Quan niệm văn chương hiện thực của Lê Quý Đôn

Lê Quý Đôn sống vào thời kỳ lịch sử mà đặc điểm nổi trội của văn chương dân tộc biểu hiện ở chỗ: gắn liền với giá trị nhân đạo là giá trị hiện thực, cả trên phương diện sáng tác lẫn trên phương diện quan niệm – hai mặt này ảnh hưởng qua lại rất biện chứng. Vậy quan niệm văn chương hiện thực của ông ra sao? Nắm được vấn đề then chốt đó ta sẽ có điều kiện nhận ra rõ hơn dấu ấn của thời đại tới ông cũng như những đóng góp trở lại của ông đối với thời đại qua một giao điểm rất tiêu biểu và giàu ý nghĩa: Giá trị hiện thực của văn chương.

Kể từ khi nhà nước phong kiến Việt Nam có biểu hiện suy vong văn chương bắt đầu chú ý hơn đến đời sống của nhân dân. Thời buổi đã đổi khác, văn chương cũng phải đổi khác. Mà hiện thực thì mảng đen tối ngày càng lấn lướt. Chỉ riêng mặt đạo lý của xã hội cũng đã thay đổi đến đảo ngược. Trong “Kiến văn tiểu lục”, Lê Quý Đôn giải thích hai từ “xướng nhi” và “xướng ưu” như thế này: “Hát xướng có ý chế giễu người làm cha làm mẹ, gọi là con hát (xướng nhi). Múa hát có ý bôi nhọ người làm vua làm quan, gọi là phường chèo (xướng ưu)” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 72). Đã lùi vào dĩ vãng cái thời vua ra vua, tôi ra tôi; con ra con, cha ra cha – cái thời đạo lý được xem là trọng. Bởi vậy, những gì mà nhà văn chân chính “mục kích sở thị” không làm họ an lòng. Trên phương diện quan niệm nhiều học giả đã chú trọng nhiều hơn đến giá trị hiện thực của văn thơ. Trước Lê Quý Đôn hai thế kỉ, Chu Xa trong “Biểu dâng tập thơ Việt âm” đã viết: “Gây thịnh trị trong đời vua Thuấn cũng do ở sự canh ca, xét phong tục các nước đời Chu, thấy rõ ở lời vịnh phúng” (25). Có thể thấy khá rõ ảnh hưởng quan niệm “thi khả dĩ quan” của Khổng Tử tới Chu Xa, nhưng rõ hơn là đòi hỏi của chính cuộc đời – có học xưa cũng trên định hướng chính của thời cuộc là vậy. Cùng thời Lê Quý Đôn, Ngô Thì Sỹ viết: “Văn chương ăn nhập với thế nước tục dân” (Từ trong di sản – Tr. 107). Song có lẽ không ở đâu mối quan hệ văn chương và đời sống lại được trình bày tập trung và sâu sắc như các bài đề từ, tựa và bạt “Phong trúc tập” của Ngô Thế Lân được ông ghi lại toàn bộ trong “Phủ biên tạp lục” (Phủ biên tạp lục, từ Tr. 285 đến Tr. 288). Mối quan hệ giữa nhà văn và hiện thực trong các tư liệu vừa nói được biểu trưng bằng mối giao hòa giữa Trúc và Gió. Trong quan niệm của các tác giả, Trúc và Gió vốn tồn tại riêng rẽ, độc lập với nhau. Nguyễn Dưỡng Hào, tác giả bài Tựa, viết: “Trúc không có ý với gió – Phạm Quang Trung nhấn mạnh, nhưng gió đến thì trúc động mà sinh ra tiếng; lòng không dụng vật – Phạm Quang Trung nhấn mạnh, nhưng vật tiếp thì lòng cảm mà thành thơ”. Vậy là về cơ bản tác giả đã đứng trên lập trường duy vật tự phát để xem xét vấn đề. Khi tồn tại độc lập không phụ thuộc vào nhau, mỗi loại mang đặc điểm riêng xác định: “Gió là cái vật không có chất mà có hơi, Trúc là cái vật có chất mà không có ruột” (Lời đề từ). Đặc điểm riêng của từng loại định rõ mặt hạn chế và ưu thế của chúng. Chính vì vậy muốn tạo nên tiếng, Trúc và Gió, có thể, cần phải rõ ràng đã nương tựa vào nhau, kết hợp với nhau. Chỉ trong sự giao hòa đó, mỗi loại mới tự khẳng định được mình trong việc tạo nên tiếng: “Trúc nhờ Gió mà có tiếng, Gió nhờ Trúc mà thành vết” (Lời đề từ). Mối quan hệ qua lại giữa nhà văn và đời sống, chủ quan và khách quan thật rõ!

Quan niệm văn chương hiện thực ở Lê Quý Đôn còn có căn cứ sâu xa từ nhiều mặt khác nhau trong tư tương của ông. Trước hết là tư tưởng triết học. Học thuyết lí khí ở Lê Quý Đôn rất phức tạp. Không ít những mệnh đề duy tâm. Ông cho rằng: “Không những số phận của nhà nước, hưng hay suy, mà phận mệnh của của những sĩ phu , cùng hay đạt, cũng được dự định ở trong chỗ u minh” (Điều 42 – Lí khí). Nổi bật là ảnh hưởng của thuyết tâm học Dương Vương Minh (1472-1528) tới ông. Trong điều 50 (Lí khí), Lê Quý Đôn khen câu nói của Quách Phác là “Lời bàn xác đáng cho nghìn đời” khi học già này viết: “Vật gì cũng vậy, tự nó không lạ, đợi người nói đến mới hóa ra lạ; Vậy cái lạ là tự ta chứ không phải tự vật”. Cũng nhiều khi Lê Quý Đôn rơi vào trung dung, thiếu triệt để như ông tuyên bố: “Khí là lí” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 431). Nhưng có thể nói quan niệm lí khí của ông về cơ bản là tiến bộ và tích cực. Ông thấy rõ được tính thống nhất và vai trò bao trùm của khí: “Trời đất cùng một khí” (Điều 31 – Khu vũ), “Khí rất thần diệu, rất tinh vi. Khí mà thịnh tất nhiên thư thái; Khí mà suy thì phải co rút... xem thời cục trị hay loạn thì biết” (Điều 20 – Lí khí). Lê Quý Đôn đồng thời nhận ra quan hệ giữa lí và khí: “Lí ngụ ở khí” (Điều 36 – Lí khí). Trong quan hệ này lí cũng có vị trí thích đáng: “Không có gì là không có lí ở trong cả” (Điều 53 – Lí khí), “Trong khoảng vũ trụ chỉ có một lí mà thôi” (Điều 43 – Lí khí). Rõ ràng Lê Quý Đôn cơ bản đứng trên lập trường duy vật để giải quyết mối tương quan giữa lí và khí. Ông từng nói dứt khoát: “Người ta tạo nên vận mệnh, chứ không phải vận mệnh tạo ra người” (Điều 30 – Lí khí). Cao hơn nữa, nhà bác học đã tiếp cận đến cái nhìn khá biện chứng khi nhận ra mối liên hệ giữa trời và người: “Nhật thực có thường độ; những việc người biến đổi cùng với nhật thực thường có liên quan”. Vậy với ông, trời và người cùng một lẽ. Và cả đất nữa. Trong “Khu vũ” ông viết: “Kinh dịch nói: “Cùng thì biến, biến thì thông”. Vận trời khi bĩ, khi thái bất thường; khí đất khi suy khi vượng có khác; Về việc người thi khi phế khi hưng bất thường. Cả ba điều ấy đều có liên quan với nhau” (Điều 35). Tư tưởng triết học của ông, xem xét kỹ, quả có nhiều điểm khá gần gũi với chúng ta ngày nay!

Cùng với quan điểm triết học, quan điểm soạn sử của Lê Quý Đôn cũng có nhiều điểm vượt lên so với đương thời. Có htể về mục đích chép sử của ông vẫn chưa vượt qua hẳn quan niệm “nêu gương” quen thuộc. Trong lời tựa “Đại Việt thông sử”, ông yêu cầu: “Tự thuật gọn mà nghiêm để khỏi mất cái nghĩa khen chê công bằng” tựa Kinh Thư và Xuân Thu đã làm. Nhưng, với Lê Quý Đôn, mục đích chính của việc chép sử vẫn là: “Mỗi sự kiện đều nhặt đủ không bỏ sót, để cho người ta sau khi mở sách ra xem, rõ được manh mối, biết được đầu đuôi, tuy không mắt thấy tai nghe, mà rõ ràng như chính mình được thấy” (Tựa “Đại Việt thông sử”). Ông đánh giá cao tính khách quan của các soạn giả khi viết về nhân vật và sự kiện lịch sử là vì vậy. Đó là phương châm chỉ đạo ông trong việc soạn “Đại Việt thông sử”. Phan Huy Chú đánh giá cao giá trị của “Đại Việt thông sử” ở chỗ: “Rất đầy đủ rõ ràng, có thể là một bộ sử hoàn toàn của một triều đại” (Đại Việt thông sử - Tr. 8). Giáo sư Văn Tân cũng thừa nhận: “Trong khi ghi chép các sự kiện ông tỏ ra rất khách quan. Tư tưởng chính thống khiến ông coi nhà Mạc là “Ngụy”. Nhưng... ông đã trình bày các sự kiện đúng như nó có” (Đại Việt thông sử - Tr. 8). Các nhà nghiên cứu đặc biệt đề cao những nhận xét của nhà viết sử họ Lê về vai trò của Lê Chích vốn xuất thân từ nông dân đối với sự thành bại của khởi nghĩa Lam Sơn. Lê Chích đã hiến kế cho Lê Lợi chuyển hướng vào Nghệ An để bảo tồn được lực lượng và từ đó một mặt có thể tiến công giải phóng Thuận Hóa, mặt khác có htể tiến công ra Bắc Hà để hạ thành Đông Quan. Nhiều sử gia đã vô tình hoặc cố ý lãng quên. Chính Lê Quý Đôn là người đầu tiên khôi phục công trạng đó. Trong “Kiến văn tiểu lục”, ông viết: “Không cần phải đánh mà hạ được thành Đông đô, lấy hòa hiếu để kết liễu chiến tranh tuy là mưu kế của Nguyễn Trãi, nhưng trước hết làm cho căn bản mạnh để thu lấy thắng lợi hoàn toàn, thực là bắt đầu từ Lê Chích” (Tr. 264).

Thêm vào đó, Lê Quý Đôn là một học giả trọng thực tế nhất là thực tế dân tộc. Tri thức của ông có được nhờ đọc sách nhiều đã đành mà còn nhờ bám sâu vào đời sống. Ông thuật lại rằng: “Tôi đi đến đâu cũng để ý tìm tòi, phàm việc gì cũng mắt thấy tai nghe, đều dùng bút ghi chép” (Tựa “Kiến văn tiểu lục”). Hơn thế, ông còn quan niệm “học” không chỉ biết tích lũy kiến thức mà còn phải biết vận dụng vào thực tế. Lê Quý Đôn viết: “Hễ ghi nhớ được nhiều lời nói và việc làm của người xưa, thì ứng dụng vào tâm tư được chính xác, ứng dụng vào sự vật được thích nghi: như thế gọi là học” (Điều 1 – Sĩ quy). Óc thực tiễn đưa ông đi xa hơn theo hướng trọng sự thật, trọng thực chất. Trong lời tựa “Vân đài loại ngữ”, Lê Quý Đôn viết: “Tôi tự nghĩ, nói cao quá sợ viễn vông. Nói thấp quá sợ nông gần, nhưng về mọi việc mọi vật đều đủ đầu mối cả” (Vân đài loại ngữ I – Tr. 46). Và, có lẽ vì thế, mà ông gay gắt chống lại thứ văn chương bát cổ phù hoa. Ta biết văn bát cổ xuất hiện vào đời Minh cùng với phái Đường Tống. Văn bát cổ đòi hỏi từ đề mục đến nội dung đều nhất thiết đều phải lấy từ Tứ Thư, Ngũ Kinh do Chu Trình chú giải. Đặc biệt người viết trong khoảng 700 đến 3000 chữ chỉ được phép giải thích đạo của thánh hiền mà không được phát huy tư tưởng của mình, thậm chí ngữ khí cũng giống người xưa. Đến thời Lê Quý Đôn có người cho rằng văn bát cổ ở Trung Quốc “là loại văn mới mẻ, sắc sảo, trang nhã, dồi dào” (Nhận xét của Lê Quý Đôn). Quan Tham tụng Nguyễn Công Hãng lại còn muốn dùng thể văn ấy trong thi cử. “Tôi thiết nghĩ làm như vậy là không đúng – Lê Quý Đôn viết – Bởi vì đặt ra khoa cử, tuy có thi từ, phú, sách, luận; trong những thể văn ấy, có loại văn hoa, có loại chất thực; nhưng nhìn chung tuy các thể văn ấy có khác nhau, song nếu lấy lối văn bát cổ để thi thì chỉ là qua lời nói suông mà chọn người; người thì dùng lời nói suông để đối lại. Khi ra làm việc, thi thố tài năng đâu phải ở những lời nói suông ấy?” (Từ trong di sản – Tr. 95). Cái thứ “sáo văn” ấy chỉ hợp với những ai ngoảnh lưng lại với thực tế mà thôi.

Từ cơ sở thực tế và tư tưởng nói trên, Lê Quý Đôn yêu cầu cao giá trị hiện thực của văn chương. Ông viết: “Tư Mã Thiên, Ban Cố, làm sử, chỉ cứ sự thật mà chép, chứ không có ý làm văn, cho nên hay. Tống Kỳ thì có ý lấy sử làm văn, cho nên văn không hay” (Điều 29 – Văn nghệ). Đây là chuyện viết sử song không phải không can hệ đến văn chương. Có điều rất lạ là quan niệm về cái gọi là “sự thật” ở Lê Quý Đôn không hề thô thiển. “Sự thật” có thể là những gì tai nghe mắt thấy. “Sự thật” còn có thể là những cái mà giác quan bình thường không thể tự nhận biết nổi. Ông viết không một chút do dự: “Cái gì người ta thường thấy thì tin, cái gì chưa thấy bao giờ thì ngờ... Nếu cái gì mà tai không nghe thấy, mắt không trông thấy đều cho là không phải, chẳng phải hóa ra là ngu xuẩn lắm ru!” (Điều 43 – Lí khí). Lê Quý Đôn giải thích: “Thuyết âm ti địa giới tựa như hoang đường nhưng tóm lại là do ở sự huyền bí của tạo hóa... mà thôi” (Điều 47 – Lí khí). Sự sáng suốt đến lạ kỳ! Ngày nay khi khoa học hiện đại cho phép con người nhận ra bao điều huyền bí bao quanh mình vậy mà còn không ít người chưa đạt được tầm nhìn ấy của học giả họ Lê – người sống cách chúng ta trên 2 thế kỉ lại luôn bị thần quyền huyễn hoặc. Không phải ai đọc sách thánh hiền cũng “ngộ” ra điều này: “Khổng Tử không phải là không nói những sự kì quái, nhưng ngày thường không muốn nói đến là không muốn làm cho học giả mê hoặc. Thật ra có phải chuyện ấy cho là không có đâu” (Điều 50 – Lí khí). Đấy là thu hoạch của Lê Quý Đôn. Nhà vật lý Ấn Độ hiện đại nổi tiếng D. S. Kothari, trong cuốn “Mấy suy nghĩ về khoa học và tôn giáo” đã yêu cầu mọi người phân biệt 3 khái niệm: Duy lí (Rationa); Phản duy lí (Antirationa) và Siêu việt – duy lí (Beyond - Rationa). Theo ông, phản duy lí là trái khoa học, còn siêu việt – duy lí lại đi cùng đường với khoa học (26). Mặc dầu chưa thể vươn tới bề rộng, chiều sâu của tri thức và tầm nhìn hiện đại, Lê Quý Đôn vẫn không khỏi làm chúng ta kinh ngạc và cảm phục.

Trở lại những lời bàn của Lê Quý Đôn về mối quan hệ giữa văn chương và đời sống, ta thấy ông ít khi rơi vào một thái cực khác: xem thường tài nghệ tưởng tượng của văn nhân thi sĩ. Không tưởng tượng giỏi Vương Bột sẽ không viết nổi câu: “Lạc hà cô lộ, thu thủy trường thiên” mà Lê Quý Đôn khen là “tuyệt hay”. Song đây không thể là thứ tưởng tượng viển vông, vô căn cứ. Ông dẫn ra câu nói của Hàn Tử để phần nào thể hiện quan niệm của mình: “Người ta ít khi được xem voi sống, mà được xem xương voi chết, trông tranh vẽ có thể tưởng tượng được voi sống. Cho nên người ta khi lấy ý mà tưởng thường dùng với chữ “tượng”” (Vân đài loại ngữ II – Tr. 25). Tự cội nguồn, nghĩa của từ “tưởng tượng” đã gắn với thực tế. Nói theo cách nói của chúng ta hiện nay, hư cấu phải gắn liền hiện thực mới là hư cấu nghệ thuật, bạn đường của những kiểu mẫu sáng tạo lớn xưa nay. Ông vì thế không ưa thứ văn chương “nói ngoa”. “cường giải” (từ dùng của sách Hoài Nam Tử được ông rất tâm đắc) (Vân đài loại ngữ II – Tr. 54). Văn chương cho phép phóng đại, ngoa dụ. Có điều mọi phóng đại đi quá xa bản chất của hiện thực đều xa lạ với Lê Quý Đôn.

Cũng có thể nhận biết rõ quan niệm văn chương hiện thực của ông qua lời bàn về mối quan hệ giữa nhạc và nhân tâm thời thế: “Nhạc của thời thượng cổ thì hòa hài (điều hòa) vì thanh thấp, nhạc của đời sau thì không hài hòa vì thanh cao. Thanh thấp do nhân tâm tĩnh mà không ganh đua. Trải xem tiếng nhạc đời Lục Triều và Ngũ Đại càng cao thì vận nước càng ngắn. Cả khoảng đời Đường, Tống cũng vậy” (Điều 7 – Âm tự). Từ cái “bất biến” luôn yêu cầu văn chương gắn chặt với thời cuộc, Lê Quý Đôn “ứng vạn biến” để nhận rõ chân giá trị của mọi tác phẩm thơ văn. Ông khen “Việt điện U linh” của Lý Tế Xuyên là “ghi lại các sự việc kinh dị... là rất rõ ràng” trong “Đại Việt thông sử” (Đại Việt thông sử - Tr. 111) và lần khác trong “Kiến văn tiểu lục” là “Sự việc xác thực” (Kiến văn tiểu lục – Tr.170). Theo hướng này Lê Quý Đôn nhận xét “Hà Tiên thập vịnh” là “có thể thay vào sử kí của Hà Tiên” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 232) và một lần nữa trong tác phẩm khác: “thơ này chẳng những làm cho chốn ven biển thêm phần tươi đẹp, mà cũng là một trang sử của trấn Hà Tiên vậy” (Phủ biên tạp lục – Tr. 274). Cái gọi là “xác thực”, cũng như việc so sánh sự thật trong sử sách với sự thật trong văn chương quả có phần khiên cưỡng. Tương tự, thật không lấy gì làm thuyết phục khi ông chê “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ “phần nhiều là ngụ ngôn” (nghĩa là không thật), duy “Kim hoa thi thoại” thì ông khen là “có người thật” (Kiến văn tiểu lục – Tr.205). Tuy nhiên, ý định hướng văn chương vào đời sống của Lê Quý Đôn thì hoàn toàn tích cực. Cũng thật tích cực khi ông đọc tập “Sứ Giao Châu” và thơ “An Nam tức sự” của Trần Cương Trung nhà Minh lại chú ý tới giá trị hiện thực: “Lễ nhạc, y quan, thuế khóa, hình luật, phong tục, xu hướng, quan ải thời nhà Trần có thể biết được đại khái” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 169). Có cảm giác, khi đọc thơ, đầu óc Lê Quý Đôn luôn xoay quanh cái trục hiện thực. Những câu hỏi loại này luôn nảy sinh trong trong ông: Có thực hay là bịa? Phải hiểu câu thơ này hay câu văn kia sao cho xác thực? Đọc câu thơ của Liễu Tông Nguyễn: “Dư điền thu hỏa mễ” (ruộng núi gặp lúa trồng khi đặt rẫy) ông nghĩ ngay đến thứ lúa thuật trong sách “Quảng chi” (Vân đài loại ngữ II – Tr. 178). Đọc câu thơ của Tô Tử Dung do Lục Du đời Tống ghi lại: “Khởi thảo tài đa phong quyển tốc”, Lê Quý Đôn nghĩ “ngày xưa khi tuyên đọc, người đọc cứ ngân ngư kéo dài như hát” (Điều 90 – Vựng điển). Thậm chí có lần ông còn liên hệ tới một học thuyết địa lí khi nhớ đến một câu trong “Sở từ” là “vòng tròn có chín tầng trời” (Điều 11 – Hình tượng). Thú vị hơn cả là Lê Quý Đôn đã truy tìm xem củ hoàng độc trong câu thơ của Đỗ Phủ “Hoàng độc vô miêu sơn tuyết thịnh” (Củ hoàng độc không mọc mầm được vì núi đầy tuyết) có độc hay không. Cuối cùng ông khẳng định: “Hoàng độc” không phải là thứ củ độc, màu vàng. Theo sách “Minh đạo tạp chí” thì: “Hoàng độc mỗi gốc chỉ có một củ sắc vàng... năm đói người địa phương đào về ăn thay cơm” (Vân đài loại ngữ - Tr. 184).

Không lấy làm lạ khi biết Lê Quý Đôn rất đề cao chức năng tả chân của thi ca. Trong bài “Nhập Phúc thành cảng” ông viết:

Bút nào tả hết nỗi điêu linh.

Đời sống có mảng đen mảng sáng. Trước đây, trong xã hội cũ mảng đen thường lấn át mảng sáng. Một nhà văn có ý thức đối với thời cuộc không thể làm ngơ trước “nỗi điêu linh” của những người thống khổ. Có gì đó thật đồng điệu giữa tiếng thơ nghĩa là tiếng lòng của ông đối với Nguyễn Phi Khanh. Nhà thơ thế kỉ XIV này đã tâm sự: “Xin đem bài thơ này thay cho tờ tâu” (Bài “Thôn cư cảm sự kí trình Băng Hồ tướng công”).

Tất nhiên, tác phẩm văn chương không chỉ có nội dung hiện thực và hướng tới chức năng tả thực. Bởi thế thưởng văn, thưởng thơ cũng như thưởng nhạc, thưởng họa và các loại hình nghệ thuật khác đều vậy: Phải toàn diện. Trong mục “Phẩm vật” Lê Quý Đôn nhắc lại câu nói ghi trong “họa luận” rằng: “Phép xem tranh nên xem khí văn trước, rồi xem bút ý, xem cốt pháp, vị trí, sau hết mới xem hình dáng có giống không. Đó là phép chính về xem tranh vẽ” (Điều 47). Có thể nói, về đại thể đó cũng là phép chính để thưởng thức văn chương. Ông đâu có xem thường các yếu tố hình thức.

 

Comments