Lê Quý Đôn với việc sưu tầm, tuyển chọn thơ cho hợp tuyển

Ngày nay không ai không thấy ý nghĩa lớn lao của các bộ hợp tuyển thơ văn trong việc tìm hiểu và lưu giữ các giá trị văn chương của mọi thời, mọi nước. Do hoàn cảnh riêng biệt, công việc càng có ý nghĩa đối với đời trước. Rất mừng là cha ông ta xưa tiêu biểu là Lê Quý Đôn đã sớm có ý thức trong việc bảo tồn văn chương dân tộc, và vì vậy, đánh giá rất cao vai trò của việc sưu tầm và tuyển chọn văn thơ. Chẳng thế mà qua một tuyển thơ (Trích diễm thi tập) Lê Quý Đôn đã xem tác giả của nó, Hoàng Đức Lương – một người sự nghiệp không truyền lại đầy đủ, là một “danh sĩ” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 207). Nguyễn Công Cơ, bậc tiền bối của Lê Quý Đôn, cũng cho rằng: “Bộ tuyển tập phú này (Quần hiền phú tập) nếu không có các bậc hiền xưa thì không có nghệ thuật thần diệu; nhưng các bậc hiền triết đó nếu không có ông Nguyễn (tức Nguyễn Trù, tác giả bộ tuyển phú) thì không để được văn phú cho đời sau” (Từ trong di sản – Tr. 54). Cách nhìn của học giả họ Lê vậy là không đơn lẻ. Nhưng liệu những lời đánh giá có quá cao? Không! Vì đây không chỉ là một công việc “nặng nề” (chữ dùng của Hoàng Đức Lương) mà còn là một thử thách gay gắt về nhiều mặt đối với người thực hiện, mà trước hết là tấm lòng đối với dân tộc và trách nhiệm đối với hậu thế. Lê Quý Đôn đã ý thức đầy đủ về nhiều điều này.

Do hoàn cảnh riêng, Lê Quý Đôn có điều kiện thấy rõ tình trạng văn bản thơ văn bị hủy hoại và thất lạc bởi binh hỏa, bởi thời gian. Chính sách của nhà nước cùng ý thức bảo tồn kém cỏi của nhiều người khiến tình trạng đó càng trở nên bi đát. Trong bài tựa “Văn nghệ chí” ông viết: “Triều ta (Lê) dẹp loạn, lập lại trị bình, các bậc danh nho... cùng nhau sưu tầm các sách vở, giấy tờ; nhặt nhạnh từng tờ giấy sót lại nhưng... mười phần còn được bốn năm phần”. Rồi ông than thở: “Tan nát đến thế, đáng tiếc lắm thay!”. Nỗi lòng của ông được khơi nguồn trực tiếp từ nhiều bậc tiền bối như Phan Chu Tiên (tác giả “Việt âm thi tập”), Dương Đức Nhan (tác giả “Tinh tuyển chư gia luật thi”) và nhất là Hoàng Đức Lương. Lê Quý Đôn đã nhiều lần đọc bài tựa “Trích diễm thi tập” trong đó có đoạn: “Than ôi! Một nước văn hiến. xây dựng đã mấy trăm năm, lẽ đâu không có quyển sách nào để làm gốc rễ, mà phải tìm xa xôi để học thơ văn đời Đường, như thế chẳng đáng thương xót lắm sao!” (Thiên chương: “Kiến văn tiểu lục”). Và mỗi khi ông đọc bài tựa là lại “than thở hai ba lần”. Nỗi xót xa khiến ông tìm nhặt “những thơ văn cũ ở hòm nát, những bia cũ ở hang sâu” (Từ trong di sản – Tr. 89) để soạn “Toàn Việt thi lục”. Có người chê bộ tuyển thơ này hơi ôm đồm (45). Nếu đặt trong hoàn cảnh ấy có lẽ sẽ hiểu cà đánh giá đúng Lê Quý Đôn hơn chăng.

“Toàn Việt thi lục” là một hợp tuyển thơ chữ Hán được Lê Quý Đôn sưu tầm và biên soạn trong vòng một năm. Sách được hoàn thành năm 1768, dâng lên triều đình và được ban thưởng. Nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh cho rằng: “Trong những hợp tuyển thơ Việt Nam được biên soạn từ thế kỷ XIX trở về trước, “Toàn Việt thi lục” là một đỉnh cao về quy mô sưu tập và tính khoa học”. Bà còn viết: “Đó là một cống hiến lớn của Lê Quý Đôn và cũng là một bằng chứng về tài năng bác học của ông” (46). Để biên soạn bộ tuyển thơ của mình, Lê Quý Đôn đã triệt để tiếp thu về phương pháp nhất là về tư liệu của các tuyển thơ trước đó. Tuy nhiên quy mô của “Toàn Việt thi lục” lớn hơn nhiều. Các hợp tuyển trước chỉ có một ít thơ chữ Hán từ cuối Trần đến đầu Lê. Bộ tuyển hiện còn của Lê Quý Đôn gồm 15 quyển ghi chép tới trên 2000 bài thơ của 175 tác giả và 21 bài thơ khuyết danh (47). Đặc biệt ông đã bổ sung thêm thơ đời Lý. Ông viết: “Thơ văn của đế vương và công khanh triều nhà Trần, đã thấy chép trong “Việt âm thi tập”, còn thơ văn nhà Lý không khảo cứu được. Tôi nhân xem quyển “Thiền uyển tập anh”, thấy có vài ba bài, nay chép ra đây” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 197). Ông chăm chú xem xét tránh bỏ sót từng bài thơ hay từng tác giả. Lê Quý Đôn trân trọng một bài thơ của Phạm Sư Mạnh đề núi Thạnh Môn mà các quyển trước “bỏ sót” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 195). Ông cũng không quên bài minh khắc vào khánh của Thượng thư Lê Hữu Kiều khi làm Trấn thủ Thanh Hóa (Điều 96 – Phẩm Vật). Thái độ nâng niu từng bài thơ, từng nét chữ của ông khiến ta phải suy ngẫm nhiều.

Để đảm bảo tính nhất quán của hợp tuyển, Lê Quý Đôn có bài tựa ở đầu trình bày rõ mục đích, cách thức biên soạn và tiêu chuẩn tuyển lựa. Trên thực tế, ông tuân thủ sát sao luật lệ mình đặt ra. Về mục đích biên soạn, Lê Quý Đôn xác định: “Mong qua tập thơ này, thu lấy tinh hoa của nước nhà trong mấy trăm năm, lượm lấy tiếng thơm của vài chục nhà” (48). Về cách thức biên soạn, ông viết: “Nay tôi… xin theo điều nghe, thấy, xếp thơ theo loại, thứ”. Rõ rang, Lê Quý Đôn chú trọng đến tính xác thực của tư liệu chỉ dựa vào “điều nghe, thấy”. Ông còn quan tâm đến trình tự trước sau cho chặt chẽ, rành mạch. Ở đây, ông chủ yếu học tập thơ “Toàn Đường”. Dưới mỗi đầu bài, ông ghi lai lịch của người viết để “người đọc dễ theo dõi tác giả”. Trình tự sắp xếp tác giả cơ bản theo lịch đại. “các bài thơ các vị vua, kính chép qua công đức các ngài, rồi mới chép đến thơ” được đặt trước. Sau đó đến thơ các quan, các danh nho, ở mỗi một tác giả “đều ghi chú họ tên, quê quán, sự nghiệp và trước thuật”. Trình tự thơ được xếp theo thể loại: “Cổ thể” trước, “cận thể” sau “để đọc cho dễ”. Ông viết tiếp: “về cận thể chép thơ thất ngôn luật trước, rồi mới đến thơ ngũ ngôn, lục ngôn luật. Sau luật, mới chép đến thất ngôn tuyệt, ngũ ngôn tuyệt”. Về tiêu chuẩn tuyển chọn, Lê Quý Đôn theo sách “Văn giám” của Lã Đông Lai, một học giả đời Tống nổi danh ngang với Chu Hy. Năm “Lệ” ông tuân theo là:

(1)    Những bài thơ lời lẽ đều hay.

(2)    Những bài thơ chỉ có lời hay.

(3)    Những bài chưa hay, nhưng đã được nhiều người thích.

(4)    Những bài văn chưa hay nhưng tác giả là bậc hiền mà ít người biết tiếng, chép lấy một vài bài cho tên tuổi của họ khỏi mai một.

(5)    Những bài lời không hay nhưng lẽ khá, đều được chép.

Lê Quý Đôn còn chép ở phần phụ lục thơ của “những bậc sư hiếm có” “biết làm thơ”. Phần phụ lục còn chép thơ của một vài phụ nữ với lý do “thơ văn, đề vịnh, tuy không phải là công việc nên làm của giới phấn son, song xét trong 300 bài kinh thi lại phần nhiều lời lẽ là của đàn bà con gái… Về đời gần đây một vài người phụ nữ có những tập thơ xem cũng khá, thoát hẳn khí vị son phấn”. Lê Quý Đôn cũng phụ chép thơ của các sứ thần Trung Hoa và các nước khác đối đáp với sứ thần nước ta vì “điều đó rất đáng ghi nhớ trong việc đi sứ ra nước ngoài”, nghĩa là vẫn được quy chiếu với ý thức dân tộc.

Có thể đánh giá như thế nào về thể lệ sưu tầm và tuyển chọn thơ của học giả họ Lê? Trước hết là mặt tích cực. Tính chủ động ở ông khá rõ. Bắt tay vào biên soạn trước mắt ông có nhiều hợp tuyển của nước ta và Trung Quốc. Lê Quý Đôn đã dứt khoát dựa vào cách sắp xếp nhất là cách tuyển chọn của tập “Toàn Đường” và “Lệ” tuyển lựa của “Văn giám” mà theo ông là hợp và hay hơn cả. Riêng về cách tuyển lựa, Lê Quý Đôn biên soạn bộ “Toàn Việt thi lục” theo hướng toàn tập kiểu “Toàn Đường thi lục” chứ không theo hướng trích tuyển như Phan Phu Tiên, Dương Đức Nhan và Hoàng Đức Lương đã làm ở thế kỷ XV. Vì sao vậy? Trong “Kiến văn tiểu lục”, ông viết: “Trong tập thơ (chỉ “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương) có nhắc đến tập “Đoán sách” của Pháp Loa, tập “Ngọc Tiên” của sư Huyền Quang về triều nhà Trần và tập “Tiết Trai” của Lê Thiếu Dĩnh, tập “Tiên Sơn” của Nguyễn Văn Tích… về bản triều. Những sách kể trên nay đều không còn” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 208-209). Ngay trong bài tựa “Văn nghệ chí” trước đây ông đã nói: “Ngay như văn tập các bậc danh hiền đã được lưu hành khắp nơi và ghi chép trogn “Trích diễm thi tập” mà nay cũng chỉ còn lại tên sách, chứ thực tế không trông thấy sách nữa!”. Không phải vô cớ mà Phan Huy Chú trong “Văn tịch chí” lại khen tuyển thơ của Lê Quý Đôn là “đầy đủ”. Riêng về số lượng bài tuyển so với các bộ sách trước đó đã lớn hơn rất nhiều (“Việt âm thi tập” có 634 bài của 119 nhà, “Trích diễn thi tập” có 235 bài của 41 nhà, trong khi tuyển thơ của nhà học giả họ Lê quy mô gấp nhiều lần như ta đã biết). Đặc biệt thơ Nguyễn Trãi được tuyển nhiều nhất: 105 bài, gần như toàn bộ thơ chữ Hán của ông. Sau này vào thế kỷ XIX sách “Ức Trai di tập” của Dương Bá Cung cũng chỉ chép đúng như “Toàn Việt thi lục” mà không tìm thêm được bài nào nữa. (Cần lưu ý, phần thơ Nguyễn Trãi trong sách của Dương Bá Cung có chép 110 bài thì 5 bài thơ xướng họa của Nguyễn Trãi với Phan Phu Tiên, Nguyễn Mông Tuân… phụ chép thêm vào). Xin nói thêm là “Hoàng Việt thi tuyển” (1788) của Bùi Huy Bích sau đó lại trở về với hướng trích tuyển. Vậy là từ tuyển tập cuối cùng ở thế kỷ XV đến thời Lê Quý Đôn, hơn 250 năm đã trôi qua, alị có cuộc xung đột giữa nhà Lê và nhà Mạc (1572-1592) nên sách vở mất mát, thất lạc qua` nhiều. Đó là nguyên do chính khiến Lê Quý Đôn đã theo hướng toàn tập của “Toàn Đường” khi biên soạn bộ sách của mình.

Cũng có thể nói đến tính khoa học của “Toàn Việt thi lục” ở sự trình bày tác phẩm, tác giả minh bạch, ở việc chú ý tới giá trị nội dung và hình thức của bài được tuyển. Đáng nói nhất là sự sáng suốt của Lê Quý Đôn trong việc tuyển chọn những bài văn theo ông là chưa hay “nhưng đã được nhiều người thích”. Với Lê Quý Đôn thơ rất hay nhưng cũng rất khó. Thưởng thơ rất dễ rơi vào chủ quan. Trong Điều 33 mục Văn nghệ, Lê Quý Đôn rất cảm kích với bài thơ của Đỗ Phủ:

Văn chương thiên cổ sự

Đắc thất thốn tâm tri

Tác giả giai thù biệt

Thanh danh khởi lãng chùy

Dịch nghĩa:

Văn chương sự nghiệp nghìn đời

Dở, hay, tấc dạ biết rồi chẳng sai

Nhà văn ai có giống ai

Tiếng tăm để lại, há chơi đâu nào?

Rồi ông rút ra điều thật thấm thía như sau: “Văn chương là của công thiên hạ, ý kiến mỗi người mỗi khác, phân tích thì được, chứ không nên chế mắng”. Đủ thấy, với thơ, Lê Quý Đôn thận trọng đến mức nào. Đó là thái độ thường có của những người đọc nhiều, hiểu rộng. cũng rất đáng đề cao cái nhìn khoáng đạt của ông trong khi làm tuyển tập. Ông có phần ưu ái với các tác giả danh vị nhỏ, ít tiếng tăm. Nếu hợp tuyển không chép cho họ “một vài bài” (chỉ một vài bài thôi!) thì đời sau không còn nhớ tới tên tuổi họ nữa. Tuy nhiên ông không quá xa rời nguyên tắc vì tác giả của những bài thơ ấy là “bậc hiền”, nghĩa là cũng có ít nhiều công đức với đời. Và điều đó chứng tỏ giá trị của văn thơ gắn liền với phẩm chất của nhà văn. Tác giả và tác phẩm không bao giờ tách rời trong cách nhìn của Lê Quý Đôn là vậy. Ông cũng không quên tuyển thơ của những người khác mình về tư tưởng (nhà sư) nhưng thơ hay. Tập V của “Toàn Việt thi lục” có 36 bài của 11 nhà thơ mặc áo cà sa, nương than nôi cửa Phật. Ông cũng tuyển chọn thơ của tác giả khác dân tộc mình (thơ sứ của nước ngoài) nhưng cũng có quan hệ đáng lưu ý ở một mặt nào đó. Nhất là Lê Quý Đôn đã không quên các tác giả nữ. Ý thức hệ giai cấp không cho ông xếp thơ họ vào phần chính. Song tài năng của nhiều người trong họ thì không thể coi thường hoặc phủ nhận. Chắc ấn tượng tốt đẹp về tài thơ của Đoàn Thị Điểm và cháu của nữ sĩ là Đoàn Lệnh Khương có ảnh hưởng nhất định tới quyết định này của Lê Quý Đôn.

Tuy nhiên, quan niệm tuyển chọn của Lê Quý Đôn vẫn không tránh khỏi một đôi hạn chế. Dễ nhận thấy là ông xem thường thơ Nôm. Ta khâm phục ý thức dân tộc có thể nói là sâu sắc và đậm đà ở ông. Nhưng trong tuyển thơ của mình, ông không chọn bài thơ Nôm nào cả. Vậy là dù tiến bộ đến đâu ông vẫn chưa thoát khỏi giới hạn của giai cấp và thời đại. Đó là điều lý giải tại sao Lê Quý Đôn không trân trọng ghi lại các tác phẩm Nôm của mình như ông đã làm với các sang tác bằng chữ Hán trong “Quế Đường thi tập”. Tương truyền có một số bài thơ rất hay của ông như bài: “Rắn đầu biếng học” nhưng tạm thời vẫn phải coi là khuyết danh. Điều cần nói sau cùng là quan niệm đẳng cấp phong kiến vẫn chỉ đạo việc tuyển chọn thơ của Lê Quý Đôn. So với “Tinh tuyển chư gia luật thi” và “Trích diễm thi tập” thì đây là một bước lùi đáng tiếc, song không phải là không lí giải được. Nhớ lại thì đây là một tuyển tập làm theo lệnh của triều đình. Rất may là một số học giả ngay sau ông đã mạnh dạn thoát khỏi vòng cương tỏa ấy. Nguyễn Thụ, sống vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX trong tiểu dẫn viết cho “Việt thi lục biên” (một tuyển thơ do ông biên soạn) rằng: “Việc phân thành danh thần, thánh thần, văn thần… biết có thích đáng hay không?” (49). Quả là “hậu sinh khả úy”! Dẫu sao mặt tích cực, tiến bộ trong quan niệm và thể lệ sưu tầm, tuyển chọn thi ca của Lê Quý Đôn vẫn là chính. Riêng ở phương diện này đóng góp của ông là không thể phủ nhận được. Bùi Huy Bích, học trò của ông, tác giả bộ “Hoàng Việt thi tuyển” nổi tiếng đã chịu nhiều ảnh hưởng sâu đậm của thầy mình. Cố nhiên ảnh hưởng lớn lao của nhà bác học Lê Quý Đôn không chỉ về mặt tuyển thơ, và không chỉ riêng đối với học giả họ Bùi.

 

Comments