Đọc các bài Đề từ,Tựa, Bạt "Phong trúc tập", nghĩ về quan niệm văn chương của người xưa

            Phong trúc tập là tập thơ của Ngô Thế Lân, một nhà thơ sống vào thế kỷ XVIII (1). Thơ theo quan niệm truyền thống của các nhà nho xưa là để nói chí (thi ngôn chí). Do vậy, để nói rõ thêm với người đời và với hậu thế cái chí của mình bộc lộ qua tập thơ, chính tác giả đã viết lời Đề từ, rồi sau đó, Nguyễn Dưỡng Hạo và Trần Thế Xương, những bạn tri kỷ của ông viết bài Tựa, và Bạt. Tất cả những bài viết kể trên đều được ghi lại trong  Phủ biên tạp lục, một tập bút ký của Lê Qúy Đôn viết về xã hội Đàng trong chủ yếu là Xứ Thuận và Xứ Quảng từ thế kỷ XVIII trở về trước. Ba bài Đề từ, Tựa, Bạt Phong trúc tập (2) là những tư liệu văn học vô cùng qúy giá. Chúng bổ sung cho nhau, cùng giúp chúng ta ngày nay hiểu được quan niệm văn chương hiện thực đúng đắn của ông cha ta xưa.

            Đọc qua ba bài ta dễ nhận ra sự khác biệt về tính chất giữa chúng. Nhưng xét kỹ thì tính chất của bài Tựa và lời Bạt có nhiều điểm gần gũi nhau hơn. Trong khi đấy, bài Đề từ do tác giả tập thơ viết lại có đặc điểm khá riêng biệt. Cứ theo cách phân chia có nhiều nhân tố hợp lý của Phan Huy Chú thì bài Đề từ gần với một bài thơ văn xuôi của “nhà ca vịnh” hơn là một áng văn nghị luận của “nhà trước thuật”. Chỉ cần đọc câu cuối của bài này ta cũng rõ cảm xúc của người viết tràn trề đến “tột bực” (3) như thế nào! Nhà thơ viết đầy cảm kích: “Ôi! Trúc ơi! Trúc ơi! Ta có sở đắc ở trúc đấy”. Trái lại, hai bài sau lại nghiêng về luận bàn, giảng giải chủ yếu bằng những suy nghĩ phong phú về thơ và người làm thơ. Sự phân biệt tương đối về tính chất chung của bài Đề từ so với các bài Tựa và Bạt là rất cần thiết cho người đọc khi nhận định, lý giải quan niệm về văn chương của từng học giả qua mỗi bài viết.

            Dù có đôi điểm khác biệt về tính chất, nhưng như lời mở đầu đã nói, cả ba bài viết do cùng hướng tới một đối tượng chung, nên có nhiều điểm gần gũi về nội dung. Chúng bổ sung cho nhau khiến ta thâu nhận khá đầy đủ suy nghĩ của người xưa về văn chương. Từ ba bài đó ta có thể rút ra những vấn đề lý luận xoay quanh ba mối quan hệ cơ bản sau:

            1. Giữa nhà văn và hiện thực đời sống

            2. Giữa nhà văn và tác phẩm

            3. Giữa tác phẩm và công chúng độc giả

            Từng ấy vấn đề chứa trong ba bài viết chưa đầy một ngàn từ quả là súc tích, tập trung hiếm có vậy! Ta lần lượt bàn đến các quan hệ này.

            Mối quan hệ giữa nhà văn và đời sống trong các tư liệu nói trên được biểu trưng bằng quan hệ giữa Trúc và Gió. Trong quan niệm của các tác giả, Trúc và Gió vốn tồn tại riêng rẽ, độc lập với nhau. Nguyễn Dưỡng Hạo viết: “Trúc không có ý với gió - (PQT nhấn mạnh), nhưng gió đến thì trúc động mà sinh ra tiếng; lòng không dung vật -(PQT nhấn mạnh) nhưng vật tiếp thì lòng cảm mà thành thơ”. Vậy là về cơ bản tác giả đã đứng trên lập trường duy vật tự phát để xem xét vấn đề. Khi tồn tại độc lập không phụ thuộc vào nhau, mỗi loại mang đặc tính riêng xác định : “Gió là cái vật không có chất mà có hơi, trúc là cái vật có chất mà không có ruột” (lời Đề từ). Đặc điểm riêng của từng loại định rõ mặt hạn chế và mặt ưu thế của chúng. Chính vì vậy muốn tạo nên tiếng, Trúc và Gió, có thể, cần phải và rõ ràng đã nương tựa vào nhau, kết hợp với nhau. Chỉ trong sự giao hòa đó mỗi loại mới tự  khẳng định được mình trong việc tạo nên tiếng: “Trúc nhờ gió mà có tiếng, gió nhờ trúc mà thành vết”(lời Đề từ ). Mối quan hệ qua lại giữa nhà văn và hiện thực được tượng trưng bằng mối giao hòa giữa Trúc và Gió trong nhận thức của tác giả bài Đề từ  thật rõ. Ấy thế mà đoạn sau Ngô Thế Lân lại viết : “Gió đến thì trúc kêu, gió qua thì trúc lặng, gió to thì kêu to, gió nhỏ thì kêu nhỏ. Thế là kêu là tại gió chứ không tại trúc. Trúc vốn là hư không vậy”. Hình như cảm thấy giảng giải như thế vẫn chưa đủ nên đoạt kết bài Đề từ nhà thơ lại nhấn mạnh : “Nhã nhặn hay tục tằn, xấu xa hay lành tốt thì có dự gì đến trúc”. Cái phiến diện, lệch lạc của tác giả Phong trúc tập đã quá rõ. Gió tác động đến Trúc làm nên tiếng kêu của Trúc; tiếng kêu to hay nhỏ của Trúc hết thảy đều chỉ tùy thuộc ở Gió ! Người ta làm thơ ở thế thủ, thế bị động trước sức ba động của cuộc đời. Ta nhớ đến lời luận bàn tương tự của một nhà thơ mới. Vào khoảng những năm ba mươi của thế kỷ này, nhà thơ Xuân Diệu khi đi tìm nguyên do những nỗi buồn “vũ trụ”, nỗi sầu “thế kỷ” trong thơ Huy Cận đã viết: “Thơ Huy Cận không được vui, âu cũng là sự tự nhiên của đất trời. Hàng phi lao đứng bên sóng xanh kia, gió xa thổi vào cứ tự nhiên phát ra những tiếng rền rĩ. Tại phi lao buồn hay tại gió buồn? Tại gió buồn hay tại gió bay qua biển cả thấy nhiều không gian quá mà sinh ra bâng khuâng? Làm nên điệu buồn thương duyên cớ vốn là biển cả đó thôi  Mênh mang bao giờ cũng buồn. Biển xa chân trời lại tiếp với đại dương, biển càng sầu lo vì biển quá rộng lớn (Lời giới thiệu tập Lửa thiêng). Xuân Diệu biện hộ cho Huy Cận hay đang biện hộ cho chính mình?

             Ở trường hợp Ngô Thế Lân cũng vậy. Thời cuộc rối ren, chính sự thối nát, ông lui về ẩn dật, “độc thiện kỳ thân”. Vốn là người tài cao học rộng, ông làm thơ để bộc bạch nỗi lòng uẩn khúc ấy. Và lời Đề từ  có tính chất của một bài thơ bằng văn xuôi như để thanh minh cho chính mình. Ông không có ý làm nhà trước thuật. Vả lại, con người ông là một khối mâu thuẫn lớn. Do vậy, với cái nhìn một chiều ở đoạn sau, Ngô Thế Lân không thể không tự mâu thuẫn với mình về phương diện lý luận: “Thế là kêu là tại gió chứ không phải tại trúc. Trúc vốn là hư không vậy”. Ta biết rằng Gió nổi lên, to và mạnh thật nhưng không gặp vật cản thì không thể phát ra thành tiếng. Tiếng kêu có được trong trường hợp này phải vừa tại Gió (cái kích thích) lại vừa tự Trúc (cái được kích thích).

            Sự khiếm khuyết về mặt lý luận của bài Đề từ  sẽ được Trần Thế Xương bổ sung trong bài Bạt. Không còn bóng bẩy trong cách nói, tác giả lời Bạt viết : “Hoàn Phác (tức Ngô Thế Lân) ôm đạo tự qúy, không vì vật dụng mà đắm, bụng dạ thảnh thơi, mắt nhìn lòng rõ, cho nên trong khoảng trăng đêm hoa sáng, trong lúc mưa gió lạnh lùng, cảm vật mà phát ra, đụng vật mà nên thơ, thanh điệu thiên nhiên, đều được tính tình đúng đắn, cũng như trúc với gió vậy, tùy động tùy phát, âm vận không cùng, mà người không chán vì phiền vậy”. Ít có đoạn văn phê bình nào của người xưa luận bàn về quá trình sáng tạo văn chương  lại đầy đủ và thấu đáo đến như vậy! Tác giả của lời bàn vừa thấy chủ thể sáng tạo lại vừa thấy khách thể thẩm mỹ. Vai trò của từng yếu tố cũng được nhìn nhận rành rọt. Làm nên sức lay động của nội dung “tính tình đúng

đắn”trong thơ với“thanh điệu thiên nhiên” hài hòa hấp dẫn là do “Hoàn Phác ôm đạo tự qúy, không vì vật dụng mà đắm, bụng dạ thảnh thơi” quyết định. Bên cạnh đó “trăng đêm hoa sáng”, “mưa gió lạnh lùng” cũng góp phần kích thích, khơi nguồn cảm hứng sáng tạo của nhà thơ. Song, trong quá trình sáng tác văn thơ, mối quan hệ giữa nhà văn và hiện thực đời sống phải được hiểu như sự chuyển hóa tinh tế của khách thể vào chủ thể bằng con đường riêng. Cái sâu xa của đoạn văn trên còn ở sự nhận chân ra con đường đặc thù này. Cảnh vật muốn đi vào thơ văn tất nhiên phải qua nhận thức sáng tỏ của nhà văn “mắt nhìn lòng rõ”. Có điều lý trí thuần túy chưa đủ làm nên những áng văn thơ sinh động và xúc động. Phải có sự tham gia của cảm xúc, hay đúng hơn là lý trí sáng suốt phải cháy thành tình cảm nồng nàn trong lòng nhà thơ : “Cảm vật mà phát ra, đụng vật mà nên thơ”. Bài Tựa cũng viết : “Gió đến thì trúc động mà sinh ra tiếng”, “vật tiếp thì lòng cảm mà thành thơ”. Con đường riêng trong nhận thức nghệ thuật còn được nhiều học giả khác trong quá khứ bàn đến. Ngô Thì Hoàng - một nhà nho cũng sống ở thế kỷ XVIII - viết :”Xúc cảnh động lòng, phát ra thành thơ... đâu   phải   ta  cố  vẽ  thôn  nghèo thành thắng cảnh” (4) Sự chuyển hóa qua lại giữa nhà văn và hiện thực cuộc sống sản sinh ra thành phẩm cụ thể:  Tác phẩm văn chương. Lời bàn của tác giả đặc biệt xoay quanh mối quan hệ giữa nhà văn và tác phẩm là vì vậy.

            Sản phẩm sáng tạo của nhà văn qua mối quan hệ giao hòa với hiện thực đời sống được các học giả tượng trưng bằng Tiếng trúc : “Gió đến thì trúc động mà sinh ra tiếng”, “vật tiếp lòng cảm mà thành thơ”. Bản chất của tiếng trúc ra sao ? Theo Nguyễn Dưỡng Hạo, tiếng của muôn vật thì nhiều nhưng tựu trung  có hai loại cơ bản tiếng của trời  tiếng của người: “Tiếng nguyên chất là tiếng của trời, tiếng rườm rà là tiếng của người”. Sự khác biệt của tiếng trời và tiếng người ở chỗ “nguyên chất” hay “rườm rà”. Tiếng người thì “rườm rà” nên có sự  “phân biệt tà chính”, ngược lại tiếng trời thì “nguyên chất” nên “không có sự phân biệt ấy”. Tiếng của trời thác vào vật tự nhiên “như  tiếng thông reo, tiếng chim mùa xuân, tiếng trùng mùa thu, tiếng mưa kêu trên tàu chuối, tiếng gió trong bụi tre...”. Còn tiếng của người biểu hiện qua tiếng “đàn sáo”, tiếng của thi ca của nghệ thuật. Nhưng không phải bất kỳ tiếng nào của  người cũng  thành

tiếng của nghệ thuật. Đến đây, người viết phân định rõ “tiếng trời của người” với đặc điểm “xếp đặt rõ ràng không rối” “tính tình đều được đúng đắn” là tiếng của thơ ca nhạc họa. Còn tiếng người của người, thứ tiếng “trong dâu trên bộc” “ai mà đến thương tâm” “vui mà đến say đắm” rất xa lạ với tiếng của nghệ thuật. Như vậy, sự hài hòa giữa tình cảm và lý trí ẩn chứa trong văn chương đã phân biệt nó với những hoạt động tầm thường “phi lý tính”. “Tiếng trời của người” như tiếng nói văn thơ, vừa đánh thức suy nghĩ, vừa lay động cảm xúc, không thể cảm thương đến bi lụy, say mê đến đắm đuối được.

            Để làm nên thứ tiếng giàu ý nghĩa đó của văn chương, nhà văn cần “hấp thuần cảo dịch” nghĩa là cần tự tu dưỡng, tự rèn luyện. Ngô Thế Lân, theo tác giả bài Tựa, ban đầu do “chán tiếng rườm ra của thói đời” đã “hăng hái tìm tiếng nguyên chất của thiên hạ” bằng cách “ ra phật vào tiên”, rút cuộc uổng công vô ích “hơn mười năm, chỉn không được gì”. Vì sao Ngô Thế Lân phí cả thời gian dài của cuộc đời mà không đi đến đích ? Cái lẽ thật giản dị. Nhà văn vốn là con người sống giữa cõi trần. Muốn tìm “tiếng nguyên chất của thiên hạ” nhà văn cần tìm ngay giữa cõi trần. Tinh túy “tiếng của người” theo quan niệm chính thống của tác giả bài Tựa, tập trung ở Sáu kinh (5) . Về sau, Ngô Thế Lân đi tìm ở các sách kinh điển đó thì “nhất đán tỉnh ngộ”. Nguyễn Dưỡng Hạo giải thích cái lẽ huyền diệu này như sau : “Phàm quẻ càn do dễ mà biết, quẻ khôn do giản mà hay, mầu nhiệm ở chỗ rộng rãi công minh, vật lại thì thuận, ứng suy ra việc làm, đặt ra lời nói, dẫu cho rộng ra thơ ca ngâm vịnh, động đến là phẩm đề, phong vận thiên nhiên, không cần đẽo gọt, há chẳng phải là được ở tiếng nguyên chất sao ?”. Một số người lầm tưởng Sáu kinh được các nhà nho bao thế hệ tôn thờ chỉ hàm chứa những nhân tố tiêu cực, không giúp ích gì cho nhận thức hiện thực của người làm văn. Điều này không đúng. Trần Văn Giàu trong cuốn  “Sự phát triển  của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám”, Tập I, có đưa ra một nhận xét về kinh Dịch: “Quả thật Dịch chứa đựng khá nhiều yếu tố tư tưởng biện chứng và duy vật thô sơ thời cổ đại, tư tưởng biện chứng và duy vật thô sơ ấy trộn lẫn với không biết bao nhiêu là tư tưởng thần bí, hoang đường”. Ta cần nhận rõ những yếu tố tích cực xen lẫn những yếu tố tiêu cực trong Kinh Dịch cũng như trong các sách kinh điển khác của đạo Nho (6) . Vậy là, từ những yếu tố tích cực trong Kinh Dịch, trong Sáu kinh, tác giả Phong trúc tập, theo lời của Nguyễn Dưỡng Hạo, đã có điều kiện để thâu nhận tiếng nguyên chất của trời ở cõi đời mà làm nên văn chương. Ngay phía dưới cái vỏ có vẻ khó hiểu của tư tưởng chính thống ẩn tàng một quan niệm sáng tác rất hiện thực của người xưa.

            Trở lại phép tượng trưng quen thuộc : Tiếng trúc (tác phẩm văn chương) phát ra do sự giao hòa giữa Trúc và Gió. Trong suy nghĩ của các học giả, tiếng trúc chỉ là thứ tiếng tiêu biểu cho “tiếng trời của người”. Tác giả bài Tựa viết : “Then máy chim bay cá nhảy há có thể có cái gì mà không dung - PQT nhấn mạnh - cho nên trong các thứ tiếng như thông xanh, tiếng chim mùa xuân, tiếng trùng mùa thu... mà lấy riêng một thứ tiếng gió bụi tre, thì cũng giống như ý hoa mai của Khang Tiết, cỏ sân của Liêm Khê nhân một vật mà mổ tìm lẽ huyền bí thôi -PQT nhấn mạnh”. Vì hiện thân tiêu biểu cho “tiếng trời của người” nên cũng như những tiếng người khác, tiếng trúc vốn “rườm rà” có “sự phân biệt tà chính”, nghĩa là có khuynh hướng theo thuật ngữ của chúng ta dùng ngày nay. Thêm vào đó, tiếng trúc còn có đặc điểm là hết sức giàu có và đa dạng: “Tiếng cao như hạt rít, tiếng trong như rồng ngậm, nhanh chóng như sóng dồn, thong thả như rước tượng” (bài Đề từ). Sự phong phú của tiếng trúc bộc lộ sự phong phú của Gió và Trúc, rộng ra của vật và người, của hiện thực và nhà văn.

            Hai đặc tính nổi bật của Tiếng trúc chỉ càng chứng tỏ mối quan hệ khăng khít giữa Trúc với Tiếng trúc, giữa người sáng tạo và sản phẩm sáng tạo. Bất cứ người đọc nào chắc cũng sẽ như Trần Thế Xương mà đặt câu hỏi: “Nhưng gió đụng vào vật thì tự nhiên chợt đến muôn sáo đều kêu, mà sao lại lấy riêng cây trúc mà đặt tên ?” (lời Bạt). Câu hỏi chỉ duy nhất một lời đáp xác đáng : Bởi trúc và người đồng điệu với nhau. Tác giả bài Tựa thừa nhận: “Tiên sinh (chỉ Ngô Thế Lân) tính rất ưa trúc, ở chỗ nào thì cũng trồng ngay ở trước song, trong lúc nhàn chơi gió thanh nhẹ đến, sang sảng nên tiếng, giác ngộ nhiệm màu”. Tác giả bài Bạt cũng có nhận xét tương tự: “Người xưa nhiều người yêu trúc, không ngờ bạn ta là Hoàn Phác Ngô tiên sinh cũng rất yêu trúc, cùng với ta thực là đồng chí vậy”. Ta hiểu vì sao Ngô Thế Lân tự đặt hiệu là Ai Trúc Trai và trong lời Đề từ ông không nén nổi cảm xúc viết  “Ôi! Trúc ơi! Trúc ơi! Ta có sở đắc ở trúc đấy”. Nhà thơ ưa trúc lấy tiếng trúc để biểu lộ tiếng lòng của mình trong thơ, “là vì trúc là cái vật có vẻ giống như cái đức của người quân tử” (bài Bạt). Trần Thế Xương còn giải thích rõ thêm: “Trúc mà đáng yêu là vì gióng thẳng mà đốt bền, cành thưa mà lá cứng, thăng thẳng, ong óng, có vẻ chọc trời”. Không phải vô cớ khi Nguyễn Trãi viết:

            Vườn quỳnh đầu có chim hót

            Cõi trần có trúc đứng ngăn

                                    (Tự thán - 40)

Cái cớ đó phải chăng là:

            Chớ cậy sang mà ép nề

            Lời chẳng phải vuỗn không nghe

Và hãy đọc đôi bài thơ “trần tình” của Ngô Thế Lân. Bài Tự vịnh có đoạn:

            Tuổi chưa đầy bốn chục,

            Lòng này chốc đã suy

           Lui cùng hươu nai bạn,

           Làm nhà dựa núi kia,

          Rồi xem sách đời cổ,

         Học được đạo Phục-hy.

Hay :

                        Gật đầu biết người cổ,

                        Nói thực chẳng dối ta

                        Quay nhìn thời tuổi trẻ

                        Mọi việc đều sai ngoa (7)

Có cái tiêu cực trong hành vi của dật sĩ; cũng có cái có thể hiểu được, chấp nhận được trong hành vi ấy khi ta biết ông sống giữa thời cuộc đảo điên, đục trong lẫn lộn:

                        Nội mai không gió khói lên thẳng

                        Hoa núi sương gieo hoa mới tươi (8)

                                    (Ngày xuân ngẫu hứng)

            Cái chất ấy của thơ từ cái chất người cứng cỏi trong sạch đấy thôi. Thêm một tia sáng soi rọi câu phán đoán  “trúc vốn là hư không” ở bài Đề từ . “Hư không” còn có nghĩa là thanh bạch, danh lợi không màng. Có gì gần gũi giữa ông với người cùng thời với ông: Ngô Thì Chí. Học giả họ Ngô một lần kể lại rằng: “Gần đây nhân ở trọ tại ấp bên, dân ấp ấy quê mùa lại vụng dại, chốn ấy là nơi dấu chân của các bậc tao nhân mặc khách từ xưa chưa hề đặt tới. Ta lui về sống cùng họ ở đây, những lời danh lợi được mất không lọt đến tai, những mong mỏi viễn vông, mưu toan cầu cạnh cũng không gieo vào lòng họ được. Có lẽ vì tinh thần vui vẻ như ở nước vô tư mà thiên cơ hiện ra. Lúc thiên cơ nảy sinh thì thành những thú vui : mà cất cao tiếng gọi, mà ngâm nga hào hùng” (trích từ  Học Tôn công di thảo)(9).

            Tiếng trúc phát ra tất có người nghe. Cái lôgic ấy đưa các học giả từ lời bàn về quan hệ giữa Trúc và Gió (tác giả và hiện thực), giữa Trúc và Tiếng trúc (tác giả và tác phẩm) đến những lời bàn về Tiếng trúc với người nghe (tác phẩm và người đọc). Bài Đề từ  viết: “Tuy thế, nhưng sở dĩ xướng phát thiên cơ du dương chân vận, thì cũng là ở chỗ người nghe nhận lấy thôi”. Tiếng nguyên chất của trời cũng lay động người nghe mà không thức tỉnh họ. Thứ  tiếng đó chỉ “khiến cho người nghe bỗng nảy ra lòng xa xôi như hạc nội, tứ xa xôi như mây ngàn” (Nguyễn Dưỡng Hạo). Cái nguyên cớ ở tiếng trời vốn “nguyên chất” không “phân biệt chính tà” nghĩa là không thể định hướng người nghe. Chức năng xã hội của văn chương bật ra chính từ đó: “... Thanh điệu thiên nhiên, đều được tính tình đúng đắn, cũng như trúc với gió vậy, tùy động tùy phát, âm vận không cùng, mà người không biết chán vì phiền vậy - PQT nhấn mạnh”.

            Vào thế kỷ XVIII, Nguyễn Quýnh cũng đã bàn về công việc sáng tác của nhà văn: “Người như sông biển, chữ như nước, hứng thì như gió. Gió thổi tới sông biển cho nên nước lay động làm thành gợn, thành sóng, thành ba đào. Hứng chạm vào người ta cho nên chữ nổi dậy, không thể nén được mà sinh ra ở trong lòng, ngâm vịnh ở ngoài miệng, viết nên ở bút nghiên, giấy mực” (10) . So với lời bàn súc tích này, các tác giả bài Đề từ, Tựa, Bạt Phong trúc tập có thể chưa chú ý nhiều đến “hứng”, nhưng như đã phân tích, cái nhìn của họ về quá trình sáng tạo của nhà văn toàn diện và phong phú hơn nhiều. Về đại thể, những ý kiến của các học giả đưa ra là xác đáng vì cách nhìn cơ bản là hiện thực. Một đôi vấn đề lý luận vẫn còn là những điểm thời sự nóng hổi của ngày hôm nay. Ví như, phải chăng mối quan hệ giữa tác phẩm và người đọc vẫn còn là khoảng trống nhất định trong ý thức của các nhà nghiên cứu và trong thực tế của nền lý luận chúng ta.

 


(1)  Ngô Thế lân tự Hoàn Phác, hiệu Ai Trúc, quê ở Vu Lai, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên. Ông là người học rộng, thơ hay. Ông sống ẩn dật dưới thời các chúa Nguyễn, nhưng khi Tây Sơn nổi dậy, thì ra cộng tác với Tây sơn.

(2) Xin đọc những tư liệu này trong Lê Qúy Đôn toàn tập, Tập I, “Phủ biên tạp lục”, Nxb Khoa học xã hội, H., 1977, từ tr.285 đến tr.288.

(3) Những lời trong ngoặc kép là của Phan Huy Chú (Tạp chí Văn học số 2 - 1978).

(4) Trích từ “Lâm sào cư sỹ Huyền Trai công di thảo” trong “Ngô gia văn phái” - xem Từ trong di sản... (Sđd), tr.80.

(5)  Lục kinh là Kinh Thi, Kinh thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc, đó là những sách kinh điển của nhà Nho.

(6)  Nxb Khoa học Xã hội - H., 1973, tr.145.

.(7)  Bài dịch theo Lê Qúy Đôn toàn tập, Tập I (Sđd), tr.289.

(8)  Bài dịch theo Lê Qúy Đôn toàn tập, Tập I (Sđd), tr.290.

(9)  Từ trong di sản ... (Sđd), tr.77 - 78.

(10)  Từ trong di sản ... (Sđd), tr.103.