Người xưa với việc sưu tầm tuyển chọn thơ văn

            Không mấy ai không nhận thấy ý nghĩa to lớn của các tuyển tập, hợp tuyển thơ văn xưa trong việc lưu giữ các giá trị văn chương thời trước cho chúng ta hôm nay. Nội một công trình Thơ văn Lý Trần gần đây đã khiến ta sửng sốt - sửng sốt xen lẫn xúc động, tự hào. Nghĩ tới công trình sưu tập đồ sộ này, ta phải nhớ tới công lao mở đường của những người đi trước - Phan Phu Tiên với Việt âm thi tập, Dương Đức Nhan với Tinh tuyển chư gia luật thi, Hoàng Đức Lương với Trích diễm thi tập, Lê Qúy Đôn với Toàn Việt thi lục và bao tên tuổi nổi danh khác nữa. Tấm lòng và công sức của các bậc tiền bối dành cho sự nghiệp văn chương dân tộc, cho lợi ích tinh thần của các thế hệ mai sau sẽ đi vào lịch sử mãi mãi không thể phai mờ.

            Quả thật, từ xa xưa ông cha ta đã ý thức rất rõ vai trò của những người làm công việc nặng nề  (chữ dùng của Hoàng Đức Lương) này. Nguyễn Công Cơ khi đề tựa cho “Quần hiền phú tập” đã cho rằng : “Bộ tuyển tập phú này nếu không có các bậc hiền xưa thì không có nghệ thuật thần diệu, nhưng các bậc hiền đó nếu không có ông Nguyễn (tức Nguyễn Trù - tác giả bộ tuyển phú) thì không để được văn phú cho đời sau”(1) . Đó chính là lý do khiến nhà bác học Lê Qúy Đôn chỉ qua tuyển thơ của Hoàng Đức Lương, một người sự nghiệp không còn truyền lại đầy đủ, đã coi ông là một “danh sĩ” (2). Một đánh giá như vậy quyết không thể là nhận xét hồ đồ. Vì đây là một thử thách nhiều mặt đối với người sưu tập, cả tấm lòng lẫn hiểu biết. Tư liệu ban đầu chủ yếu là chép tay nên tam sao thất bản. Lại thường thất lạc và phân tán. Sự hủy hoại của thời gian, đặc biệt của các cuộc chiến tranh liên miên, nội chiến cũng có nhưng chủ yếu là ngoại xâm, đã khiến cho công việc đã khó lại nhiều phần khó hơn. Phải thấy kẻ thù của dân tộc ta vô cùng nham hiểm. Chính sách đồng hóa là một chính sách nhất quán của giặc phương Bắc trong mọi triều đại. Song có lẽ giặc Minh ở đầu thế kỷ XV đã thực thi chính sách ấy một cách triệt để hơn cả. Chúng không từ một thủ đoạn nào nhằm triệt hạ nền văn hoá của dân tộc ta, dần dần đưa nền văn hóa Việt Nam đi vào qũy đạo của văn hóa Đại Hán. Chúng vơ vét sách vở : “Đến đời Nhuận Hồ mất nước, tướng nhà Minh là Trương Phụ (1406) lấy hết sách vở cổ kim của ta gửi theo đường sông về Kim Lăng (Kinh đô nhà Minh)” (3) . Chúng còn lùng sục các tài năng : “Cuối đời Hồ Qúy Ly, bọn Trương Phụ luôn tìm sĩ tử nước ta đưa sang Kim Lăng” (4) . Đúng là đốn cả gốc lẫn ngọn. Tội ác thật không cùng. Tình trạng trên đã khiến cho các học giả có ý thức dân tộc không thể dửng dưng. Phan Phu Tiên, một học giả sống ở khoảng cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV trong lời Tựa sách Việt âm thi tập sau khi xác nhận “nước ta có tiếng là một nước văn hiến; văn nhân tài tử không phải không nhiều” đã than thở “đáng tiếc qua binh hỏa đều không còn” (5) . Nhà bác học Lê Qúy Đôn, sống sau Phan Phu Tiên ba thế kỷ, đồng thời với việc khẳng định công lao “sưu tầm các sách vở giấy tờ” của các bậc danh nho tiền bối, đã thừa nhận một thực tế đau lòng : “Sau cuộc binh hỏa, mười phần còn được bốn năm phần... Tan nát đến thế, đáng tiếc lắm thay”(6) .

            Do vậy, có thể nói, lòng tự hào dân tộc, ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc là động lực chính khiến các học giả vượt qua mọi trở ngại để hoàn thành tốt nhất việc sưu tập thơ văn các thời. Hoàng Đức Lương cảm kích viết : “Than ôi ! Một nước văn hiến, xây dựng đã mấy trăm năm, lẽ đâu không có quyển sách nào để có thể làm gốc rễ, mà phải xa xôi để học thơ văn đời nhà Đường, như thế chẳng đáng thương xót lắm sao !” (7) Hình ảnh các học giả tận tâm “nhặt nhạnh ở giấy tàn, vách nát được một vài câu” (3)“tìm hiểu những bài ký cổ kính rêu phủ, mài tấm bia cổ để viết lại” (4) luôn khiến chúng ta ngày nay xúc động. Và khi phát hiện ra một bài thơ, bài văn có giá trị của người đời trước hoặc người cùng thời họ như reo lên sung sướng. Đó là những vật báu không chỉ có ý nghĩa lịch sử, là chứng tích của một thời một đi không trở lại mà còn có ý nghĩa thời đại, ý nghĩa nhân sinh. Một trong những bậc danh nho hết lòng với di sản văn chương dân tộc trong quá khứ là nhà bác học Lê Qúy Đôn. Sau khi xem xét kỹ lưỡng tuyển tập của các bậc tiền bối ông vẫn thấy “có chỗ bỏ sót”. Có khi chỉ là một bài thơ của một nhà thơ như Phạm Sư Mạnh. “Bài thơ đề núi Thạch môn theo cổ thể, nay vẫn còn khắc vào đá, trong sách “An Nam chí” của người nhà Minh có chép bài thơ này nhưng bỏ mất một nửa”. Sau đó Lê Qúy Đôn chép lại toàn bài thơ nói trên (8) . Có ý nghĩa hơn là sự phát hiện ra di sản thi ca của cả một thời đại. “Thơ văn của đế vương và công khanh triều nhà Trần, đã thấy chép trong Việt âm thi tập, còn thơ văn nhà Lý thì không khảo cứu được. Tôi nhân xem quyển Thiền uyển tập anh, thấy có vài ba bài, nay chép ra đây” (9). Thái độ nâng niu từng bài thơ, từng áng văn của ông khiến chúng ta ngày nay phải suy nghĩ nhiều.

            Tuy vậy, do thơ văn là một sản phẩm tinh thần đặc biệt của con người nên ngoài sự thôi thúc của ý thức dân tộc không thể không nói đến sự thúc bách của lòng tri âm, tri kỷ vốn là một điều kiện quan trọng góp phần quyết định việc sưu tầm và tuyển chọn văn chương. Ngô Thì Nhậm khi biên soạn Hoàng Công thi tập đã thừa nhận : “Ta rất ưa thơ ông, lại tâm đắc nữa” (10) . Phan Huy Chú khi làm Quế Đường thi tập cũng có ý nghĩ tương tự. “Ý muốn biên soạn, sắp xếp lại sách vở của Lê Công đã nẩy ra” khi ông nhận thấy : “Cái nguồn (cảm hứng) rộng lớn, sâu thẳm này, thực là gần đây cũng hiếm người có được” (11)

            Rõ ràng, không thể đến được với văn chương nếu không có sự “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”. Nhưng dẫu sao, sưu tầm, tuyển chọn văn thơ cũng luôn đòi hỏi một tinh thần khoa học rất cao. Cái đặc thù đồng thời là điều thử  thách của công việc này là vậy. Thẩm định văn chương bao giờ cũng mang rõ dấu ấn cá nhân. Tuy nhiên, một tuyển tập văn chương có giá trị lại đòi hỏi soạn giả phải vượt qua được sở thích cá nhân, không cho nó xen vào, chỉ đạo hoặc chi phối công việc. Không lấy làm lạ khi xưa cũng như nay, một tuyển tập hoặc hợp tuyển thường là kết quả của công sức nhiều người. Quần hiền phú tập là một ví dụ. Đây là tập phú cổ nhất của nước ta nay còn giữ lại được. Nguyễn Thiên Túng khởi soạn, về sau Nguyễn Trù, một học giả sống ở thế kỷ XVIII bổ sung. Tính khoa học trước hết không cho phép các soạn giả thêm thắt, bịa đặt. Ngay cả truyện cổ dân gian cũng vậy. Biết thế nào ghi lại thế ấy. Thêu dệt dù dưới hình thức nào, mức độ nào cũng đều vi phạm tính trung thực của văn bản. Việc tiếp thu, xem xét, đánh giá vì thế không được xác đáng. Ngay từ thế kỷ XIV, Hồ Tông Thốc đã xác định : “Những truyện sưu tầm đều là lượm lặt từ  truyền thuyết lưu lại, trích lấy đầu đuôi để giúp biết rõ về phả ký từng đời mà thôi; còn những sự tích kỳ quái, lờ mờ khó xét, tạm giữ đó để chờ các bậc quân tử sau này xét thêm, dám đâu bịa đặt ra điều quái dị để mê hoặc người đời” (12) . Gắn với tính xác thực của văn bản là việc trình bầy, sắp xếp sao cho rõ ràng, hợp lý và chặt chẽ. Khi nói về  thể lệ biên soạn tập Toàn Việt thi lục Lê Qúy Đôn trong lời Tựa đã xác định : “Nay tôi biên soạn xin theo điều nghe, thấy, xếp thơ theo loại, thứ” (13) . Tuy nhiên tính khoa học của một công trình sưu tập thể hiện tập trung qua tiêu chuẩn mà các soạn giả đưa ra để tuyển chọn tác giả cũng như tác phẩm. Phải nói ngay rằng các học giả xưa thường tiếp thu ở các bậc tiền bối không chỉ tư liệu mà còn cả phương châm và tiêu chuẩn chọn lựa tư liệu. Ý hướng đề cao, ngưỡng vọng cổ nhân là nét tâm lý thường thấy và thực tế đã hạn  chế phần nào giá trị của các tuyển tập thời xưa. Có điều, trong tay các học giả không phải chỉ một hai tuyển tập, không phải chỉ vài ba hệ thống tiêu chí tuyển chọn. Vì lẽ đó tính chủ động không phải là không có. Thêm vào đấy, một số học giả ta còn đưa thêm vào những tiêu chí khác phù hợp với quan niệm và mong muốn của mình. Đáng chú ý hơn cả là tiêu chuẩn chọn lựa mà Lê Qúy Đôn học tập sáng tạo khi biên soạn Toàn Việt thi lục. Ở đây, nhà bác học nổi tiếng ở thế kỷ XVIII đã theo năm “lệ” của ông Lã Đông Lai khi làm quyển Tống văn giám. Năm tiêu chuẩn đó là:

            1. Những bài lời và lẽ đều hay.

            2. Những bài chỉ có lời hay.

            3. Những bài văn chưa hay, nhưng đã được nhiều người thích.

            4. Những bài văn tuy chưa hay nhưng tác giả là bậc hiền mà ít người biết tiếng, chép lấy một vài bài cho tên tuổi họ khỏi mai một.

            5. Những bài lời không hay nhưng lẽ khá, đều được chép.

            Ngoài ra, Lê Qúy Đôn còn phụ chép thêm một ít tác phẩm của các nhà sư, của “một vài người phụ nữ có những tập thơ xem cũng khá, thoát hẳn khí vị son phấn, và nhất là của các sứ thần ta và bạn tặng, đang khi giao hảo”. Có thể tuyển tập còn ôm đồm. Tuy nhiên, ta dễ nhận ra cái nhìn toàn diện, dân chủ, khoáng đạt mà không xa rời những nguyên tắc tối thiểu của học giả họ Lê.

            Vậy là việc sưu tầm và tuyển chọn thơ văn đòi hỏi cao và nhiều ở các soạn giả. Ở đây đức tính khiêm tốn không bao giờ đủ. Lý Tế Xuyên trước khi kết thúc bài Tựa cho tập Việt điện u linh không quên thổ lộ: “Tôi theo sự  kiến văn hẹp hòi, chép ra bộ sách về việc linh dị, nếu có ai ưa thích xin sửa cho, đó là điều tôi mong ước” (14) . Và ngay bộ óc thông thái hiếm có như Lê Qúy Đôn cũng không ngăn cản ông viết những lời thành thật sau đây : “Mong qua tập thơ này... không dám tin là mình không bỏ sót, tôi mong đợi người sau thu nhặt thêm, để bổ sung cho”.(15) Ta không tin đó chỉ là những lời nói cho phải phép. Có điều, đằng sau những lời nói có phần xã giao ấy là sự hài lòng vì mục đích đặt ra đã phần nào đạt được. Kho tàng văn chương dân tộc được bổ sung thêm những áng văn thơ có giá trị là “tinh hoa của nước nhà” là “tiếng thơm của vài chục nhà” (chữ dùng của Lê Qúy Đôn) trong quá khứ. Cái chí của họ phần nào được thỏa nguyện. Từ đây, hậu thế có kiểu mẫu của văn chương nước nhà để học tập. Đúng như Nguyễn Thiên Túng viết: “Tập sách này thật qúy. Đem công bố với khoa trường, có thể giúp sức bút thêm rong ruổi, tranh đua cùng họ Ban, họ Mã (các  danh sĩ đời Hán bên Trung Quốc) mà không nhọc tâm thần vậy” (16) . Và đó cũng là những tài liệu qúy giá giúp vào việc giáo hóa con người bao thế hệ. Nhận thức, hiểu biết qua đó được nâng cao nhờ “biết việc trước, việc sau không nhầm lẫn”(17) . Tâm hồn, tình cảm cũng được thanh lọc khi dùng chúng làm tài liệu “dạy cho con cháu”. Những bài học của ông cha xưa trong việc sưu tập và tuyển chọn thơ văn cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Càng tìm hiểu, càng nhận thấy rất bổ ích đối với chúng ta.

 


(1) Từ trong di sản... (SĐD), H., 1981, tr.54.

(2)  Lê Qúy Đôn toàn tập, tập II, Nxb Khoa học Xã hội, H., 1977, tr.207.

(3)  Lê Qúy Đôn toàn tập, tập III, Nxb Khoa học Xã hội, H., 1978, tr.108.

(4)  Lê Qúy Đôn toàn tập, tập II. (SĐD), tr.207.

(5) Từ trong di sản... (SĐD), tr.22.

(6)  Lê Qúy Đôn toàn tập, tập III, (SĐD) , tr.101.

(7) (3) (4) Từ trong di sản... (SĐD), tr.30, tr.29, tr.53.

(8) (2) Lê Qúy Đôn toàn tập, tập II, (SĐD), tr.195, tr.197.

(9) Từ trong di sản... (SĐD), tr.73.

(10)  Từ trong di sản... (SĐD), tr.110.

(11) Từ trong di sản... (SĐD), tr.20.

(12) Từ trong di sản... (SĐD), tr.89.

(13)  Từ trong di sản... (SĐD), tr.19.

(14) Từ trong di sản... (SĐD), tr.89.

(15) Từ trong di sản... (SĐD), tr.36.

(16) Từ trong di sản... (SĐD), tr.20.

(17) Từ trong di sản... (SĐD), tr.73.