Mở đầu

Nói đến Lê Quý Đôn (1726-1784) là nói đến một nhà bác học lớn nhất của dân tộc ta trong thời phong kiến. Sự nghiệp trước tác của ông thật độc đáo và đồ sộ. Sinh thời, ông có lời bàn sau về học giả Bùi Độ: “Sự nghiệp Tấn Công (Bùi Độ) bình chính, rực rỡ, thông suốt, tròn trặn mà khí tượng của ông đã đủ thấy ở lời bình phẩm đấy rồi. Cho nên ta nêu ra đây để làm khuôn mẫu cho đời” (Điều 25 – Văn nghệ). Có thể dùng nhận xét này để đánh giá chính Lê Quý Đôn. Di sản tri thức ông để lại cho thế hệ sau hầu như bao trùm toàn bộ những hiểu biết cao nhất có thể có được vào thời đại ông sống. Có thể xem ông là một nhà sử học, địa lí học, phong tục học, ngôn ngữ học... và một nhà lí luận văn chương có tiếng. Học giả Phạm Huy Tông đáng giá tư duy của ông có tầm “bách khoa”. Giáo sư Đặng Thanh Lê cho rằng: trí tuệ ông là biểu hiện “một bước tiến vọt của trình độ văn hóa khoa học thời đại trước hết ở chỗ đối tượng chiếm lĩnh tư duy con người”, “chứng tỏ tư thái trí tuệ con người đã trở nên đa diện, đa phương”. Giáo sư còn viết rất đúng rằng trí tuệ toàn bách của Lê Quý Đôn chứng tỏ con người ở thế kỷ XVIII không còn đơn thuần bó hẹp trong việc “tiếp cận chân lý thần quyền và biện minh cho trật tự cường quyền” (1). Riêng những đóng góp của Lê Quý Đôn trên phương diện lí luận văn chương là rất to lớn. Càng quý hơn khi ta biết rằng so với các ngành khác của nền văn chương dân tộc trong quá khứ, lí luận văn chương là một ngành kém phát triển hơn cả.

Có lẽ đến nay không còn mấy người hoài nghi về sự hiện diện trên thực tế một nền lí luận văn chương trong quá khứ của ông cha. Tuy nhiên cho rằng “có một hệ thống quan niệm văn chương cổ Việt Nam” (2) như Giáo sư Phương Lựu đã khẳng định liệu có quá sớm không? Bởi vì, trên cơ sở những tư liệu đã được công bố ta có thể nhận thấy tính tập trung nhất là tính hệ thống của di sản lí luận văn chương này quả còn nhiều điều đáng bàn. Có chăng chỉ nên nói đến tính tương đối trong một trường hợp có thể nói là duy nhất – trường hợp Lê Quý Đôn. Điều này giải thích tại sao có khá nhiều bài tập trung nghiên cứu quan niệm văn chương của ông. Sớm nhất là bài “Tìm hiểu quan niệm văn học của Lê Quý Đôn” (Trần Thanh Mại – Tạp chí Văn học số 4/1960). Sau đó là các bài “Một vài quan điểm về lí luận văn học của Lê Quý Đôn” (Giáo sư Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1962), “Góp phần tìm hiểu những quan đểm văn học của Lê Quý Đôn” (Đinh Thị Minh Hằng, Tạp chí Văn học số 5/1983), “Thơ với nhà thơ Lê Quý Đôn” (Đỗ Văn Hỷ – Tạp chí Văn học số 6/1984). Và gần đây nhất là bài “Quan niệm của Lê Quý Đôn về những yếu tố hiện thực trong văn học” cũng của tác giả Đinh Thị Minh Hằng (Tạp chí Văn học số 3/1992). Cũng có thể kể thêm tới Lời giới thiệu “Vân đài loại ngữ” của Giáo sư Cao Xuân Huy trong phần bàn về mục “Văn Nghệ” (Nhà xuất bản Văn hóa – 1962). Vậy là có tới 6 tiểu luận, số lượng chuyên tìm hiểu về quan điểm văn chương của một tác giả trong quá khứ nhiều hơn cả.

Tuy thế, nếu nhận xét sau đây của Giáo sư Phương Lựu là đúng thì tình hình qủa đáng buồn. Trong cuốn “Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam” khi bàn về hiện trạng nghiên cứu di sản lí luận văn chương của Lê Quý Đôn, Giáo sư viết: “Về tác giả trước nhất là Lê Quý Đôn. Bài viết của Trần Thanh Mại năm 1960 đã trình bày hầu hết các khía cạnh quan điểm của ông... Các bài viết sau về quan điểm văn học của Lê Quý Đôn chưa nêu được vấn đề gì mới hơn” (3). Có lẽ, về cơ bản, Giáo sư Phương Lựu đã không lầm. Và vì vậy, ý nguyện của nhà nghiên cứu văn học đã quá cố Trần Thanh Mại vẫn còn nhắc nhở chúng ta. Cách đây gần ba chục năm trong bài vừa nêu nhà nghiên cứu đã mong mỏi: “Vấn đề nghiên cứu Lê Quý Đôn có hệ thống là một vấn đề trước đây chưa được đặt ra.. Mỗi việc chúng ta làm theo hướng đúng đắn này cũng sẽ là biểu hiện của lòng biết ơn đối với các bậc tiền bối đã đem trí tuệ của mình phục vụ nền văn hóa và khoa học dân tộc”. Sự dốc lòng dốc sức của người viết chuyên luận này là theo ước nguyện cao quý và phương hướng đúng đắn của học giả Trần Thanh Mại. Có chăng là ngoài “lòng biết ơn đối với các bậc tiền bối”, người viết còn luôn ý thức về giá trị những quan niệm văn chương của nhà bác học Lê Quý Đôn đối với nền văn hóa và nói riêng là nền học thuật nước nhà.

Quan niệm văn chương của Lê Quý Đôn được trình bày rải rác trong các chuyên mục khảo cứu như “Nghệ văn chí” (Quyển III, “Đại Việt thông sử”) “Thiên chương” và “Tài phẩm” (Quyển IV và V, “Kiến văn tiểu lục”) “Nhân tài, thơ văn” (Quyển V, “Phủ biên tạp lục”), trong một số đoạn của hai cuốn sách “Quần thư khảo biện” và “Thư kinh diễn nghĩa”. Tập trung và đáng quan tâm hơn là mục “Văn nghệ” gồm 48 điều, trong “Vân đài loại ngữ” và bài nói về thể loại biên soạn tập “Toàn Việt thi lục”.

Một vấn đề nảy sinh đáng kể trước khi bắt tay vào việc tìm hiểu lí luận văn chương của Lê Quý Đôn là việc tiếp cận và xử lý tư liệu. Có dịp đọc các sách của Lê Quý Đôn ta thấy ông ưa trích ý kiến của người xưa trong các sách xưa nhất là trong Kinh, Sử , Truyện, Chư Tử ở Trung Quốc.

Trong tác phẩm “Vân đài loại ngữ” ông thừa nhận: “nhiều lời nói hay của các bậc hiền triết đời xưa không còn sót một ý nghĩa gì. Nay tôi cầm bút, gặp đâu chép nấy, gọi là để sửa mình, và cũng để dạy cho gia đình nữa” (4). Lời tựa “Kiến văn tiểu lục” cũng viết: “Ghi chép lời dạy hay lời nói phải của cổ nhân dùng để giữ mình thì có thể được yên thân, suy ra công việc thì có thể giúp đời”. Có thể xem Lê Quý Đôn thuộc trong số những người “tín nhi hiếu cổ” (tin mà thích cổ) như ông đã viết trong “Quần thư khảo biện”: “Phương chi như tôi kiến thức vụn vặt đâu dám đè nâng vũ trụ, khen chê cổ nhân. Chẳng qua là dựa vào chữ nghĩa trên sách vở mà bàn đại lược thỉnh thoảng lật xem cho vui vậy thôi”. Có nhiên, đây thiên về cách nói khiêm nhường, song nó giúp ta hiểu thêm cách làm việc, cách soạn thảo sách của nhà bác học.

Từ đó, sách có liên quan tới việc tìm hiểu quan niệm văn chương của Lê Quý Đôn thường được viết theo hai kiểu: “Loại thư” và “Lục”. Tiêu biểu cho kiểu “Loại thư” là cuốn “Vân đài loại ngữ”. Theo Giáo sư Cao Xuân Huy thì đó là các bộ sách “gồm có nhiều môn loại” trích biên từng đoạn, từng chương của các bộ sách cơ bản “kinh” “sử” “từ” “tập” (5). Đặc điểm nổi bật của sách biên soạn theo kiểu “Loại thư” là trích dẫn ý kiến của tiền nhân mà phần lớn là các ý kiến đúng, đáng học hỏi theo quan niệm của người soạn. Nếu có thêm thì thì chỉ thêm một vài lời bình ngắn hoặc thích nghĩa theo ý người biên soạn. Ví dụ:

- Nêu câu hỏi của cổ nhân không kèm theo lời bàn luận nhưng ngụ ý tâm đắc, tán đồng: “Văn tử nói” Bậc thượng học, lấy thần mà nghe; bậc trung học, lấy tâm mà nghe; bậc hạ học, lấy tai mà nghe; tai nghe thì học ở ngoài bì phu; tâm nghe thì học ở cơ nhục; thần nghe thì học ở cốt tủy (Điều 11 – Văn nghệ).

- Nêu câu nói của cổ nhân kèm theo lời bình ngắn “rất phải”; Ông (tức Bùi Độ) nói: “Văn không uốn lời, mà lời tự đẹp; không gò ép lý lẽ, mà lý lẽ tự tươi mới. Nói thế là rất phải” (Điều 25 – Văn nghệ).

- Nêu câu nói của cổ nhân nhưng lại giải thích nghĩa thoe quan điểm của bản thân: “Khổng Tử nói rằng: “Từ đạt nhi dĩ hĩ”. Nghĩa là: văn từ cần đạt mà thôi. Đạt nghĩa là bình dị (dễ hiểu)” (Điều 1 – Văn nghệ).

Và đại thể Lê Quý Đôn nêu lời nói của người xưa theo hướng khẳng định, tán thành. Cũng đôi khi ông nêu câu nói của người xưa rồi tỏ ý hoài nghi hoặc lên tiếng phê phán. Chẳng hạn: Trong tập “Bút ký”, Tống Kỳ nói: “Ta làm sách “Đường thư”, chưa thấy một tờ chiếu hay một tờ sắc lệnh nào của người Đường chép ở truyện; chỉ bỏ hết các văn biên ngẫu, mà lấy lối văn cận cổ cho vào sách. Đại để, làm sử, nên dùng lối văn cận cổ. Nếu lấy lối biền ngẫu cho vào sử, thì không phải phép”. Lê Quý Đôn viết liền sau đó: “Lời bàn ấy chưa phải”. Quả là biết bao điều kể cả nhiều điều lớn lao giàu ý nghĩa các bậc tiền bối chưa làm mà con cháu sẽ làm. Đâu phải mọi cái xưa đều là mẫu mực, đáng nói theo cả.

Xin nói ngay, việc biên soạn theo phương pháp “Loại thư” là một việc làm hoàn toàn có ý thức của Lê Quý Đôn. Trong lời tựa bộ “Vân đài loại ngữ” chính ông đã giải bày: “Thường tôi thích lấy các sự tích chép trong các truyện kí rồi xếp đặt lại theo ý mình mà bình luận, có chỗ cứ chép lại nguyên văn, tích lâu mà thành bộ sách”. Lê Quý Đôn viết “Kiến văn tiểu lục” về cơ bản cũng theo hướng ấy. Như tên sách đã chỉ rõ, các bộ “Kiến văn tiểu lục” và “Phủ biên tạp lục” được viết theo thể “Lục” nghĩa là “ghi chép”. Thể này tùy vào đối tượng và cách viết mà được chia thành ra nhiều kiểu nhỏ như “mạn lục”, “ngẫu lục”, “tạp lục”, “thực lục”, “ngữ lục”, “tiểu lục”. Nghiêng về ghi chép sự việc có thật là “thực lục”. Chú ý hơn việc ghi những cuộc đàm thoại là “ngữ lục”. “Tạp lục” cho phép ghi chép tổng hợp đủ loại cả người lẫn việc. Còn “tiểu lục” lại nghiêng về những ý kiến ngắn có tính khảo cứu... Sau “Vân đài loại ngữ” bộ sách đáng chú ý hơn cả trong việc tìm hiểu quan niệm và hiểu biết của học giả họ Lê về văn chương là “Kiến văn tiểu lục” (chi chép những ý kiến ngắn khi nghe và thấy). Vậy tác phẩm này nặng về tính trước thuật hơn là tính sáng tác, nghĩa là không nhiều hư cấu như “mạn lục” và “ngẫu lục”. Có điều, theo nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh, khi đối chiếu với các khái niệm văn học ngày nay thì loại thể “Lục” nói chung bao gồm cả “truyện” lẫn “kí” (xem “Bắc sứ thông lục” một tập kí đặc sắc – Tạp chí Văn học số 6/1984). Không lấy làm lạ khi kết thúc lời Tựa bộ sách Lê Quý Đôn lại lưu ý người đọc: “Tập sách này cũng là đầu mối lớn về việc học vấn ngôn hành, xin độc giả đừng choi như tiểu thuyết” (tức là phần nhiều bịa đặt – Phạm Quang Trung nhấn mạnh). Có thể xem “Kiến văn tiểu lục” là sự tiếp nối công việc kể cả nội dung và cách biên soạn của “Vân đài loại ngữ”. Nói như Phạm Tú Châu thì “Lê Quý Đôn đã tích tụ chọn lọc và phân loại những ghi chép chuẩn bị cho việc biên soạn cả hai cuốn”. Và vì vậy, giữa chúng “có mối liên hệ nội tại sâu sắc” (Tạp chí Văn học 6/1976). Vậy là không chỉ “Vân đài loại ngữ” mà [hần lớn các tác phẩm khác của Lê Quý Đôn đều hay trích ý kiến của tiền nhân.

Trước hiện trạng trên đã có hai hướng giải quyết trong nghiên cứu. Một là, sử dụng hầu như tất cả những lời bàn của cổ nhân được Lê Quý Đôn trích dẫn theo hướng tán đồng để tìm hiểu quan niệm văn chương của chính ông. Có lẽ những người này (trong đó có cả những học giả uy tín) chủ trương đây là chuyện “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, nêu ý kiến của người chỉ là cách phát biểu ý kiến của bản thân đấy thôi. Chẳng hạn bài nghiên cứu đã đề cập ở trên của Trần Thanh Mại. Sau khi nêu lời của Âu Dương Tu về việc rèn luyện nói chung, câu nói trong sách “Thuyết uyển” về việc trau dồi trí thức và lời của Ngô Lai về việc tích lũy vốn sống đối với người cầm bút, tác giả rút ra kết luận: “Thế là Lê Quý Đôn đã quan niệm được rằng – Phạm Quang Trung – muốn trở thành nhà văn trước hết phải dày công học tập... thứ hai phải tích lũy nhiều vốn sống, nhiều điều thực tế tai nghe mắt thấy”. Có thể  dẫn ra nhiều đoạn tương tự. Đấy là chưa nói đôi chỗ tác giả nhầm câu văn của người khác coi là của Lê Quý Đôn. Ví như câu nói: “Ở đời chưa có người nào ít học hỏi, lười rèn luyện mà văn khen là hay được” đúng ra là của Âu Dương Tu chứ không phải của Lê Quý Đôn. Nghiêm Đa Văn cũng mắc sai lầm như thế khi trong bài báo “Cách đọc sách và cách thu thập vốn kiến thức của Lê Quý Đôn” anh viết rằng: “Lê Quý Đôn viết: Học giả nên có ba cái nhiều: đọc sách nhiều, nghị luận nhiều, trước thuật nhiều. Trong ba điều ấy thì nghị luận là khó nhất” (6). Thật ra đoạn văn được rút ra từ sách “Thuyết uyển” mà Lê Quý Đôn có ghi lại trong Điều 19 của mục Văn nghệ.

Hướng giải quyết tư liệu như thế không phải không có căn cứ nhưng cũng cần được trao đổi thêm. Thứ nhất, nếu xem ý kiến viện dẫn là ý nhĩ hơn thế là quan niệm của người viết hoặc người biên soạn thì e chưa thật thuyết phục. Bởi tính khoa học luôn đòi hỏi sự phân biệt đôi lúc đến khe khắt đâu là kiến thức tiếp thu của người khác còn đâu là đóng góp riêng của người nghiên cứu. Không nên xem Lê Quý Đôn là trường hợp ngoại lệ. Thứ hai, dưới thời phong kiến, các học giả thường rất trọng cổ nhân nhất là Khổng Tử và các bậc danh nho thời trước. Lời nói của họ trong nhiều trường hợp đã trở thành danh ngôn lưu truyền rộng rãi. Chẳng hạn câu nói của Khổng Tử: “Ngôn chi vô văn, hành nhi bất viễn” (lời không văn vẻ thì không truyền xa) được Lê Quý Đôn ghi lại trong Điều 2 mục “Văn nghệ”, có thể nói, không một nhà nho nào không biết. Lê Quý Đôn rất coi trọng lời nói của các bậc tiên hiền. Câu nói sau được ông thốt ra không phải một lần: “Ta sinh ra sau trăm nghìn năm. May mà được nghe thấy hết lời noi của thánh hiền” (Điều I – Sĩ phu). Do vậy, không chỉ mặt học thuật mà cả mặt đạo lý, hướng giải quyết này cũng có gì thật chưa ổn lắm.

Hướng giải quyết thứ hai, trái lại, chỉ chú tâm tìm hiểu quan niệm văn chương của Lê Quý Đôn qua chính những lời ông trực tiếp nói ra. Trong quá trình sưu tầm tư liệu, nhiều người này loại bỏ hầu như tất cả những ý kiến của người khác được nhà bác học trích dẫn. (Đáng tiếc, ý kiến loại này, do phương pháp biên soạn của Lê Quý Đôn, lại khá nhiều!). Cũng xin có hai điều cần được trao đổi. Thứ nhất, do nguyên bản bằng chữ Hán nên rất khó phân biệt câu trích dẫn tới đâu, cón đâu là ý kiến của chính Lê Quý Đôn. Điển hình là cách dịch Điều 8 (Văn nghệ). Tôi có trong tay ba cách dịch liên quan tới việc dùng dấu ngoặc kép. Trần Văn Giáp dịch: “Tô Đông Pha nói: Ý hết mà lời dừng, ấy là cái lời rất mực trong thiên hạ. Song, lời dừng mà ý không tả hết được, lại càng tuyệt; xem văn Lễ Ký và Tả truyện thì biết”. Ở đây dịch giả không dùng dấu ngoặc kép khiến người đọc hiểu rằng sau dấu hai chấm là toàn bộ câu nói của Tô Đông Pha. Bản dịch của Tạ Quang Phát do Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản ở Sài Gòn năm 1972 lại dùng dấu ngoặc kép sau dấu hai chấm cho đến hết câu giúp người đọc củng cố cách hiểu này. Duy lời dịch của Trần Thanh Mại thì khác: “Tô Đông Pha nói: “Ý hết mà lời văn hết”. Đó là một câu nói chí lí trên đời. Nhưng nếu lời văn hết mà ý vẫn chưa hết thì lại càng là một bậc cao siêu hơn nữa”. Ở đây, tôi không bàn xem ai hiểu đúng  và dịch đùng hơn, tôi chỉ xin được nói rằng nếu hạn chế phạm vi tư liệu nghiên cứu thì ta sẽ tự trói buộc mình và có khi làm mất mát khá nhiều ý kiến của Lê Quý Đôn. Trong khi, do thiếu thốn tư liệu, ta đang bằng mọi cách để mở rộng phạm vi tiếp cận nhằm đánh giá đầy đủ hơn (tất nhiên cũng phải chính xác hơn) quan niệm văn chương của ông. Thứ hai, trong không ít trường hợp, những câu trích dẫn được Lê Quý Đôn đưa ra chỉ điểm tựa để đẩy tư tưởng của ông đi xa hơn. Ở đây giá trị của lời bình không thua thậm chí còn hơn lời lời dẫn tuy vẫn được khởi phát từ lời dẫn. Có thể nhận ra điều vừa nói qua Điều 13 mục Văn nghệ. Một mặt, ông không tán thành với cách lí giải của Nhan Chi Thôi khi học giả này gắn “cái bệnh khinh bạc” của văn nhân với “cái thể chất của văn chương”. Mặt khác, ông muốn từ câu nói của người xưa để nhấn mạnh tới vai trò của sự tu dưỡng (nhất là sự tu dưỡng về học vấn) trong việc hình thành và phát triển tài năng văn chương. Lê Quý Đôn viết: “Ta cho rằng: đó là vì ít học vấn, thiếu hàm dưỡng; thành ra bị cái khí nó sai sử”. Rồi ông viết tiếp: “Thể chất của văn chương vốn trong học vấn mà ra; học vấn có êm đềm (rộng rãi, thoải mái) thì văn chương mới hay”. Vậy nên trong những trường hợp này nếu không bám vào câu trích thì vừa không thể làm nổi rõ lời bình của Lê Quý Đôn, lại vừa không thể hiểu đúng và hiểu thêm về quan niệm của ông. Tóm lại có lẽ chúng ta cần suy nghĩ về nhận xét thấm thía sau của nhà nghiên cứu văn học Trần Thị Băng Thanh: “Nếu ở đâu đó Lê Quý Đôn có trích các kinh điển của Nho gia hoặc những lời bàn bạc của người trước thì cũng chỉ là sự lựa chọn, bổ sung để xây dựng một quan điểm hoàn hảo của chính ông mà thôi” (Tạp chí Văn học 1/1977).

Như vậy, cả hai cách tiếp cận và xử lý tư liệu nói trên vừa có mặt “ưu” vừa có mặt “liệt”. Để khắc phục khiếm khuyết của hai hướng giải quyết tư liệu đó, theo chúng tôi, người nghiên cứu một mặt cần cần chú trọng tìm hiểu những ý kiến đích xác là của Lê Quý Đôn, mặt khác cần liên hệ đối chiếu với ý kiến trích dẫn khi cần thiết nhằm làm rõ thêm quan niệm của ông. Đây là một giải pháp có tính khoa học chứ không phải là cách giải quyết trung dung, nửa vời. Bởi “có thể nói tác phong vừa ghi chép lại những chỗ tâm đắc trong quá trình đọc sách, vừa suy nghĩ thêm thắt, bổ sung những điều mình cảm thấy chưa thỏa mãn, đó cũng là tác phong thường thấy ở Lê Quý Đôn” (Nguyễn Thúy và Nguyễn Kim Hưng – Tạp chí Văn học 1/1977).

Một vấn đề khác, không kém phần quan trọng, liên quan nhiều tới kết quả nghiên cứu là việc mở rộng phạm vi thu thập tư liệu. Ai có ý định tìm hiểu di sản lí luận văn chương của người xưa đều cũng vài ba lần thở dài như Hoàng Đức Lương khi đứng trước tư liệu còn lại vừa ít ỏi vừa phân tán. Do vậy, việc mở rộng phạm vi thu thập tư liệu nghiên cứu là một đòi hỏi từ bên trong của công việc. Liên quan tới vấn đề này, ý kiến sau đây của Giáo sư Vũ Ngọc Khánh rất có ý nghĩa về phương pháp luận. Trong bài “Truyền thống phê bình trong văn học ta”, Giáo sư viết: “Quả thực văn học ta ngày nay muốn nghiên cứu cần phải xét qua nhiều mặt và cần chiếu cố đến đặc điểm thời đại, đặc điểm lịch sử thì mới rút ra được những nhận xét thỏa đáng” (7).

Thực tế đã có không ít những cố gắng theo hướng này, trong việc thâm nhập kho tư liệu thường nghèo nàn và tản mạn để tìm hiểu di sản lí luận văn chương của ông cha ta cả trên nhiều vấn đề chung cũng như những vấn đề cụ thể. Nhằm đi sâu vào lí luận văn chương cổ, một số nhà nghiên cứu mà tiêu biểu nhất là Giáo sư Phương Lựu đã không chỉ tìm đến những lời đề từ, tựa các tập văn, thơ hoặc những đoạn, những bài, những sách có tính khảo cứu, mà còn biết tiếp xúc với các ý kiến phê bình hay các ý kiến ẩn tàng trong sáng tác. Đáng mừng là kết quả thu lại rất khả quan. Để nghiên cứu Lê Quý Đôn ta có thể và cần phải làm như vậy. Người nghiên cứu cần coi trọng một câu thơ của Lê Quý Đôn khi tiễn Thám hoa Nguyễn Huy Oách đi sứ: “Hảo bả văn chương tăng quốc thế” (phải giỏi lấy văn chương để nâng cao thế nước). Cũng không thể bỏ qua một lời bình ngắn thôi như lại rất đáng quan tâm, như đánh giá của ông đối với “Việt giám vịnh sử thi tập” của Đặng Minh Khiêm: “Khen chê lấy bỏ, ý tứ rất sâu, có thể gọi là danh bút”. Thậm chí có những lời bàn thoạt nhìn có vẻ rất xa với văn chương song suy ngẫm một chút lại có liên quan tới quan niệm văn chương của Lê Quý Đôn, như lời giải thích nội dung so sánh sau trong mục Âm tự “Vân đài loại ngữ”: Danh từ “túy như nê” (say như bùn) là ở trong câu thơ của Đỗ Phủ “Tiên bàn nhất ẩm, túy như nê” (uống liền một bữa, say như bùn). Theo sách “Năng cải trai lục” của Chu Trạch đời Hán, nước Nam có một thứ giun không có xương gọi là nê. Ở dưới nước thì sống, lên trên cạn thì say mềm như một cục bùn. Vậy: “túy như nê” nghĩa là “say như con giun nê” chứ không phải là “say như bùn” (Điều 56). Tính thường trực của của ý đồ nghiên cứu như một thứ ánh sáng quý giá làm bừng lên mọi hiện tượng ẩn tàng bao ý nghĩa sâu xa. Đại để trong phát minh khoa học là vậy, mà nói riêng trong trường hợp nghiên cứu Lê Quý Đôn lại càng đúng. Bởi tư tưởng của ông nhìn chung là nhất quán. Tư tưởng nhất quán này chỉ đạo mọi suy nghĩ lớn nhỏ của ông trên nhiều lĩnh vực khác nhau. 

 

Chú thích:

(1)   Tạp chí Văn học, số 6.1984.

(2)   Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam, tr.15.

(3)   Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam, tr.22.

(4)   Có học giả cho là "Toàn Việt thi tập" mới đúng.

(5)   Vân đài loại ngữ I, tr.40.

(6)   Vân đài loại ngữ II, tr.86.

(7)   Văn hóa nghệ thuật, số 43.

 

Comments