Thơ với Lê Quý Đôn

Như nhiều nước khác ở phương Đông, ở Việt Nam thơ là thể tài ra đời sớm nhất. Hiểu thơ đồng thời tiêu biểu nhất cho cách hiểu “văn” là “văn chương” nghĩa là cách hiểu hẹp nhất của từ này. Vào thời Hán bên Trung Quốc thi ca rất phát triển, đến mức nhà nghiên cứu Lưu Thiện Huệ nhà Thanh cho rằng: “văn chỉ còn là thơ và phú”. Và lần đầu tiên “văn” tách ra khỏi triết, sử để chỉ nghệ thuật ngôn từ. Sau đó ở Trung Hoa “thi thoại” rất phong phú và độc đáo. Những tên tuổi lớn của nền mĩ học Trung Quốc dường như đều gắn với các công trình lí luận về thơ. Ở Việt Nam phần nào cũng vậy. Hầu như không một người cầm bút nào kể cả “nhà trước thuật” lẫn “nhà ca vịnh” lại không một lần bàn tới thơ. Vì lẽ đó, muốn xem các học giả xưa hiểu văn chương với những nét riêng biệt của nó ra sao cần nắm vững quan niệm về thơ của họ. Đấy là chưa nói, thơ (nhất là thơ trữ tình) vốn là thể tài lớn, rất quan trọng của văn chương.

Giống nhiều bậc danh nho khác, Lê Quý Đôn không chỉ có tài làm thơ mà còn rất am hiểu thơ. Hai khả năng nàu trong ông gắn bó với nhau: quan niệm thơ chỉ đạo ông sáng tác và ngược lại, sáng tác lại làm ý kiến về thơ của ông trở nên sâu sắc, thấm thía hơn. Thực tế, lời bàn trực tiếp về thơ của Lê Quý Đôn không nhiều nhưng khá súc tích và đặc sắc. Nói đến quan niệm thơ của người xưa, ta nghĩ ngay đến mệnh đề: “Thi dĩ ngôn chí”. Nguyên tắc thẩm mỹ này đã xuất hiện từ lâu ở Trung Quốc, trước thời Tây Hán. Cũng từ lâu nó đã ảnh hưởng tới các nhà thơ, các học giả Việt Nam. Có ý kiến cho rằng Lê Quý Đôn không chủ trương “Thi dĩ ngôn chí” (40). Cần lưu ý tìm hiểu thêm về đánh giá này. Đúng là học giả họ Lê chưa một lần trực tiếp nói “Thi dĩ ngôn chí”. Tuy nhiên ông cũng chưa một lần phê phán. Hơn thế xét kỹ ra ông còn tán đồng với “Thi dĩ ngôn chí”. Hãy nhớ lại Lê Hữu Kiều, người rất được Lê Quý Đôn kính trọng cà về nhân cách lẫn học vấn, đã từng khẳng định dứt khoát “thơ để nói chí hướng của mình” trong lời đề tựa tập thơ “Tàng khuyết” của Mai Doãn Thường (Từ trong di sản – Tr. 55). Toàn bộ bài tựa vừa nói được Lê Quý Đôn ghi lại trong “Kiến văn tiểu lục”. Còn trong “Phủ biên tạp lục” thì ông ghi lại ý kiến của Nguyễn Cư Trinh, người ông coi là “học rộng thơ hay”, trong đó cũng có câu “phàm giữ lòng là chí, nhụ ý là thơ” (Phủ biên tạp lục – Tr. 260). Cũng có thể thấy “Thi dĩ ngôn chí” đã thấm nhuần trog nhiều lời bàn về thơ của Lê Quý Đôn. Ông viết: “Triều Lê dựng nước, Đức Cao Hoàng (Lê Lợi) khi còn bận việc đánh dẹp, cũng đã làm ba bài thơ, khí phách hùng mạnh nhất đời – Phạm Quang Trung nhấn mạnh (Từ trong di sản – Tr. 86-86). Lần khác, ông nói rõ hơn khi nhận xét hai bài thơ số 9 và số 10 trong “Hà Tiên thập vịnh”: “Xem mấy bài thơ trên cũng có thể biết được chí khí – Phạm Quang Trung nhấn mạnh – của Mạc Thiên Tứ” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 231). Thêm nữa, nếu không quá khe khắt ta có thể xm việc sáng tác một số bài thơ như bài “Lư từ bổ ngư” (Chim cốc bắt cá) cũng được sự chỉ đạo của quan niệm “Thi dĩ ngôn chí”.

Lê Quý Đôn vậy là không chối bỏ “Thi dĩ ngôn chí”. Có điều “chí” trong quan niệm của ông là “tình”. “Thơ để nói chí” với ông là “thơ để diễn tình”, mà “tình” là để “nói theo lẽ thường” (Điều 43 – Lí khí). Nguyễn Thiếp nói: “Đạo là lẽ thường” (Từ trong di sản – Tr. 100), nên tình ở Lê Quý Đôn là hướng tới cái đạo “sửa sang việc đời, giúp rập nhà nước” (lời của Trần Danh Lâm nói về ông). Có gì gần gũi giữa ông với Chu Xa, người sống cách ông hai thế kỷ. Trong “Biểu dâng tập thơ Việt âm”, Chu Xa viết: “Từ Hán, Đường đến Tống, Nguyên chẳng những lắm khách làm thơ ngâm vịnh trăng gió, các nhà danh nho tài tử đem văn giúp nước cũng nhiều. Dẫu bảo rằng, do tình cảm của người ta phát ra câu văn, nhưng cũng bởi chính trị của người trên gây thành dân tục” (41). Và do đó thơ nói tình ở ông bao hàm tính tích cực xã hội rất đáng suy nghĩ và học tập.

Nhiều đại diện ưu tú đương thời như Nguyễn Cư Trinh, Lê Hữu Kiều vừa nêu trên cũng chủ trương “Thơ để diễn tình” như ông. Trong lời tựa “Mưa chiều giữ khách” Nguyễn Cư Trinh viết: “Tình hiện ra thơ” (Phủ biên tạp lục – Tr. 257). Lê Hữu Kiều cũng viết: “Thơ nói chí. Sau ba trăm bài thơ trong Kinh Thi, các bài thơ đều ngâm vịnh tính tính cả” (42). Bậc tiền bối của Lê Quý Đôn, Dương Đức Nhan từng thở than thơ thất lạc nhiều nên “Không thể xét lời thơ mà biết được tâm sự” (Từ trong di sản – Tr. 88). Dễ nhận thấy sự tiếp nối những truyền thống tốt đẹp trong quan niệm về thơ của Trung Quốc mà Khổng Tử là tiêu biểu. Không mấy ai quên câu nói nổi tiến của Đức Khổng Tử: “Tình cảm hiện ra ở lời” (Kinh Dịch).

Vậy “thơ là để diễn tình” ở Lê Quý Đôn ra sao? Trong mục “Phẩm vật”, Điều 151, ông có dẫn ra hai câu thơ của Đào Uyên Minh:

Bình trù giao viễn phong

Lương điền diệc hoài tân

Rồi Lê Quý Đôn nhận xét: “Nghe câu thơ ấy, ta tưởng thấy tình tứ của nhà thơ”. Lần khác, ông khen mấy chục bài thơ trong “Việt âm thi tập”: “đều là những bài hay, tình cảm cao đẹp, phong vị thơ còn mãi về sau” (Từ trong di sản – Tr. 85). Nhưng tập trung và nổi bật hơn cả là lời ban quen thuộc sau: “Thơ phát khởi tự trong lòng người ta. Ba trăm bài thơ trong “Kinh Thi” phần nhiều là của nông dân, phụ nữ làm ra, mà cũng có nhiều bài mà văn sĩ đời sau không theo kịp được, như thế là vì nó chân thật” (Điều 48 – Văn nghệ). Ở đây tồn tại nhiều cách dịch liên quan đến nhiều cách hiểu khác nhau của từ sau cùng (43). Trần Văn Giáp dịch “chân thật” như đoạn văn vừa dẫn; Trần Thanh Mại dịch “sự thực”; còn Tạ Quang Phát dịch “chân thành”. Xuất phát từ văn cảnh cụ thể nhất là câu đầu tiên “Thơ phát khởi tự trong lòng người ta”, có lẽ cách hiểu và cách dịch sau của Tạ Quang Phát tỏ ra thuyết phục hơn cả (Đỗ Văn Hỷ sau này cũng dịch là “chân thành” – Tạp chí Văn học số 6-1984). Lê Quý Đôn cho rằng thơ hay là thơ gây xúc động lòng người. Mà muốn làm lòng người xao động thì tình cảm của  của người viết thấm trong thơ phải chân tình, chân thành. Trong “Kiến văn tiểu lục”, Lê Quý Đôn có dẫn ra lời bình của Lữ Chính Mô khi đọc tập “Lữ đường di cảo” (43). Trong đó có đoạn: “Các bài trứ tác đều từ trong bụng đào ra, rất là tinh kỳ”. Rồi Lê Quý Đôn điểm: “Lời xưng tụng ấy rất đúng” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 273). Phát triển cái “tình” trong thơ, gắn cái “tình” với ngoại cảnh, Lê Quý Đôn viết tiếp: “Cho nên, ta thường cho làm thơ có ba điểm chính: một là Tình, hai là Cảnh, ba là Sự” (Điều 48 – Văn nghệ). Có nhà nghiên cứu từ đó rút ra rằng: Lê Quý Đôn coi Tình, Cảnh, Sự (con người, tự nhiên và xã hội) là đối tượng của thơ. Đúng ra ở đây Lê Quý Đôn muốn nói đến mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể. Giáo sư Phương Lựu nhận xét rất thấu đáo: “Như thế thì ngoài nhân tố chủ quan là “tình” ra, ông rất chú ý đến “cảnh” và “sự” tương ứng với thiên nhiên và xã hội” (44). Sau đó Lê Quý Đôn lại viết: “Trong ba điều cốt yếu ấy, lại nên lấy ôn nhu, đôn hậu làm gốc. Còn thể chế, chỉ thú, âm tiết, cách điệu đều là bàn thêm thôi” (Điều 48 – Văn nghệ). Nên hiểu “ôn nhu, đôn hậu” mà ông coi là gốc của tho ra sao? Ta biết trong “Lễ kí” thiên “Kinh Giải” Khổng Tử có yêu cầu thơ phải có “ôn nhu, đôn hậu” với ý nghĩa thơ không được phê bình gay gắt nền chính trị xã hội, không được làm lay chuyển những quan niệm về thể chế của giai cấp thống trị. Khổng Tử rõ ràng đã đứng trên lập trường bảo vệ quyền lợi của giai cấp phong kiến để đòi hỏi thi ca. Còn trong trường hợp Lê Quý Đôn ta nên hiểu ở đây ông chỉ muốn coi “tình” là gốc là quyết định trong thơ thôi. Tựa như Lê Quý Đôn đã viết trong Điều 13 – Văn nghệ: “Nếu ý hứng, tính linh vẫn vẫn giữ được bình đạm một khi nêu lên, và phát ra, lại càng thấy ung dung”. Có sự gặp gỡ giữa Lê Quý Đôn với gn` bạn tâm đầu chí cốt của ông là Ngô Thì Sỹ. Trong một làn đàm đạo về thơ, Nghị Trai đặt vấn đề: “Hôm nay tôi làm thơ, uống rượu, nhưng có thể là thưởng trăng được chăng?” (Vì hôm đó là ngày cuối tháng). Ngô Thì Sỹ cho rằng: “Sao lại không làm như thế?” “Bởi vì – học giả họ Ngô giải thích – có lòng ta đối bóng với ta là ba; sau đó Trung thu chứ sao!” (Từ trong di sản – Tr. 65-66). Nghĩa là, như ngày nay chúng ta nói, chủ quan là nhân tố quyết định trong sáng tạo. Có lẽ cả Ngô Thì Sỹ và Lê Quý Đôn đều chịu ảnh hưởng của Lê Hữu Kiều: “Trong mình sẵn nhạc Thiều, gặp đám liền tưng bừng tấu khúc; cũng như trong tay cầm hoa đẹp, đến đâu cũng gieo rắc cảnh xuân” (Từ trong di sản – Tr.56). Cái hay, cái biện chứng là ở chỗ ngoài yếu tố chủ quan (“trong mình sẵn nhạc Thiều”, “trong tay cầm hoa đẹp”) là quyết định, yếu tố khách quan bên ngoài (“gặp đám”, “cảnh xuân”) cũng có vai trò khơi gợi quan trọng. Cũng vậy, Lê Quý Đôn viết: “Tình là người, Cảnh là trời, Sự là kết hợp cả đất trời và quán thông. Lấy Tình tham cảnh, lấy Cảnh hội việc, gặp việc thì phát ra lời nói, nhân nói thành tiếng, cảnh không hẹn đến mà tự đến, nói không mong hay mà tự hay, cứ như thế có thể lên đến bậc thơ tao nhã được” (Điều 48 – Văn nghệ). Hiếm có lời bình nào về mối quan hệ giữa yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan trong sáng tạo lại xác đáng và súc tích đến thế! Chính sự giao hòa giữa hai yếu tố chủ quan và khách quan đã tạo ra nhiều xu hướng thơ văn khác nhau,. Lê Quý Đôn viết: “Người đài các, thi tụng thì thơ phải êm dịu, dồi dào. Kẻ ở nơi quân thành, biên thú thì thơ phải hoang lạnh, hào tráng. Nhà thơ ưa cảnh vật các mùa thì thơ phải có giọng thanh tao, tươi đẹp; ưa rừng núi ẩn dật thì thơ phải có thú nhàn rỗi, phóng khoáng” (Thể lệ biên soạn “Toàn Việt thi lục”). Dẫu thế nào cái “tình”, cái chủ quan trong thơ và rộng ra trong văn chương cũng quyết định hết thảy. Vậy là lại trở về quan niệm quen thuộc “văn tức là người”, có đơn giản đôi chút nhưng lại nói được cái “đạo” lớn của sáng tạo văn chương xưa cũng như nay. Lê Quý Đôn viết trong Điều 48 mục Văn nghệ: “Những bài ca, bài hành của Nhạc phủ đời Hán, đời Ngụy còn có ý vị đời cổ. Từ đấy về sau... lời thơ ở tự trong tâm phát ra không được thực”. Coi thế cũng rõ Lê Quý Đôn coi trọng cái tình trong thơ, cái chủ quan trong văn chương đến mức nào! Chớ có lạ khi Lê Quý Đôn viết: “Nếu chuộng nặn nọt, ưa mới lạ, gò gẫm từng chữ, từng câu, thơ làm ra sẽ kém” (Từ trong di sản – Tr. 88). Cùng thời với ông, Lê Hữu Trác cũng viết: “Thơ cốt ở ý, ý có sâu xa thơ mới hay” (Từ trong di sản – Tr. 101). Đó là sự ảnh hưởng? Có thể! Nhưng đúng hơn là sự gặp gỡ của những trí tuệ hơn người.

Cũng do tình cảm trong thơ không giống nhau mà có những phong cách thơ (Lê Quý Đôn gọi là “Sở trường riêng”) khác nhau. Ông viết: “Thơ đạo chí thì phải trang trọng; thơ điếu cổ thì phải cám khái; thơ đầu tặng thì phải dịu dàng” (Từ trong di sản – Tr. 88). Trên cơ sở coi trọng cái “tình” trong thơ, Lê Quý Đôn đặt ra vấn đề tu dưỡng với nhà thơ. Lê Quý Đôn khen Nguyễn Hàng đậu Tiến sĩ đời Lê, tác giả của nhiều áng văn nổi tiếng, là “người cao thượng” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 263). Trước đó, vào Trần, ông có nhắc đến năm nhân vật tài đức “là những người trong trẻo, cứng cáp, cao thượng, thanh liêm, có phong độ... Thật không phải người tầm thường có thể theo kịp được” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 258). Chỉ có nhân cách lớn mới tạo ra nhiều tài năng lớn, cùng những kiệt tác để lại cho đời. Vì vậy, ông chỉ trích một số người “hay chữ” đời Tống bên Trung Quốc là “tâm thuật không ngay thẳng (đoan chính)” (Vân đài loại ngữ II – Tr. 82). Tuy nhiên, thơ không chỉ có tình và ý, thơ của các bậc thi hào là lời hay ý đẹp “như con phượng thì có cánh sắc, lông sặc sỡ; con báo thì có lông trơng mượt; trang sức ở bên ngoài với chứa đựng ở bên trong, vẫn là một” (Điều 2 – Văn nghệ). Cho nên ngoài việc trau dồi tính tình nhân cách, người làm thơ không được phép xao nhãng rèn luyện tay nghề. Lê Quý Đôn viết: “Sao không thể làm thể thơ này lẫn thể thơ khác thì mới tin là thực” (Từ trong di sản – Tr. 88). Nghề văn thật khó thay! Người đến thì nhiều mà người ở lại nào có bao nhiêu. Cái khó nhất của nghề văn, theo Lê Quý Đôn, là ở chỗ “thần tình”. Ông viết: “Đọc sách nên xem được chỗ thần tình, mà làm văn cũng quý có thần tình” (Điều 7 – Văn nghệ). Mà điều đó chủ yếu tùy thuộc ở phẩm chất người làm văn.

 

Comments