Lê Quý Đôn với nền văn chương dân tộc

Lê Quý Đôn sớm tiếp thu không chỉ tinh hoa của văn chương Trung Quốc mà trước hết là truyền thống tốt đẹp của văn chương nước nhà. Câu mở đầu bài Cáo Bình Ngô bất hủ luôn luôn vang vọng trong tâm trí của học giả yêu nước họ Lê:

Xét như nước Đại Việt ta

Thật là một nước văn hiến.

Bài Cáo được Lê Quý Đôn trân trọng chép lại trong quyển II “Đế kỉ đệ nhị” của “Đại Việt thông sử”. Tiếp nối lòng tự hào về nền văn chương dân tộc, ông đã nhiều lần nhắc lại từ văn hiến (từ dủng của chính Nguyễn Trãi) trong những tình huống khác nhau. Lời tựa “Kiến văn tiểu lục” viết: “Nước Nam nổi tiếng là một nước văn hiến”. Trước đó trong “Đại Việt thông sử” Lê Quý Đôn đã khẳng định: “Nước ta được gọi là nước văn hiến (nghĩa là nước có văn hóa, có sách vở)” (Đại Việt thông sử - Tr. 99).

Ý thức về nên văn chương dân tộc ở Lê Quý Đôn bắt nguồn sâu xa từ lòng tự tôn, tự hào dân tộc. Là một nhà bách khoa, khi đứng ở bất cứ góc độ nào để nghiên cứu lịch sử và đời sống ông đều nhận ra cái cớ để yêu, để gắn bó với xứ sở này tới tận tim óc. Tìm hiểu địa lý nước nhà ông trầm trồ: “Dư đồ nước ta... thực là một nước có đủ tứ tài (bốn mặt được che kín làm phên dậu cho một nước)” (Khu vũ – Điều 76). Và, hãy nghe ông nói về thành Thăng Long: “Xét ra, thủ đô của nước ta là nơi chung đúc khí thiêng của non sông, cho nên thường có điềm thần long hiện” (Khu vũ – Điều 71). Trong bài thơ “Thứ Châu Kiều”, thi sĩ họ Lê đã ví núi sông nước Việt như trâm ngọc như vành đai vàng để trang sức cho đất nước thân yêu này:

Trâm ngọc non kia cài tận đỉnh

Đai vàng sông nọ thắt ngang lưng (19)

Đó là cái lớn. Nhiều cái nhỏ hơn như sản vật của nước Nam cũng bao trùm bởi sự nâng niu, quý trọng của ông. Ta biết Lê Quý Đôn có tập “Thượng kinh phong vật chí” (phong cảnh sản vật ở Thượng Kinh (20)).

Có thế xem đấy là tập kí sự ngợi ca người và cảnh chốn kinh kì. Và đây là vị ngọt thấm tận gan ruột của nhãn Thịnh Quang qua ngòi bút của Lê Quý Đôn: “Mỗi lần bỏ vào miệng thì trong răng lưỡi tiết ra một vị thơm như chất ngọc dịch của trời” (21). Không có tình yêu quê hương đằm thắm không thể miêu tả hay và đặc sắc đến vậy!

Trong đởi, Lê Quý Đôn đã có dịp đặt chân ra ngoài biên giới của nước mình. Đi đâu, ở đâu trên đất nước Trung Hoa bao la vĩ đại ông cũng đều hướng về quê cha đất tổ nơi mà theo ông ở phương diện nào cũng có thể sánh ngang với người nếu không muốn nói là hơn người. Trong mục “Khu vũ” rất khách quan, ông viết: “Cái tên Giao Chỉ có đã lâu, Kinh Thư gọi là Minh Đô, thực đáng là cái vực sâu, cái chằm rậm chứa tích văn minh của người ta vậy” (Vân đài loại ngữ I – Tr. 137). Ông tự hào chép lại các sách thán phục khi viết về nước ta như “Phiên nhưng tạp kí” của Trịnh Hùng đời Đường, hay sách của Chử Gia Hiên đời Thanh: “Nước An Nam xa cách Trung Quốc hàng mấy ngàn dặm, tuy đứng về danh nghĩa theo giáo hóa Trung Quốc, nhưng thực ra thì họ tự làm chủ một nước, đặt niên hiệu... phép tắc thì lấy nhân tài lại có phần tường tận hơn Trung Quốc” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 221). Lê Quý Đôn không khỏi xúc động khi thấy các sách phương Bắc viết về các nhân vật tài giỏi của nước Nam. Trong “Kiến văn tiểu lục” ông đã theo sách “Hoàng Minh thông kỉ” chép về kiến trúc sư nổi tiếng Nguyễn An, người “giỏi về mưu mẹo tính toán, rất sở trường về công việc xây dựng” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 256). Nhiều khi với tư cách là nhà khoa học, ông đối chiếu các sách khác nhau viết về cùng một sự kiện để làm nổi bật sự thật lịch sử vẻ vang của dân tộc mình. Mục “Khu vũ”, Điều 87, viết: “Sách “Tống sử cương mục” chép: “Quách Quỳ đánh bại Giao Chỉ ở sông Phú Lương (tức Nhị Hà), Lý Kiền (vua Lý Nhân Tông)xin hàng”. Nhưng nay xét sách “Nhị Trình di thư” trong đó có một đoạn nói về An Nam, thì trận ấy Tống triều bị thua to lắm”. Lịch sử dân tộc còn ghi lại nỗi kinh sợ của sứ thần nhà Nguyên Trần Cương Trung trong bài “Sứ hoàn cảm sự” (cảm tưởng sau khi đi sứ trở về) khi đặt chân lên đất nước ta:

Bóng lòe gươm sắt, lòng thêm đắng

Tiếng rộn trống đồng, tóc đốm hoa.

Theo Giáo sư Trần Nghĩa thì có lẽ Lê Quý Đôn là người đầu tiên dẫn ra bài thơ này (Tạp chí Văn học 6-1976).

Từ ý thức dân tộc bền vững và sâu sắc ấy, Lê Quý Đôn nhìn lại lịch sử văn chương dân tộc và tự hào nhận thấy giai đoạn nào văn giáo cũng phát đạt hưng thịnh. Đời Lý thì “hai vua Thánh Tông và Nhân Tông đều học rộng thơ hay” (Từ trong di sản – Tr. 85). Đến đời Trần, Lê Quý Đôn thấy “văn học cự thịnh” (Tựa “Văn nghệ chí”). Ông đặc biệt dành cho thời Lê Thánh Tông lời ngợi ca không tiếc lời. Thuần Hoàng (Thánh Tông) thì tài lược khác thường, đối với mọi việc... văn vật điển chương rất đẹp, không kém gì Trung Quốc” (Tựa “Đại Việt thông sử”). Sống trong thời hoàng kim ấy, theo Lê Quý Đôn, “không những các viên quan to... mà ngay cả những người không tiếng tăm ở đương thời cũng có những câu đề vịnh thanh tân, có thể truyền tụng” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 216). Nhìn đại thể là vậy mà đi sâu vào từng thể tài cũng không khác. Ông viết trong “Kiến văn tiểu lục” rằng: “Văn thể phú về triều nhà Trần phần nhiều khôi kì hùng vĩ, lưu loát đẹp đẽ” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 218).

Xin nói ngay rằng, việc đánh giá cao nền văn chương dân tộc của Lê Quý Đôn không phải là không có cơ sở thực tế vững vàng. Các học giả ở nước ngoài, ngày cả ở một nước có truyền thống văn chương lâu đời và rực rỡ như Trung Quốc khi có dịp tiếp xúc với các tác phẩm có giá trị và các văn nhân có tiếng của nước ta đều không nén được lòng cảm phục thành thực. Trong “Kiến văn tiểu lục”, Lê Quý Đôn có nhắc tới Chu Xán sang nước ta vào năm 1683. Đó là một người hay thơ. Khi về nước ông có tập “Sứ giao ngâm” trong đó có câu “Y quan văn vận trọng Nam Cương”. Nhắc lại chuyện này, Lê Quý Đôn rút ra: “Như thế thì tiếng tăm tiền bối nước ta vang đến Trung Quốc đã lâu”. Có thể nhắc lại trường hợp Phùng Khắc Khoan. Cũng trong “Kiến văn tiểu lục” ông có ghi lại rằng: “Người Triều Tiên tính tình mềm mỏng cẩn thận, thích đọc sách, nhiều văn học, ưa lễ phép... Khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573-1619) nhà Minh, Phùng Khắc Khoan củng sứ thần Triều Tiên Lý Toái Quang xướng họa. Toái Quang (người gọi Phùng Khắc Khoan là “dị nhân” – Phạm Quang Trung) lại đề tựa tập thơ của ông Phùng” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 224). Bản thân Lê Quý Đôn trong lần đi sứ phương Bắc cũng từng kết giao với nhiều học giả, sứ thần có tiếng của Trung Quốc và Triều Tiên. Tài năng của ông được phần đông thừa nhận và ngưỡng vọng. Theo chính Lê Quý Đôn kể lại thì ông có đưa một số tác phẩm của mình như “Quần thư khảo biện”, “Thánh mô hiền phạm”, “Tiêu tương bách vịnh thi” cho một số bậc danh nho ở Trung Quốc đọc và nhờ viết lời tựa thì được đánh giá cao. Riêng Khâm sai là Lang Trung Tân Triệu Chân thì khen là “văn chương có khí tượng cao siêu, hình sắc rực rỡ” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 229).

Điều đáng nói là mặc dù rất đề cao văn chương Đại Việt, Lê Quý Đôn không hề rơi vào vòng cương tỏa của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. Lòng tự hào dân tộc ở ông là chính đáng và đúng mức. Để làm nổi bật điều gì người ta hay dùng phép so sánh. Nhưng khi so sánh nền văn chương dân tộc ta với dân tộc Trung Hoa chẳng hạn, ông chỉ dùng các từ “không kém”, “ngang với”, “giống nhau”... Lê Quý Đôn từng viết: “Nước Việt Nam ta mở mang nền văn hiến, vốn không kém Trung Hoa”. Ông còn viết: Văn chương thời Lý thì “bóng bẩy đẹp đẽ”, “giống  văn nhà Đường”, còn văn thời nhà Trần thì “Lưu loát chỉnh tề”, “giống khẩu khí người nhà Tống” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 166). Ở đây ta tuyệt nhiên không bắt gặp cái giọng điệu tán tụng vô căn cứ của một vài học giả đời trước. Ví như Đào Cử viết: “Kìa như những bài ca “Bạch Lân”, “Chu Tước” của đời Hán, bài hát “Thiên Mã”, “Linh Chi” của đời Đường chỉ là khoe khoang rỗng tuếch... So với tập “Quỳnh uyển cửu ca” này (tập thơ đời Lê Thánh Tông – Phạm Quang Trung) thực cách xa một trời một vực” (Lời đề bạt ở cuối “Quỳnh uey6n cửu ca”). Tiếng nói lạc lõng này rất dễ bắt gặp vào thời nhà nước phong kiến suy tàn. Không mấy người không nhớ tới câu thơ khoác lác của Tự Đức:

Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán

Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường

Những người có tình cảm với dân tộc dầu sâu đậm đến bao nhiêu nhưng còn một chút lương tri thì đều không thể không thấy nghịch nhĩ.

Vậy là ý thức dân tộc ở Lê Quý Đôn không cực đoan xa lạ. Rất tự trọng đối với mình, ông cũng rất tôn trọng đối với người. Đúng như nhận xét của Đào Phương Bình: “Tinh thần tự hào dân tộc ở một con người trí tuệ và lịch lãm như Lê Quý Đôn thường không mâu thuẫn với tinh thần hữu nghị” – (Tạp chí Văn học 6-1976). Đó là cách hành xử nói chung của Lê Quý Đôn và điều này đặc biệt rõ rệt trong thái độ của ông đối với văn chương thuộc các dân tộc khác. Ông tán dương Đào Bật thời Nhân Tông nhà Tống bên Trung Quốc “là người có thi tài ngâm vịnh rất nhiều” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 191). Cũng trong “Kiến văn tiểu lục” ông còn cẩn thận ghi lại 21 bài thơ của Cao Biền sang trấn Giao Chỉ vào đời Đường với lý do thật đáng suy nghĩ: “Nhiều người chỉ biết Cao Biền co võ lược, mà không biết có tài làm thơ” (Kiến văn tiểu lục – Tr.181). Cố nhiên khi chép thơ của người nước ngoài đối đáp trong việc ngoại giao hay sang ta và vịnh cảnh đẹp của ta Lê Quý Đôn không phải đã hoàn toàn tránh được thiên lệch. Việc chép lại một số bào thơ thù tạc đơn thuần nhất là những bài đề cao tư tưởng xâm lăng của giặc như “Nam Cương tự hoài”, “Quá thiên oai kinh”... của Cao Biền trong “Kiến văn tiểu lục” là những ví dụ điển hình. Tuy những trường hợp này không nhiều. Ông thường đặc biệt coi trọng tình giao hảo lâu đời giữa hai dân tộc Trung - Việt. Trong chuyến đi sứ sang phương Bắc, Lê Quý Đôn thường thù tạc với nhiều bậc danh Nho Trung Quốc trong không khí tưởng chừng như hiếm có xưa nay:

Mưa gió thuyền đêm ôn chuyện cũ

Giang hồ chén rượu nhấp câu văn

(Giản Hỗ Trai – theo Đào Phương Bình)

Đó là nhân tài thi ca của một nước lớn, còn đối với nước nhỏ? Trong các bài thơ tặng đáp giữa Lê Quý Đôn với sứ giả Triều Tiên ta có thể đọc được những dòng chân thành mà ấm cúng bởi tình giao hảo:

Núi Tân và núi Tùng cùng đua nhau vẻ đẹp

Áp lục và Nhị Hà củng dài dằng dặc

Học vấn gồm cả sáu kinh

Văn chương nối được cả chín phép trị nước (22)

Còn đối với nước nhỏ hơn nữa? “Kiến văn tiểu lục” có ghi: “Chiêm thành là một nước nhỏ cũng không hiếm nhân tài” (Kiến văn tiểu lục – Tr.267). Đến thơ của sứ thần một nước rất ít người biết đến như Lưu Cầu cũng được Lê Quý Đôn đánh giá bao dung và tâm đắc: “Lời thơ cũng thanh thoát, đáng khen” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 223). Cách nhìn hay đúng hơn là tấm lòng của ông Bảng Đôn thật khoáng đạt biết nhường nào!

Ý thức dân tộc trong văn chương ở Lê Quý Đôn thật sâu sắc và mực thước. Tuy nhiên, đất nước Đại Việt dù nhiều vùng, nhiều miền vẫn “Trong, Ngoài như nhau” “Nam Bắc một dòng” “Phong tục thống nhất” “Luật điều một thể” “Xa thư cùng lối” (Phủ biên tạp lục). Vì vậy, nền văn chương dân tộc mà ông nói đến không phải của một vùng, một miền riêng rẽ cho dù vùng ấy, miền ấy đóng góp cho đất nước nhiều kiệt tác, nhiều danh gia đến mức nào. Đó là “văn mạch một phương dằng dặc không dứt” (lời của Lê Quý Đôn). Tính thống nhất của nền văn chương dân tộc được Lê Quý Đôn nhiều lần nhấn mạnh trong “Phủ biên tạp lục”, một tập bút ký do ông viết về xã hội Đàng Trong chủ yếu là xứ Thuận và xứ Quảng từ thế kỷ XVIII trở về trước. Đến đất Thuận Hóa ông viết: “Không thể bảo là không có nhân tài được” (23).Vào tới trấn Hà Tiên cực Nam ông lại viết: “Không thể bảo rằng Hải ngoại không có văn chương được” (Phủ biên tạp lục – Tr. 272). Đúng như ông thừa nhận “nhân tài đời nào là không có” và vì vậy ở đâu mà không có. Ta chợt hiểu vì sao chỉ tình cờ gặp nhà nho Lê Viết Trình khi qua xã Yên Định trên đường vào nhận thức ở Thuận Hóa ông đã kịp ghi lại bài thơ của nhà nho ít tiếng tăm ấy trong “Phủ biên tạp lục”. Và khi ghi lại thơ của những nhà nho Đàng Trong, Lê Quý Đôn đặc biệt chú trọng tới những bài, những câu thể hiện nguyện vọng thống nhất của nhân dân như:

Nam Bắc mừng nay đã một dòng

Hay:

Quảng Nam nguyên thuộc nước non xưa

(Phủ biên tạp lục – Tr. 315).

Chớ quên rằng thời Lê Quý Đôn sống là thời đất nước bị phân biệt. Vậy mà Lê Quý Đôn chưa bao giờ quan niệm Đàng Ngoài và Đàng Trong là hai nước khác nhau. Trong “Phủ biên tạp lục” ông ghi rõ khi xưng vương hiệu, họ Nguyễn đồng thời thay đổi phong tục, đổi áo mũ theo thể chế nước ngoài. Khi vào trấn thủ Thuận Quảng Lê Quý Đôn đã nhiều lần hiển dụ: “Y phục bản quốc vốn có chế độ, địa phương này từ trước cũng chỉ tuân theo quốc tục. Nay kính vâng thượng đức, dẹp yên cõi biên trong ngoài khác nhau, chính trị và phong tục phải nên thống nhất. Nếu có người mặc quần áo theo kiểu người khách thì nên đổi theo thế chế của nước nhà” (Phủ biên tạp lục – Tr. 368).

Cái gọi là “nước nhà” ở đây ít nhiều gắn với chúa Trịnh Đàng Ngoài. Quan niệm thống nhất của nhà yêu nước họ Lê, vì vậy còn đi liền với sự thống nhất của nhà yêu nước họ Lê, vì vậy còn đi liền với sự thống nhất của một vương triều. Có điều ông đã lý giải yêu cầu thống nhất đất nước “ít nhiều phù hợp với quan niệm và nguyện vọng của dân” (Bùi Duy Tân, Tạp chí Văn học 5/1576). Thật hiển nhiên là chỉ có những bậc trí giả như ông mới quán triệt được tính thống nhất trong cách nhìn đối với nền văn hóa và nói riêng là nền văn chương của nước nhà đến mực ấy!

Tìm hiểu suy nghĩ của Lê Quý Đôn về nền văn chương dân tộc, ta không thể không lưu ý tới thái độ của ông đối với văn thơ quốc âm. Ở đây tồn tại một sự thật hai mặt. Ông là một học giả, một nhà thơ có tinh thần dân tộc được đánh giá là “sâu đậm” (chữ dùng của Giáo sư Phạm Huy Thông). Một người như vậy thường không thể xem thường tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình. Hơn thế, như nhiều bậc danh nho thời trước, ông cũng từng sáng tác bằng chữ Nôm. Bài văn sách “Lấy chồng cho đáng tấm chồng”, các bài kinh nghĩa “Mẹ khuyên con lúc về nhà chồng” “Mẹ ơi con muốn lấy chồng” và bài thơ “Rắn đầu biếng học” có thể còn nghi vấn, nhưng bài Khải ghi trong “Bắc sứ thông lục” thì phần chắc là do Lê Quý Đôn viết ra. Áng văn dài chừng 1500 chữ này có một ý nghĩa rất lớn đối với lịch sử văn thơ quốc âm ở ta. Khải là một thế cổ thường được viết bằng văn xuôi chữ Hán và thường để trình bày chính sự liên quan đến những vấn đề lớn lao của triều đại, của xã hội và của quốc gia. Lê Quý Đôn đã viết tờ Khải bằng chữ Nôm dưới hình thức văn xuôi không biền ngẫu. Có thể từ Hán thậm chí cú pháp Hán còn được dùng khá nhiều khiến người đọc thấy trúc trắc nhưng nhưng nhìn chung vẫn giản dị và tương đối dễ hiểu. Một vài nhà nghiên cứu đã tìm thấy sự “gần gũi” giữa bài Khải với lối hành văn của bài văn xuôi của Trương Vĩnh Ký “Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Dậu” được viết năm 1875 khi chữ quốc ngữ đã ít nhiều được thông dụng là vì vậy. Đặc biệt khi dùng quốc âm lần đầu tiên vào công việc hành chính Lê Quý Đôn đã “chính thống hóa” vai trò của tiếng Việt mà trước và sau ông nhiều người đã xem thường. Như vậy “bài Khai Nôm của Lê Quý Đôn thấm đậm tinh thần dân tộc, thể hiện niềm mong muốn dùng ngôn ngữ dân tộc để nói lên những điều dân tộc ta vẫn suy nghĩ, quan tâm” (Nguyễn Cẩm Thúy, Nguyễn Kim Hưng, Tạp chí Văn học 1-1977). Đó là một mặt của vấn đề. Mặt kia khiến ta không khỏi ngạc nhiên: bộ phận văn thơ Nôm của bản thân và của các triều đại trước đó lại ít được ông coi trọng. Phần thất lạc và phần bị coi là “tồn nghi” của một số bài văn thơ Nôm tương truyền là của Lê Quý Đôn có nguyên do từ đây. Có người thậm chí dựa vào việc ông “thường là bỏ qua các áng văn thơ Nôm” khi ghi chép văn chương nước nhà để hoài nghi một số tác phẩm quốc âm nhiều người cho là của Lê Quý Đôn (xem Tạp chí Văn học 1-1977). Cũng như vậy, ông không mấy chú ý tới việc sưu tập thơ văn quốc âm bác học khá phổ biến trước đó, cí như thơ của Nguyễn Cư Trinh vịnh phong cảnh Quảng Ngãi, hoặc thơ vịnh phong cảnh Hà Tiên của Mạc Thiên Tứ cũng như nhiều tác giả thơ văn quốc âm khác. Đến một bộ tuyển thơ theo hướng “toàn tập” khá rộng rãi như “Toàn Việt thi lục” cũng không tìm thấy một bài thơ quốc âm nào. Xem thế cũng đủ thấy Lê Quý Đôn vẫn chưa thoát ra khỏi quan niệm khinh rẻ văn thơ Nôm khá phổ biến thời trước. Tuy thế, thái độ đối với văn thơ Nôm chỉ có thể phần nào làm giảm đi chứ không thể xóa bỏ được ý thức dân tộc vốn rất sâu xa ở nhà yêu nước họ Lê.

Có điều, dù lòng tự hào về nền văn chương dân tộc mãnh liệt đến đâu cũng sẽ mất đi nhiều phần tích cực nếu ai đó coi di sản văn chương quá khứ của cha ông chỉ là báu vật đem ra ngắm nghía trầm trồ. Không ít người, xưa cũng như nay, dại khờ để dĩ vãng đè nặng lên vai mình.

Lê Quý Đôn không thuộc trong số những người này. Chẳng phải ông xem thường quá khứ. Không một ai tìm hiểu quan niệm văn chương của ông lại không nhớ tới câu này: “Dù cho tài tử tốt đẹp hơn cả mọi người trong cùng một thời đại, cũng không ra ngoài được ranh giới, phên dậu của tiền bối” (Điều 33 – Văn nghệ). Đó là tư tưởng quán xuyến mọi ý nghĩ của ông. Trong “Quần thư khảo biện”, ông tỏ ra không đồng tình với việc Hồ Thị nhất loạt mạt sát Ngũ Bá mà không sáng suốt nhận ra là trong họ cũng có mặt khá thủ, đáng học hỏi. Song, với Lê Quý Đôn, học tập, kế thừa là để đổi mới và sáng tạo. Điều này đặc biệt đúng với văn chương, với nghệ thuật. Nói như một nhà lí luận dang tiếng ở Trung Quốc, Viên Mai: “Người ta thích Tây Thi chứ không ai thích cái bóng của Tây Thi cả”. Và Lê Quý Đôn đã xác định phương châm cho mình, cho người: “Nên đem lời và ý của cổ nhân mà đúc lại cho mới, chứ đừng bước theo lối cũ” (Điều 10 – Văn nghệ). Nhưng “mới” là gì? “Mới” là từ cái “cũ” nhưng cao hơn cái “cũ”. Vậy muốn đạt được cái “mới” phải tuân thủ lẽ thường. Ông viết trong “Kiến văn tiểu lục”: “Văn chương tập tục chuyển biến luôn luôn từ chất phác mà tiến lên văn vẻ, từ mộc mạc mà tiến lên hoa mỹ, đều có thời kỳ, nhưng cốt phải cho đúng lẽ. Nếu quá văn hoa rồi đi đến phù bạc, thì không bằng chất phát lại còn hơn” (24). Trước di sản văn chương dân tộc, Lê Quý Đôn không chỉ yêu cầu cần biểu hiện nhận thức, không chỉ cần thấm nhuần mà còn cần cách tân – nhận thức và cách tân theo con đường phù hợp với bản chất và quy luật của văn chương chân chính mọi thời mọi nước mà trước hết văn chương phải gắn liền với cuộc đời. Lô gích này đưa ông tới những lời bàn về văn chương và hiện thực.

 

Comments