi dưỡng hàng ngày với “chí phát ra lời”, “thể hiện nơi thơ”. Ông viết: “Chí ở đạo đức thì phát ra lời hồn hậu, chí ở sự nghiệp thì lộ ra khí hùng hồn, chí ở suối rừng khe lạnh thì ham chuộng tịch liêu, chí ở mây tuyết gió trăng thì ưa thích thanh tao, chí uất ức thì lo buồn, chí cảm thương thì ai oán” [17, 15]. Nhận xét có sức bao quát lớn. Thử hỏi thi ca xưa nay muôn màu muôn sắc là thế liệu có hiện tượng nào ra khỏi được tầm nhìn của ông.

“Chí” trong thơ xưa còn là “ý chí” (chữ của Hồng Nhậm). Bởi, theo Cao Bá Quát, làm thơ tuy có phải chú trọng về quy cách nhưng “phải gốc ở tính tình” [41, 152]. Với người xưa, thơ có nhiều chức năng, trong đó có chức năng “dẫn dắt tính tình” (Đỗ Hạ Xuyên). Muốn nên người, quân tử phải nương theo “lễ” và “nhân”, người quân tử bởi vậy không thể không học “thi”. Tự trong bản chất văn thơ ẩn chứa khí phách của văn nhân, thi sỹ. Ngô Thì Vị viết: “Thi ca biểu hiện nơi ký ức vịnh ngâm, chẳng qua là để mô tả cái khí phách lỗi lạc hơn người” [17, 109]. Người xưa thích vịnh “tùng”, “trúc”, “cúc”, “mai” là vì thế. Chúng có nhiều nét tương đồng với chí trượng phu. Nguyễn Thượng Hiền bộc lộ: “Ngồi đối mặt với cây thông giá lạnh để gửi gắm niềm tiết tháo trung trinh” [17, 101]. Cổ nhân rất ưa biểu tượng, biểu trưng. Người làm thơ và cả người đọc thơ đều vậy. Nó thành nét hằn sâu trong thơ và cả trong văn của Việt Nam, Trung Quốc. Ở thế kỷ trước Cao Xuân Dục có nhắc lại câu nói của Bùi Tấn Công với thái độ tâm đắc, tán đồng: “Văn khác nhau là do khí phách cao hay thấp, cách nghĩ nông hay sâu, chứ không phải ở chỗ đẽo câu gọt chữ, thay tiếng đổi vần” [1, 151]. Ở ta, Tôn Hành Thị đã so sánh làm thơ với đánh cờ và thấy: “Thực chẳng những đem nó để hiểu thời thế, còn có thể đem nó để biểu thị phẩm chất con người” [17, 131].

Điều cần nhớ là tính tình, “phẩm chất con người” không giống nhau. Phạm Nguyễn Du nói có hai dạng thiên lệch và đúng đắn. Ông nói thêm: “Riêng cảm thụ mà đúng đắn thì cái phát ra cũng đúng đắn” (Tạp chí Văn học, Số 5/1981). Phẩm chất thi ca gắn chặt với phẩm chất con người. Có thể lời nghe “êm tai đẹp mắt”, “nhưng sa đọa thật đáng buồn” (Miên Thẩm) [17, 84]. Lời nhắn nhủ của người xưa đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Chữ “nhã” ngày trước luôn được xem trọng. Các nhà nho hay sử dụng những từ “cao nhã”, “tao nhã”, “trang nhã”, “thanh nhã”... để ngợi khen thơ phú. Tư Không Đồ đời Đường đã biểu đạt giùm ý nghĩ của nhiều người trước ông cũng như sau ông: “Đệ nhất công danh chỉ thưởng thơ”. Người giỏi thơ phú xưa được gọi là tao nhân mặc khách. Nếp nghĩ ấy được duy trì cho đến tận bây giờ. Trong buổi tiếp Kim Dung tại Đại học Bắc Kinh tháng 1 năm 1995, có người đã hỏi nhà văn “best seller” vào bậc nhất thế giới về thứ tiểu thuyết võ hiệp. Ông đáp: “Ở nơi phủ đường cao đẳng này mà nói võ hiệp thì kém vẻ trang nghiêm đi”. Theo nhà văn Kim Dung, văn chương võ hiệp không thể xếp ngang hàng với văn chương “tao nhã” được (Báo Văn nghệ 39/95).

Với ý định “góp phần đổi mới tư duy lý luận văn học”, Hồ Sỹ Vịnh đã nhắc đến ý kiến về thơ của Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Hoàng Đức Lương, Ngô Thì Nhậm... Và nhà nghiên cứu đã rút ra bài học: “Người làm văn quí ở mực thước, thanh nhã, hồn nhiên...” [23]. Để góp thêm tiếng nói về việc định hướng thơ hôm nay, Giáo sư Vũ Đức Phúc đã đưa ra nhận xét: “Thơ là một lẽ sống, một cách sống thanh cao và thú vị” [60]. Ở đời, không ai thích làm thơ, ưa thưởng thơ mà lại thật sự gian ác. Thơ góp phần cứu rỗi tâm hồn con người, gây tác dụng khuyến thiện trừng ác là vì thế. Bảo vệ, hơn thế tôn sùng sự trang nhã thanh tao trong thơ dường như đã ăn sâu thành nết trong tư duy của cả người sáng tác lẫn người thưởng thức. Công cuộc cách tân thi ca nên tính đến truyền thống này.