Vài kết luận

Trở lên trên là những điểm cơ bản nhất trong di sản lí luận văn chương của Lê Quý Đôn. Có thể rút ra nhiều điều gì từ đó?

-           Quan niệm văn chương cũa Lê Quý Đôn thường bộc lộ đây đó trong những lời bàn khác nhau của ông đối với đời sống văn hóa, rộng ra là đời sống tinh thần của con người và xã hội. Ngay trong những chuyên mục ý kiến về văn chương của ông tập trung hơn cả thì những lời bàn vẫn liên quan đến nhiều lĩnh vực đời sống của con người. Tuy vậy, những điều rút ra ở trên chủ yếu liên quan tới “văn chương”, nghĩa hẹp nhất của từ “văn”.

-           Quan niệm văn chương của nhà bác học Lê Quý Đôn được trình bày khi trực tiếp, khi gáin tiếp, khi là ý mình, khi là ý người, bao trùm hầu như toàn bộ các vấn đề cơ bản của lí luận văn chương như: khái niệm văn chương; vai trò, chức năng của văn chương; văn chương và đời sống hiện thực; nội dung và hình thức của tác phẩm... Đúng như Giáo sư Vũ Khiêu đã nhận xét: quan điểm mĩ học và văn học của Lê Quý Đôn “cực kỳ phong phú” (Tạp chí Văn học 6-1984). Đặc sắc và thấm thía nhất là nhiều lời bàn của ông về thơ và về quan hệ giữa văn chương với dân tộc. Nhiều ý kiến sâu sắc của ông đã trở thanh kinh điển có mặt trong hầu hết các công trình lí luận văn chương hiện đại ở nước ta.

-           Những ý kiến của Lê Quý Đôn về mặt văn chương nằm trong hệ thống tri thức phóng phú, sâu sắc của nhà bác học đối với tự nhiên, xã hội và con người. Qua ông. ta nhận thấy tầm cao trí tuệ mà con người Việt Nam ở thế kỷ XVIII đã đạt được quả đáng khâm phục. Thêm một minh chứng về bộ óc tài năng của nhà bách khoa Lê Quý Đôn.

-           Quan điểm văn chương của học giả họ Lê nằm trong mối tương quan chặt chẽ với hệ thống tư tưởng của ông: Tư tưởng chính trị, triết học, học thuật, đạo đức... Trong hệ thống đó quan điểm văn chương vừa chịu ảnh hưởng vừa tác động trở lại các quan điểm khác, ở cả phía tích cực và tiêu cực. Điều này chứng tỏ tính nhất quán trong tư tưởng phong phú và phức tạp của Lê Quý Đôn – một đặc điểm thường thấy ở các nhà tư tưởng lớn của thời trước. Nó đồng thời chứng tỏ sự thống nhất giữa nhân cách khoa học với nhân cách chính trị, nhân cách nghệ sĩ trong con người lịch sử Lê Quý Đôn.

-           Quan niệm văn chương tương đối hệ thống của Lê Quý Đôn là kết quả của sự suy ngẫm và nhiều khi là sự thể nghiệm của chính bản thân ông đối với văn thơ. Song kết quả có được chủ yếu là nhờ đcọ sách, đúng hơn là nhờ biết đọc sách. Bởi vì Lê Quý Đôn không chỉ hấp thụ mà còn sáng tạo, không chỉ tiếp thu mà đóng góp xứng đáng vào kho tàng tri thức của dân tộc và nhân loại. Nghĩ tới ông, ta nghĩ tới câu nói của người xưa: “Thanh ư lam nhi thắng ư lam” (màu xanh từ màu lam song hơn hẳn màu lam).

-           Có nhà nghiên cứu đã gọi thế kỷ XVIII – thế kỷ sản sinh ra thiên tài Lê Quý Đôn là giai đoạn “tập đại thành văn hóa Việt Nam” (Đặng Thanh Lê). Riêng trên lĩnh vực quan niệm văn chương, Lê Quý Đôn là nhà tư tưởng, nhà lí luận đã hấp thụ nhiều ý kiến của các bậc danh nho Việt Nam trước đó, nâng lên một tấng cao mới mà thời đại ông cho phép.

-           Việc đào sâu và mở rộng các quan niệm văn chương đa dạng của Lê Quý Đôn giúp ta thêm một tiếng nói giàu sức thuyết phục để khẳng định: Quả tổ tiên ta đã để lại một di sản lí luận quý báu cho con cháu. Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn từ lâu đã khẳng định “không thể không nói đến tính kế thừa” về lí luận văn học. Giáo sư đồng thời nhắc nhở các nhà lí luận nên tránh khuynh hướng cho rằng trước kia ta không có gì để mà kế thừa: “Cần phải thấy Việt Nam ta vẫn có vốn phong phú để ta xây dựng lý luận văn học cũng như các khoa học khác” (Tạp chí Văn học 6-1970). Có điều, do hoàn cảnh riêng mà di sản này tiềm ẩn dưới dạng đặc thù. Phải có con mắt “xanh” mới mong nhận ra, phải có lòng ân nghĩa sâu nặng mới mong khám phá. Đó là tiền đề của mọi tiền đề tạo ra mọi kết quả trong nghiên cứu quan niệm văn chương cổ Việt Nam.

-           Ảnh hưởng quan niệm văn chương của Lê Quý Đôn tới đương thời và hậu thế là rất lớn. Tại sao vậy? Trước tiên là do những lời bàn của ông đa phần chí lý, có cơ sỏ sách vở và thực tế. Sau nữa, và điểm này không kém quan trọng, ở ông nói và làm thường thống nhất với nhau. Rất mừng là những gì tinh hoa nhất trong di sản lí luận văn chương ông để lại đã được các thế hệ học giả về sau tiếp nối và nâng cao. Cho đến giờ nước nguồn trong trẻo vẫn “từ trong di sản...” chảy ra.

Những đóng góp của nhà bác học Lê Quý Đôn vào kho tàng lí luận văn chương cổ là lớn và quý. Tuy vậy quan điểm văn chương của ông vẫn không thoát ra khỏi những giới hạn tất yếu của giai cấp và thời đại. Ta biết lập trường của ông là lập trường của giai cấp thống trị. Ông lại sống trong giai đoạn lịch sử chế độ phong kiến đã ruỗng nát. Hầu như trong suốt cuộc đời mình, ông phụng sự triều đại Lê – Trịnh, tìm mọi phương cách cứu nguy chế độ đã lỗi thời. Không phải hết thảy những việc ông làm đều chỉ nhằm phục vụ giai cấp thống trị. Ông còn phần nào quan tâm đến nước, đến dân. Tiếc rằng đến khi nhắm mắt, hoài bão chính trị của ông nhìn chung không được toại nguyện. Vài năm sau, ngọn cờ Tây Sơn đã được phất cao và phong trào nông dân tiến bộ vào bậc nhất trong lịch sử đã đi tới thắng lợi. Ông không kịp chứng kiến sự kiện long trời lở đất ấy. Mà đã chắc gì ông có thể hiểu những gì sẽ diễn ra. Thiện ý và thực tế ở đời không hẳn khi nào cũng cùng đường. Nói thế để hiểu Lê Quý Đôn hơn, cũng để hiểu những hạn chế khó tránhkhỏi trong quan niệm của ông. Đúng như nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại đã viết: “Đó là những hạn chế tất yếu của thời đại, của lịch sử, Lê Quý Đôn không thể nào một mình vượt qua khỏi những hạn chế đó” (50).

Những hạn chế đó là gì? Như phần đông nho sĩ cùng thời, Lê Quý Đôn coi thường văn thơ Nôm. Một bộ tuyển thơ khá rộng rãi trong tuyển chọn như “Toàn Việt thi lục” vẫn không có lấy một bài thơ Nôm. Số phận của văn Nôm cũng thế. Trong “Đại Việt thông sử” ông có nhắc tới “Kim Lăng kí” của Đỗ Cận. Không một lời ca ngợi, ông còn đưa ra một nhận xét không mấy thiện cảm: “Toàn dùng Quốc ngữ ghi phong tục ở Nam Kinh, Trung Quốc” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 109). Với các tác giả nữ, cách nhìn của Lê Quý Đôn cũng không khác. Ông viết: “Thơ văn đề vịnh, không phải là việc nên làm của giới phấn son” (Từ trong di sản – Tr. 90). Không phải ông không nhận ra tài năng văn chương của phái nữ. Đọc sách Thánh hiền ông biết “trong 300 bài Kinh Thi thì phần nhiều là lời lẽ của đàn bà con gái”. Ông cũng cảm phục tên tuổi của Dị An, Hy Hạnh, hai nữ sĩ có tiếng ở Trung Quốc. Trong nước mình, Lê Quý Đôn từng đọc “Truyền kỳ mạn lục” có nhắc đến thơ của Ngô Chi Lan, “một người tài hoa” (như ông thừa nhận). Lê Quý Đôn có thời thường gặp gỡ, đàm đạo chuyện đời, chuyện thơ cới nữ sĩ Đoàn Thị Điểm cùng cháu gái của bà là Đoàn Lệnh Khương, những người ông không giấu nổi cảm tình. Tuy nhiên, tất cả những hiểu biết và tình cảm củ Lê Quý Đôn dành cho các tài năng nữ chỉ đủ để khiến ông đưa thơ của họ vào phần phụ lục của “Toàn Việt thi lục” mà thôi.

Đáng nói nhất là sự chi phối trực tiếp của ý thức hệ giai cấp tới quan niệm văn chương của Lê Quý Đôn. Có thể nói về cơ bản, học giả họ Lê vẫn chưa thoát khỏi qua niệm chính thống của giai cấp xuất thân. Điều này đã phần nào chi phối tới nhận xét đánh giá của ông về một số hiện tượng văn chương mà tiêu biểu hơn cả là trường hợp Nguyễn Bỉnh Khiêm và Lê Trắc. Trong thiên “Tài phẩm”, Lê Quý Đôn có nhắc tới và đề cao tài năng và phẩm hạnh của nhiều nhà thơ, nhiều học giả. Vậy mà tác giả “Bạch vân am thi tập” nổi tiếng không được nhắc tới một lời ngoài câu chú thích không mấy quan trọng của Chu Xán trong “Sứ Giao Ngâm”. Có phải vì nhà chính trị họ Lê nghĩ rằng nhà lí học ấy đã cộng tác với “Ngụy Mạc”? Phần chắc là đúng như thế! Lê Mạc phân tranh chỉ là mâu thuẫn trong nội bộ phong kiến. Việc ông phò Trịnh và Nguyễn Bỉnh Khiêm phò Mạc thì có khác gì nhau! Những lời của ông dành cho Lê Tắc, tác giả “An Nam chí lược” một tên phản quốc từng cùng với Trần Ích Tắc “đầu hàng nhà Nguyên” mới thật lạ lùng. Lê Quý Đôn cho việc hắn “chép sách và trồng trọt, nhà cửa xơ xác mà ngày nào cũng có khách đến chơi. Ngoài ra không thèm lưu ý việc gì cả” là “thanh cao”!? (Kiến văn tiểu lục – Tr.256). Vốn là người có ý thức dân tộc đậm đà, vậy điều gì chỉ đạo Lê Quý Đôn trong những nhận định về Lê Trắc nếu không phải là tình cảm của những người cùng chung lập trường giai cấp. Thêm vào đó, ta biết nền tảng tư tưởng của trật tự phong kiến là Nho giáo. Giáo lý của Nho gia tập trung trong Tứ Thư, Ngũ Kinh. Do vậy không lấy làm lạ khi từ lâu ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam đã tồn tại quan niệm coi Lục Kinh là căn nguyên của văn chương. Trong Điều 16 mục Văn nghệ, Lê Quý Đôn có dẫn ra lời của Lưu Hiệp: Sách Văn tâm điêu long nói: “Luận thuyết, từ, tự, thì Kinh Dịch là đầu; chiếu, sách, chương, tấu thì phát nguyên từ ở Kinh Thư; phú, tụng, ca, tán thì khởi đầu ở Kinh Lễ; kí, truyện, di, kịch thì gốc ở Kinh Xuân Thu”. Ông đồng thời đưa ra lời bình của Tăng Nam Phong: Ở đây ta thấy rõ nghĩa câu “Văn chương nguyên bản lục kinh”, và nhận xét của bản thân: “Thật cũng là hiểu thấu lẽ ấy”. Khi bàn về văn thể ký truyện và văn viết sửm Lê Quý Đôn cũng khẳng định: “Nội dung và ý nghĩa của các sách đó không ra ngoài Lục Kinh” (Từ trong di sản – Tr. 97). Nếu coi nguồn gốc của văn chương là ở sách kinh điển của nhà nho thì người làm văn dù muốn dù không cũng phải đập vỡ từng lời từng ý của cổ nhân mà hút lấy tủy ngọt bên trong. Xa rời Kinh là biểu hiện của thứ văn chương èo ọt, suy thoái. Ông chê chế độ học hành, thi cử nhà Minh là “có lỗi” bởi “cổ kinh bị bỏ” (Phủ biên tạp lục – Tr. 36). Ông khuyên người sáng tác thơ: “Muốn học làm thơ, tất phải theo cổ nhân từng bước, lấy đấy làm khuôn mẫu, ra công mài giũa lâu ngày, tự nhiên phép luật và âm vận hợp thơ cổ” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 213). Khuynh hướng “dựa cổ chứng kim” (lời Lê Quý Đôn) đôi khi đẩy ông tới cực đoan tuyệt đối. Ông viết: “Hán Nho lấy nghĩa trong Kinh mà quyết việc ngục và đoán việc lớn của triều đình. Còn đời sau, thì chuyên lấy ý riêng mà quyết đoán mọi việc” (Điều 34 – Văn nghệ). Ông trách người đời rời bỏ kinh điển nên sai lầm. với ông cũng như với nhiều nhà nho khác, Lục Kinh là chìa khóa thần vạn năng có thể giải đáp được mọi vấn đề lớn nhỏ của đời. Nhà học giả ở đây rõ ràng đã nhường bước cho con người thần quyền trong ông. Đề cao Lục Kinh đi liền với đề cao Khổng Tử. Ông yêu cầu văn chương phải phục vụ cho việc tuyên truyền đạo lý và trật tự phong kiến. Trong “Kiến văn tiểu lục”, Lê Quý Đôn có ghi lại một đoạn trong tờ cáo văn phong chức cho Nguyễn Bảo (đỗ Tiến sĩ đời Hồng Đức): “Ung dung lễ nhạc giúp rập tốt chính trị các triều; trang nhã văn chương khôi phục lại giáo thanh tam đại”, rồi cảm kích nhận xét: “Câu ấy có lẽ là ngòi bút tả một cách tột bậc” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 273). Cũng do ảnh hưởng quan niệm văn chương của Khổng Tử mà đây đó ông còn quá chú trọng tới vái trò của nội dung trong quan hệ với hình thức của tác phẩm. Ông viết: “cho nên người có đức tất biết ăn nói; người có hạnh tất có học” (Điều 2 – Văn nghệ). Có thể nghĩ ngay đến câu nói không hoàn toàn thuyết phục của Khổng Tử: “Hữu đức giả tất hữu ngôn, hữu ngôn giả bất tất hữu đức” (51) (Luận Ngữ - Hiếu vấn). Chẳng cần giải thích cũng thấy rỏ sự phiến diện trong cách nhìn như vậy.

Xin nói thêm, mặt hạn chế này trong tư tưởng văn nghệ của lad được bộc lộ khá phổ biến ngay cả trong tư tưởng của các nhà nho tiến bộ vào bậc nhất của thời trước. Ngô Thì Sỹ, bạn ông, một mực nhật thức rằng: “Dù là ngâm vịnh mây ráng, thưởng thức gió trăng, nhưng kì thực thì không rời khỏi đạo thường của cha con vua tôi” (52). Ngô Thì Nhậm, thế hệ ngay sau ông, cũng khẳng định: “Thơ để vịnh lời, lời để chở đạo, đạo là trung hiếu vậy” (Cẩm đường thi tập tự). Ngay đến đầu thế kỷ XX, nhà nho Cao Xuân Dục vẫn còn lẩn quẩn trong vòng quan niệm xưa cũ ấy. Thậm chí, tệ hơn nhà nho họ Cao còn đồng nhất Lục Kinh với văn chương: “Không có thứ văn nào là cổ hơn Lục Kinh. Sâu xa thay, khó khăn thay!” (Đề Kin giang Nguyễn tướng công thi văn thập tự). Ta có thể thấy ngay dấu ân sâu đậm của khuynh hướng bảo thủ trong không khí học thuật thời Nguyễn. Chính vua Tự Đức đã từng nhất mực tuyên bố: “Đạo là văn, văn tức là đạo”. Quan điểm văn chương của Lê Quý Đôn như ta đã biết, chưa đến mức dập khuôn theo Tống Nho đến thế. Có điều ảnh hưởng cả tích cực lẫn tiêu cực của Nho giáo truyền thống, nhất là Khổng giáo tới ông thì rất dễ nhận ra.

“Mĩ trung” của học giả họ Lê vậy là còn “bất túc”. Nhưng nếu đánh giá nhân vật lịch sử chủ yếu xem họ đã cống hiến được những gì so với thời trước đó thì đóng góp của Lê Quý Đôn đối với nền học thuật và tư tưởng trong đó có tri thức và quan niệm văn chương của dân tộc là hiển nhiên và lớn lao. Hơn thế, không ít quan niệm văn chương của Lê Quý Đôn cho tới nay “còn giữ nguyên giá trị thời sự” (Giáo sư Lê Đình Kỵ) hoặc chí ít “chúng ta vẫn tôn trọng” (Giáo sư Trương Chính). Lê Quý Đôn hoàn toàn xứng đáng với lòng cảm phục, niềm tự hào của chúng ta hôm nay cũng như con cháu mai sau dành chô ông.

 

 

CHÚ THÍCH

(1)   Tạp chí Văn học, số 6.1984.

(2)   Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam, tr.15.

(3)   Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam, tr.22.

(4)   Có học giả cho là “Toàn Việt thi tập” mới đúng.

(5)   Vân đài loại ngữ I, tr.40.

(6)   Vân đài loại ngữ II, tr.86.

(7)   Văn hóa nghệ thuật, số 43.

(8)   Tạp chí Văn học, số 4.1969.

(9)   Về khái niệm văn học Trung Quốc, Nghiên cứu nghệ thuật, số 5 và số 6.1981.

(10)      Trong cuốn sách này chúng tôi dùng “văn chương” thay cho “văn học”.

(11)      Xem thêm “Lịch sử Mỹ học Trung Quốc thời phong kiến”, Phạm Quang Trung (ĐH Đà lạt - 1987).

(12)      Lê Quý Đôn Toàn tập, tập III, tr.26 (từ đây viết tắt là Đại Việt thông sử).

(13)      Từ trong di sản..., tr.86 (từ đây viết tắt là Từ trong di sản).

(14)      Lê Quý Đôn Toàn tập, tập II, tr.266 (từ đây viết tắt là Kiến văn tiểu lục).

(15)      Dẫn theo Đào Phương Bình.

(16)      Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam, tr.48.

(17)      Theo “Lê Quý Đôn”, Bùi Hạnh Cẩn, Nxb Văn hóa, 1985.

(18)      Quần thư khảo biện (chuyển dẫn).

(19)      Dẫn theo Đào Phương Bình, Tạp chí Văn học, 6.1976.

(20)      “Thượng kinh” là tên gọi Thăng Long thời đó. Tác phẩm gồm chừng 1 vạn chữ. Tác giả mở đầu và kết thúc bằng những câu chan chứa lòng tự hào dân tộc:

Mở: “Sông núi hữu tình đâu bằng Thượng kinh

Cảnh vật tốt tươi phong phú khắp nơi”

Kết: “Ôi! Thế mới biết đất Thượng kinh nước Việt có thể so sánh với hai kinh đô Đông Tây của nhà Hán, cũng là nơi đô hội nhất, nào nhiệt nhất, trong vòm trời, từ xưa tới nay”

(Theo Bùi Văn Nguyên, Tạp chí Văn học, 6.1978).

(21)      Chuyển dẫn.

(22)      Chuyển dẫn.

(23)      Lê Quý Đôn Toàn tập, tập I, tr.266 (từ đây viết tắt là Phủ biên tạp lục).

(24)      Chuyển dẫn.

(25)      Trần Lê Sáng – Thử tìm hiểu quan niệm “Thi ngôn chí” của nhà nho, Tạp chí văn học, số 1/1973

(26)      Báo Văn hóa và Thể thao, số 17 – 14/4/1993.

(27)      Thi pháp học ngôn từ, P. Grin Tser, “Những vấn đề văn học”, số 1/1984 (Tiếng Nga).

(28)      Từ trong di sản... tr.28.

(29)      Từ trong di sản... tr.63.

(30)      Từ trong di sản... tr.74.

(31)      Từ trong di sản... tr.56.

(32)      Từ trong di sản... tr.85.

(33)      Thi pháp học ngôn từ, “Những vấn đề văn học” (Tiếng Nga).

(34)      Mỹ học cổ đại, V. Tatarkêvich, “Nghệ thuật”, 1977, tr.191.

(35)      Thi pháp học ngôn từ, “Những vấn đề văn học” (Tiếng Nga).

(36)      Thi pháp học ngôn từ, “Những vấn đề văn học” (Tiếng Nga).

(37)      Theo cách dịch của Trần Thanh Mại.

(38)      Theo Trang Tử thì Tề Hài là cuốn truyện ghi chép loại truyền thuyết dân gian của đời xưa, nên Đào Phương Bình dịch là:

“Lá lốt thay trà làm nước uống

Trước đèn giở đọc truyện dân gian”.

(39)      Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam, tr.112.

(40)      Trần Lê Sáng, “Thử tìm hiểu...”, tr.116.

(41)      Trần Lê Sáng, “Thử tìm hiểu...”, tr.117.

(42)      Nguyên bản chữ Hán.

(43)      Tập thơ của Thái Thuận, đỗ tiến sỹ năm Hồng Đức thứ 6 (1475).

(44)      Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam, tr.112-113.

(45)      Bùi Văn Nguyên, “Lê Quý Đôn – nhà bác học có ý thức về nền văn hiến dân tộc”

(Tạp chí Văn học, 6.1984).

(46)      Từ điển văn học, Tập II, tr. 403.

(47)      Hiện còn nhiều giả định. Giáo sư Phạm Huy Thông từng đặt câu hỏi nghi vấn: “Tập thơ này gồm 20 quyển hay 15 quyền hay 6 quyển, 807 hay 897 hay 2391 bài” (Tạp chí Văn học, 6.1984).

(48)      Tất cả những đoạn trích sau đều lấy trong “Từ trong di sản...”, tr.85-90.

(49)      Trần Lê Sáng, “Thử tìm hiểu...”.

(50)      Tạp chí Văn học, số 4.1960.

(51)      Người có đức tất biết ăn nói, người có tài ăn nói chưa hẳn đã có đức.

(52)      Theo “Lịch triều hiến chương loại chú” (Phan Huy Chú), Tập IV, tr.168.

 

Comments