Từ cội nguồn dân tộc

        Người ta thường nói: Quá khứ hóa thân trong hiện tại. Đó là quy luật của tạo hoá đồng thời là quy luật của văn chương. Đã có không ít bài học phản diện của sự chối bỏ truyền thống. Nhiều người, nhiều dân tộc làm thất truyền những báu vật của cha ông. Trước khi từ trần ít lâu, nhà đạo diễn điện ảnh Xô viết lỗi lạc, nghệ sĩ nhân dân X.Bônđasúc đã thổ lộ  “Cội nguồn của sự khủng hoảng toàn diện của chúng ta là ở thái độ với quá khứ. Bởi lẽ, quá khứ là nền móng của bất cứ một xã hội nào, của bất cứ một nền văn hóa nào... Chúng ta đã khước từ tài sản vô giá đó”(1). Cái giá phải trả thật lớn. Bế tắc, thậm chí sụp đổ là khó tránh khỏi.

            Đáng qúy là càng ngày ta càng ý thức được tinh hoa do các bậc tiền bối truyền lại. Trách nhiệm gìn giữ, tiếp thu và nâng cao các giá trị của quá khứ luôn thôi thúc chúng ta hành động. Đối với di sản lý luận văn chương sự kế thừa ở nhiều người trong chúng ta là thường xuyên, trên cả phương diện sáng tác và phê bình. Tôi chỉ xin đi vào một số điểm tiêu biểu trong sáng tác.

            Thi ca chân chính mọi thời bao giờ cũng gắn bó với đời sống, đặc biệt là đời sống tinh thần cao qúy của con người. Thơ kỵ sự dung tục dưới mọi sắc thái, trong khi lại rất gần với tính hướng thượng, vươn tới những điều thiêng liêng và siêu việt. Không thể có thời đại thi ca nào xuất hiện trong lịch sử khi tính hiện thực lấn át tính lý tưởng. G.Basơla viết: “Làm thơ cho anh cái táo bạo để sống một cách khác cuộc sống thường ngày”. Con người không thể lúc nào cũng cúi nhìn xuống mặt đất. Nhiều khi, con người có thể và cần phải phóng tầm mắt về phía trước, ngẩng vầng trán về phía chân trời xa xăm. Và khi đó, thơ có tiền đề xuất hiện. V.Briuxốp trong bài “Gửi nhà thơ trẻ” di chúc lại ba điều, trong đó có điều tâm huyết sau:

            Anh đừng sống bằng cuộc đời thực tại

            Chỉ tương lai - địa hạt của nhà thơ.

            Và muốn sống cho tương lai, bằng tương lai, nhà thơ cách này cách khác cần tự hoàn thiện chính mình. Khi ấy, nói như thi hào R.Tago, “thơ cũng như nụ cười và nước mắt” sẽ “phản ánh một cái gì được hoàn thiện từ bên trong”. Cách nghĩ của những bậc thầy thi ca này không mấy xa lạ với ông cha ta. Lê Hữu Kiều từng khẳng định: “Thơ để nói chí hướng của mình”(2). Cố nhiên, ông chỉ diễn đạt cái điều mà nhiều bậc danh nho xưa nghĩ và tin. Làm người sống trong trời đất để hữu ích, để xứng đáng không thể không có chí hướng. Thơ giúp bộc lộ và nuôi dưỡng chí hướng. Như cùng một đường hướng suy nghĩ, Ngô Thì Vị viết : “Thi ca... chẳng qua là để mô tả cái khí phách lỗi lạc hơn người”(3). Không hiếm người được thôi thúc bởi “cái khí phách lỗi lạc” do thơ đem lại mà tạo lập được sự nghiệp lớn làm hiển danh cho xứ sở.

            Một dịch giả thời hiện đại - Mai Xuân Hải, giải thích nguyên lý “Thi ngôn chí” là “Thơ bầy tỏ lý tưởng”(4). Xét về câu chữ, cách hiểu có thể chưa được chuẩn xác, nhưng ý tứ  đại thể là xác đáng. Thơ văn trên thực tế là một bộ phận hữu cơ hợp thành tư tưởng và hành động, trí tuệ và tài năng của loại nhà nho hành đạo thời xưa. Và hết thảy để nhằm thực thi ý hướng, lý tưởng ở đời. Công thành danh toại là tùy thuộc ở đây.

            Hiển nhiên, có người đã dùng “văn” chở “đạo”, thậm chí bỏ “văn” giữ “đạo”, khiến giá trị thẩm mỹ của thơ văn bị hạ thấp một cách vô lối. Nhưng nếu nhìn ở mặt tích cực của ý tưởng dùng thơ văn để tỏ bầy, phụng sự chí, đạo, lại đặt vào hoàn cảnh phải bằng mọi giá để giành và giữ nền độc lập dân tộc, sự thống nhất non sông như nước ta trong suốt nhiều thập kỷ qua, thì chúng ta không thể thấy rõ tác dụng thực tế - xã hội của nó. Bao lớp nghệ sĩ ở ta đã tự nguyện dâng hiến nghệ thuật cho chủ nghĩa mà mình hết lòng tôn thờ. Không do dự, không hối tiếc. Sự chọn lựa với nhiều nghệ sĩ là không thể khác. Song ở trường hợp nào cũng đều đáng trân trọng. Vào những ngày cuối đời, Chế Lan Viên có dịp nhìn lại và suy nghĩ về những năm tháng không thể nào quên, khi mà :

            Thơ chỉ sống một phần cho mình còn ba phần cho nhiệm vụ

            Nghĩ mà thương

                                                                        (Sử)

            Nhà thơ của chúng ta “thương” mà không hề ân hận, nuối tiếc. Chẳng phải chính Chế Lan Viên đã từng tâm sự: Anh sáng lý tưởng soi dọi hồn thơ ông, phù sa lý tưởng bồi đắp chất thơ ông đó sao !

            Từ sau năm 1975, văn chương cùng dân tộc rẽ sang lối ngoặt mới. Ta vẫn không quên nhiều bài học bổ ích trong quan niệm thi ca cổ xưa. Một trong những bài học qúy giá ấy là : Vẻ tao nhã của thơ, sự sang trọng của người làm thơ. Khi tập thơ song ngữ Nước triều đông (tên cuốn sách lấy từ câu thơ của Nguyễn Trãi) của Huy Cận được in ở Pháp đầu 1994, đã có nhiều ý kiến bình luận. Đáng lưu ý là nhận xét của J.Chirac bấy giờ là Thị trưởng thành phố Paris: “Lời thơ giản dị và thanh nhã”(5).  Nhà chính khách tỏ ra rất am hiểu thi ca truyền thống Á Đông.

            Chữ “nhã” ngày trước luôn được xem trọng. Các nhà nho hay sử dụng những từ “cao nhã”,“tao nhã”,“trang nhã”,“thanh nhã”... để ngợi khen thơ phú. Tư Không Đồ đời Đường đã biểu đạt dùm ý nghĩ của nhiều người trước ông cũng như sau ông: “Đệ nhất công danh chỉ thưởng thi”. Người giỏi thơ phú xưa được gọi là tao nhân mặc khách. Nếp nghĩ ấy được duy trì cho đến tận bây giờ. Trong buổi tiếp Kim Dung tại Đại học Bắc Kinh tháng 1 năm 1995, có người đã hỏi nhà văn “best seller” vào bậc nhất thế giới về thứ tiểu thuyết võ hiệp. Ông đáp: “Ở nơi phủ đường cao đẳng này mà nói võ hiệp thì kém vẻ trang nghiêm đi”. Theo nhà văn Kim Dung, văn chương võ hiệp không thể xếp ngang hàng với văn chương “tao nhã” được (6).

            Với ý định “góp phần đổi mới tư duy lý luận văn học”, Hồ Sỹ Vịnh đã nhắc đến ý kiến về thơ của Lê Qúy Đôn, Phan Huy Chú, Hoàng Đức Lương, Ngô Thì Nhậm... Và nhà nghiên cứu đã rút ra bài học: “Người làm văn qúy ở mực thước, thanh nhã, hồn nhiên...”(7). Để góp thêm tiếng nói về việc định hướng thơ hôm nay, giáo sư Vũ Đức  Phúc đã đưa ra nhận xét : “Thơ là một lẽ sống, một cách sống thanh cao và thú vị”(8). Ở đời, không ai thích làm thơ, ưa thưởng thơ mà lại thực sự gian ác. Thơ góp phần cứu rỗi tâm hồn con người, gây tác dụng khuyến thiện trừng ác là vì thế. Bảo vệ, hơn thế tôn sùng sự trang nhã thanh tao trong thơ dường như đã ăn sâu thành nếp trong tư duy của cả người sáng tác lẫn người thưởng thức. Công cuộc cách tân thi ca nên tính đến truyền thống này.

            Gần đây, xuất hiện hai thiên hướng đi ngược lại tinh thần tao nhã của thi ca dân tộc. Về mặt nội dung, cùng với việc tuyệt đối hóa vai trò của tiềm thức, của vô thức trong sáng tạo, là yêu cầu thơ phải diễn tả thật cụ thể, đến mức sát sạt những dục vọng, ham muốn trần tục của con người. Kết cục là những “vần thơ” nhầy nhụa đến tởm lợm đã được viết ra, làm vẫn đục bầu không khí vốn trong sạch của thi ca. Về mặt hình thức, có người muốn đưa ngôn ngữ thi ca gần với khẫu ngữ, kể cả những từ ngữ và cách nói dung tục. Bằng con đường này, nhà thơ mong nhận được sự cảm thông ở những người ít học nhất. Nhận xét về hiện trạng đó, giáo sư Lê Chí Dũng viết  “Sự cách tân không thể không tính đến truyền thống tao nhã của truyền thống thơ dân tộc”(9).

 


 

(1)  Báo Văn nghệ, số 44/1995.

(2)  Từ trong di sản... Nxb Tác phẩm mới, H.,1981, tr.55.

(3)  Người xưa bàn về văn chương (tập I) - Đỗ văn Hỷ, Nxb Khoa học Xã hội, H.,1993, tr.109.

(4) Lý luận văn học, nghệ thuật cổ điển Trung Quốc - Khâu Chấn Thanh, Nxb Giáo dục, H.,1995, tr.363.

(5)  Báo văn nghệ, số 36/1994.

(6)  Báo văn nghệ, số 39/1995.

(7)  Báo văn nghệ, số 38/1994.

(8)  Báo văn nghệ, số 47/1994.

(9)  Lang Bian, số 9/1996.