Lê Quý Đôn bàn về vai trò của văn chương

Điều đặc biệt đáng quý trong di sản lí luận của Lê Quý Đôn là ông luôn luôn đề cao sứ mệnh của văn chương đối với con người, cuộc đời và nhất là đối với sự tồn vong, hiển vinh của dân tộc. Trước sau, dù ý kiến người đời có khác nhau, ông vẫn dứt khoát chủ trương: “Văn chương là gốc lớn để lập thân, là việc lớn để sửa đời” (Điều 2 – Văn nghệ). Đó là cái nhìn thật bao quát và đúng đắn. Trong lời tựa “Kiến văn tiểu lục”, ông cũng viết: “Sách vở văn chương của cố nhân không phải một loại, xem vào đấy có thể giúp tâm trí, gợi tính tình”. Ta biết lí tưởng nhập thế của các nhà xưa là: tu, tề, trị, bình, trong đó “tu thân” được đặt ở vị trí đầu tiên, sau mới đến “tề gia”, “trị quốc” và “bình thiên hạ”. Cũng trong Điều 2 – Văn nghệ, Lê Quý Đôn còn nhắc đến 9 điều hay (đối với nhà nho) trong Kinh thi của Mao Công. Điều hay thứ 5 là “thăng cao năng phú” (lên cao thì biết là phú). Vậy là “lập thân” gắn với “sửa đời” và cả hai trong quan niệm Lê Quý Đôn đều gắn chặt với ví thế của văn chương. Một số người xem thường văn chương. Với ông, văn chương không bao giờ là thứ yếu. Ông nhiều lần dẫn lời cố nhân để củng cố niềm tìn của mình và cũng để thuyết phục người khác. Ông viết:  “Chu Tử nói: Bốn điều dạy của Khổng Tử tất lấy văn làm trước, muốn tóm tắt lấy lễ, tất phải biết rộng văn trước” (Điều 1 – Văn nghệ). Giáo sư Trương Chính nhận xét rằng: “Sống vào thời kỳ suy đồi của chế độ phong kiến, văn chương trở thành trò giải trí, nhưng ông không đế cho tư tưởng của thời đại ông chi phối” (Tạp chí Văn học số 6/1976). Cao hơn, nói ở ông đo đôi với làm, và vì vậy, mỗi lời ông nói ra mang tính khẳng định cao hơn và cũng thấm thía người đời hơn. Theo “Lê Quế Đường tiên sinh tiểu sử” cào mùa xuân năm Cảnh Hưng 73 (1776) Lê Quý Đôn được bổ nhiệm làm chức Hiệp trấn tham tán quân cơ ở Thuận Hóa: “Khi mọi việc tạm yên thì Lê Quý Đôn lại yết miếu Khổng Tử, mở lớp bình luận văn chương cho mấy chục người anh tuấn” (Vân đài loại ngữ I – Tr. 10). Thấy được vị trí của văn chương trong đời sống tinh thần của con người và xã hội. Lê Quý Đôn đã nhiều lần lên tiếng chỉ trích chủ trương hạ thấp “văn” trong quan hệ với “đạo”. Trong lịch sử mĩ học Trung Quốc, theo Giáo sư Phương Lựu, có ba hướng giải quyết mối quan hệ này: 1: Văn dĩ minh đạo; 2: Văn dĩ tải đạo; 3: Văn dĩ quán đạo.

Cũng theo Giáo sư  Phương Lựu thì hướng giải quyết sau tỏ ra tiến bộ hơn cả. “Văn dĩ quán đạo” vừa thấy được vai trò quyết định của “đạo”, vừa thấy được ý nghĩa quan trọng của “văn” nên dễ thuyết phục những bộ óc sáng suốt của các thời đại sau đó. Lê Quý Đôn thuộc trong số này. Ông thấm nhuần và tích cực bảo vệ hướng “quán đạo” khi bàn về “văn”. Ông viết: “Sách Luận ngữ nói: “Chí ư đạo, cứ ư đức, y ư nhân, du ư nghệ” nghĩa là: lấy đạo làm hướng cho sự lập chí, lấy đức làm chỗ căn cứ, lấy nhân làm nơi nương tựa, lấy nghệ làm thú vui chơi. Xem đó người xưa chỉ nói ngang nhau, chứ không chia ra điều nào là gốc, điều nào là ngọn” (Điều 2 – Văn nghệ). Đủ thấy Lê Quý Đôn là một bậc trí gia minh mẫn đến mức nào! Những người xem thường “văn” trong quan hệ với “đạo” không phải là không có căn cứ thực tế, và đặc biệt, đôi khi họ còn là những học giả lớn có nhiều ảnh hưởng ở Trung Quốc như các nhà Lí học đời Tống. Nhưng Lê Quý Đôn đã biết thu nhận những gì là tích cực với tinh thần gạn đục khơi trong khi tiếp xúc với di sản tư tưởng không mấy đơn giản của người xưa. Không phải ai cũng nghĩ và làm được như ông. Nhớ lại, vào thế kỷ sau đó, vua Tự Đức còn tuyệt đối hóa nhiệm vụ giáo huấn của văn chương đến mức một mực tuyên bố: “Đạo là gốc rễ của văn, văn là cành lá của đạo” (Lời bạt “Ngự chế thi nhị tập”). Thật xa lạ với quan niệm văn chương vào thời nhà nước phong kiến cực thịnh: “Từ thời Trung Hưng (1533) tới nay, các đấng tiên thánh và đức vua bấy giờ đều lấy văn đức gây nền thịnh trị” (12). Lê Quý Đôn đã nhận xét như vậy. Thực tế dân tộc thêm một cơ sở xác minh lòng tin của ông vào ý nghĩa không gì thay thế được của văn chương đối với cuộc đời. Không lấy làm lạ khi trên con đường nhập thế tích cực của một nhà nho như ông, văn chương luôn là người bạn đường thủy chung và đáng tin cậy. Lê Quý Đôn ý thức được rằng: “Cái học của đế vương cốt hiểu rõ mọi lẽ để trị nước, không chuộng lời lẽ văn chương, song những lúc rảnh việc cũng thường ngâm vịnh để vui chơi, di dưỡng tinh thần” (13). Đế vương còn thế huống hồ ông, một người có chí hướng không chỉ “lập đức”, “lập công” mà đặc biệt còn “lập ngôn” nữa. Trong “Kiến văn tiểu lục” Lê Quý Đôn có đưa ra câu của Nguyễn Vĩ trong Chế Văn truy tặng Nguyễn Trãi tước Hầu: “Văn chương sự nghiệp chi truyền, vĩnh thùy hậu thế” (Truyền tụng văn chương sự nghiệp để mãi đời sau). Rồi ông nhận xét: “Câu ấy đủ tỏ ra rằng người có công lao đứng đầu về việc giúp rập vua (trong đó có sự nghiệp văn chương – Phạm Quang Trung) thi ngày nay không thể mai một được” (14). Một lần, khi có dịp lên thăm núi Dục Thúy, đọc văn của Trương Hán Siêu và Phạm Sư Mạnh khắc trên vách đá, thi sĩ họ Lê đã cảm khái viết:

Xã tắc nhà Trần thay đã lâu

Huấn nghiệp hai ông ai biết đâu!

Chỉ có văn chương là bất hủ

Họ tên treo núi đường trăng sao. (15)

Như vậy Lê Quý Đôn luôn đặt giá trị của văn chương trong quan hệ chặt chẽ với con người và với cuộc đời. Quan niệm này của ông đã có ảnh hưởng lớn tới đương thời và hậu thế. Bùi Huy Bích, người học trò xuất sắc của ông đã tâm niệm: “Người quân tử đời sau biết chăm chỉ học hỏi để sửa mình rồi dần dần trở thành người có văn chương, ấy là người bậc nhất. Những người tập làm văn chương rồi thấy được nghãi lý trong đó, là bậc thứ hai. Còn hạng bét thì chỉ biết có văn chương mà thôi” (Từ trong di sản – Tr. 107-108). Ở đây cần hiểu đúng học giả họ Bùi. Ông không hề coi nhẹ, hạ thấp văn chương. Có chăng ông chỉ xem thường thứ văn chương và loại nhà văn coi văn chương là mục đích chính, thậm chí duy nhất để lập thân mà thôi.

Ý thức sâu xa về vai trò của văn chương đối với đời sống và con người đã khiến Lê Quý Đôn luôn quan tâm tới chế độ đào tạo và tuyển lựa nhân tài. Theo ông: “Việc kén chọn nhân tài (ngoài thi cử - Phạm Quang Trung) không có phương pháp nào khác nữa cho nên người trên phải mượn con đường này để thu hút người tài tuấn, người dưới cũng mượn con đường này để làm cái thang tiến thân”. Từ đó ông kiến nghị: “Khoa điều cử lập nghiệp cần phải bớt đi, trình thức cần phải giản dị, thì sĩ tử mới không phân tán ý chí mà việc học được chuyên, văn từ đó mới có thể khả quan, nhân tài không đến nỗi bỏ sót”. Phép thi triều Lê có 4 kì: đầu tiên thi kinh nghĩa; sau thi chiếu chế biểu; tiếp tục là thi thơ phú; cuối cùng là thi văn sách. Cã 4 kì thi phải hợp cách mới trúng tuyển. Sàng sảy như thế theo ông là đủ. Ông thẳng thắn cho rằng: Nếu bằng văn bát cổ thi vào kì đầu thì sẽ “hạn chế bó buộc sĩ tử” tạo ra thứ “sáo văn kinh nghĩa thật là vụng và quê kệch” nghĩa là thứ văn chương không thiết thực, không có ích cho đời (Kiến văn tiểu lục – Tr. 93-94). Chẳng là vào các khoa thi từ năm Bảo Thái thứ 9 (1728) đời Lê Dụ Tông theo ý kiến của Nguyễn Công Hãng loại văn bát cổ bắt đầu được dùng cho thi cử. Sư phê phán thẳng thắn và gay gắt “sáo văn kinh nghĩa” thể hiện sự sáng suốt của học giả họ Lê – một người luôn coi trọng giá trị thực chất, chống lại sự vu khoát, phù phiếm của chữ nghĩa, của văn chương. Do bản chất thủ cựu của chế độ đang suy tàn, giai cấp phong kiến đã không chấp thuận kiến nghị cải cách khoa cử của ông. Mãi đến đầu thế kỷ XX phép thi văn bát cổ vẫn được duy trì. Nhà chí sĩ Phan Châu Trinh, phải lên tiếng đả kích “Tám vế văn chương giấc ngủ nồng”. Chỉ từ sau khoa thi chữ Hán cuối cùng vào năm 1919, văn bát cổ ở ta mới chết hẳn.

Điều đáng nói là Lê Quý Đôn cũng như các văn nhân, học giả ta sống trên một dải đất bị nạn ngoại xâm đe dọa nên loại văn chương có ích với con người và cuộc đời đồng thời phải là thứ văn chương có ích đối với dân tộc và đất nước. Từ việc đề cao văn chương trong việc “lập thân”, “sửa đời” tới việc đề cao văn chương trong sự nghiệp cứu nước và tôn vinh đất nước là con đường tự nhiên hợp lẽ trong quan niệm văn chương của ông. Có thể xem đây là bộ phận quý giá hơn cả trong di sản lí luận văn chương của ông cha ta mà Lê Quý Đôn là một trong những đại biểu xuất sắc nhất. Bởi, chỉ cần so sánh với di sản mĩ học đồ sộ của một dân tộc có một nền văn minh rực rỡ và lâu đời ở cạnh ta như dân tộc Trung Hoa mới thấy hết giá trị của những gì ta có. Giáo sư Phương Lựu đã nhận xét: “Trong kho tàng lí luận văn chương cổ điển vô cùng phong phú của Trung Quốc, một quan niệm như vậy (tức quan niệm văn chương gắn bó với sự nghiệp giữ nước và làm vẻ vang cho đất nước – Phạm Quang Trung) còn rất mờ nhạt” (16).

Lê Quý Đôn xuất thân và trưởng thành từ cửa Khổng sân Trình. Ông không thể không chịu ảnh hưởng của học phái Nho gia. Trong nhiều cái dở, giáo lý Nho gia nhất là Nho gia truyền thống cũng có không ít những cái hay khả dĩ chấp nhận và phát huy được. Trong mối liên hệ với quốc gia cũng thế. Luận ngữ - một trong “tứ thư” nghĩa là bộ sách kinh điển của nhà Nho, có viết: “Hành kỷ hữu sỉ, sứ ư tứ phương, bất nhục quân mạnh, khả vị sĩ hi” (Lúc thường giữ mình có liêm sỉ, khi đi sứ ra bốn phương không làm nhục mệnh nước, như thế có thể gọi là kẻ sĩ vậy) (17). Đọc sách của các bậc đại nho Trung Quốc, Lê Quý Đôn càng thêm thấm thía cái đạo lớn ấy ở đời. ông viết trong Điều 4 – Văn nghệ: “Trông cái nhà đẹp, biết là danh gia, thấy cái cây cao, biết là nước cũ, nước có hồng văn (văn hóa to tát) ở trong nước dấu hiệu của đời Thánh”. Tìm hiểu lịch sử Trung Quốc, Lê Quý Đôn không chỉ thấy những tấm gương đáng học tập, mà còn thấy những bài học phản diện đáng chê trách. Đây là một trong những sự thật chua chát xảy ra ở đời Tống: “Lúc an nhàn nhìn thấy các bậc công khanh đại phu, văn chương, phong thái tinh thần, dáng vẻ siêu nhiên như ở ngoài cõi tục, ai chẳng ngưỡng mộ ước muốn. Nhưng khi nước nhà nguy cấp thì trong khắp bốn bề chẳng có ai mà nhờ cậy. Than ôi! Những kẻ trị nước dủng hư văn cao đàm để làm gì?” (18). Thật đáng trách thứ “hư văn”. Càng đáng trách hơn “những kẻ trị nước dùng hư văn”. Đó là sai lầm? Không, hơn thế, đó là tội lỗi, vì nó có quan hệ đến vận nước nghĩa là đến số phận của hàng triệu sinh mạng.

Có một sự thật: trước Lê Quý Đôn rất lâu, nhiều vị vua anh minh, nhiều bậc danh nho đã biết gắn văn chương với dân tộc. Xem văn chương nhất là thi ca như một vũ khí lợi hại trong công cuộc đánh giặc cứu nước cũng như coi văn chương như một phương tiện hữu hiệu làm hiển danh cho đất nước vốn là một truyền thống tốt đẹp đặc biệt khi nước nhà gặp họa ngoại xâm hoặc khi có dịp đi sứ phương Bắc. Cách ông năm thế kỷ, Trần Thái Tông trong “Tứ sơn kệ kinh tự” đã sảng khoái viết: “Văn bút tảo thiên quân chi trận” (Văn chương phải có thế trận đuổi nghìn quân giặc). Đặc biệt là thơ sứ của các vị tiền bối. Lê Quý Đôn rất khâm phục tài năng và phẩm cách của nhiều sứ giả điển hình là Phùng Khắc Khoan. Ông đi sứ Trung Quốc năm 1597, được vua Minh rất kính trọng, không gọi thẳng tên mà gọi là Phùng Kỳ lão. Sứ giả Triều Tiên Lý Toái Quang khâm phục gọi ông là “dị nhân”. Phùng Khắc Khoan với “Sứ hoa thủ trạch tập” được Lê Quý Đôn nhắc đến trước tiên phong “những bài để vịnh, tặng đáp làm trong khi phụng mệnh đi sứ” từ triều Trùng Hưng đến thời ông (Kiến văn tiểu lục – Tr. 209). Lê Quý Đôn vô củng tự hào khi xác nhận: “Các sứ thần ta sang Bắc quốc, giong ruổi đường trường muôn dặm được sĩ phu bên đó đặc biệt coi trọng, thường cùng xướng họa nhiều bài” (Từ trong di sản – Tr. 90). Trên cơ sở đó, trong “Kiến văn tiểu lục”, ông đánh giá cao Nguyễn Trực (đỗ Trạng nguyên lúc còn rất ít tuổi, giao thiệp với sứ thần nhà Minh là Hoàng Giám rất tài tình, một lúc họa xong 50 vần thơ lưu biệt) “là có thể giữ được thể diện trong nước” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 269). Cũng rất nhất quán với quan niệm của mình, ông đã khen hai bài thơ họa sứ thần Trung Quốc của Phạm Sư Mạnh là “có phần làm mạnh được quốc thể” (Kiến căn tiểu lục – Tr. 175). Do coi trọng thứ văn chương đề cao tinh thần tự tôn dân tộc mà Lê Quý Đôn không chỉ đề cao thơ sứ mà còn đề cao thơ vịnh sử. Những người quan tâm văn chương cổ đều biết ông đánh giá rất cao “Thoát hiên vịnh sử thi tập” của Đặng Minh Khiêm như thế nào. Ông đã dùng những lời bình phẩm cao nhất “danh bút”, “văn chương kiệt tác” để nhận xét các bài vịnh sử của nhà thơ họ Đặng. Ở đây có lí do văn chương. Nhưng lí do chủ yếu có lẽ là vì những bài thơ của Đặng Minh Khiêm đã góp phần khơi gợi truyền thống yêu nước tốt đẹp của dân tộc, điều được ông rất coi trọng ở văn chương.

Nổi bật trong quan niệm văn chương yêu nước của Lê Quý Đôn là ở chỗ ông luôn đòi hỏi tinh thần đấu tranh khôn khéo, không mệt mỏi, không khoan nhượng nhằm bảo tồn và phát huy vốn văn chương, văn hóa của dân tộc mình. Tự ông đã trở thành tấm gương sáng chói cho các thế hệ sau ông cung soi để nhận ra tấm lòng của mình đối với văn chương dân tộc. Ông đã vạch trần âm mưu thâm độc của kẻ thù phương Bắc là nhằm bằng mọi cách đồng hóa dân tộc ta đi tới thôn tính vĩnh viễn đất nước ta. Lê Quý Đôn chỉ rõ giặc phương Bắc không chỉ tàn phá nước ta mà còn đốt sạch sách vở hủy hoại văn hóa của ta. Ông viết trong “Đại Việt thông sử”: “Đến đời Nhuận Hồ nước mất tướng nhà Minh là Trương Phụ (1406) lấy hết sách vở cổ kim của ta gửi theo đường sông về Kim Lăng (Kinh đô nhà Minh)” (Đại Việt thông sử - Tr. 108). Chúng còn lùng bắt nhân tài của ta nữa. Trong “Kiến văn tiểu lục” ông không kìm lòng được khi viết: “Cuối đời Hồ Quý Ly, bọn Trương Phụ lùng tìm sĩ tử nước ta đưa sang Kim Lăng” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 255). Vậy kẻ thù nhằm đốn cả ngọn lẫn gốc. Lê Quý Đôn đã yêu cầu ngăn chặn lại và chính ông đã làm. Lịch sử đã có những trang chói lọi ghi lại những chiến công hiển hách chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Lịch sử cũng còn có những trang chói lọi không kém ghi lại những chiến tích trong việc giữ gìn, bảo tồn nền văn hóa dân tộc trước ý đồ đồng hóa của ngoại bang. Một trong những tên tuổi và sự kiện chói ngời đó là Lê Quý Đôn và chuyến đi sứ khoảng 1760-1762 của ông. Đặt chân sang đất người, biết bao điều mới lạ đến với ông. Lê Quý Đôn đã đọc và nhìn biết được nhiều. Có bao cái hay cũng có bao điều dở. Đặc biệt ông có dịp đọc cuốn “An Nam Chí” của Cao Hùng Trưng đời Minh. Theo Lê Quý Đôn, cuốn sách “mười phần cũng được hai ba phần” nghĩa là cũng có một vài sự thật. Tuy nhiên, ông cho rằng “Lời nói phần nhiều phụ bạc” nghĩa là xuyên tạc sự thật, nhất là đoạn chép về cái gọi là “huyền thoại Giải phu tử”. Chẳng là, vì trái ý vua Minh Thành Tổ, Giải Tấn bị truất chức và đưa sang Giao Chỉ làm tham nghị. Hắn ở đây vỏn vẹn một năm. Thế mà Cao Hùng Trưng lại cho rằng: “Nước Nam từ khi được Giải Tấn dạy bảo, mới biết xu hướng về việc học, nên họ gọi Giải Tấn là Giải phu tử” (Có ý tôn thờ như Khổng Tử ở Trung Hoa). Lê Quý Đôn nhận xét: “Chép như thế thật là càn dỡ”. Đáng nói là nhiều người không chịu tìm hiểu thực hư lại cứ tin là thật. “Khi tôi phụng mệnh sang sứ - Lê Quý Đôn viết tiếp - thấy các nhà Nho Trung Quốc hỏi về việc “An Nam tôn thờ Giải phu tử” tôi đã biện bạch về sự sai lầm, tôi đưa cuốn “Trích diễm thi tập” cho Chu Bội Liên, đô đốc Quảng Tây, để họ biết triều đình nhà Trần đã có nhiều văn học thi chương, không phải từ Giải Tấn, người ta mới biết văn học” (Kiến văn tiểu lục – Tr. 170-171). Nhiều người đến nay vẫn thầm thán phục ông. Một tập thơ như “Trích diễm thi tập” với ông có khác gì vũ khí sắc bén. Và nếu lịch sử không sản sinh ra những người giàu tâm huyết với giống nòi như ông thì không rõ con người và tổ tiên Việt Nam sẽ ra sao?

Hành động luôn thống nhất với quan niệm và cả hai đều không thay đổi trong suốt cuộc đời ngót 60 tuổi của Lê Quý Đôn. Điều này lí giải ảnh hưởng to lớn của niềm tin về vai trò và sức mạnh văn chương của ông đối với đương thời và hậu thế. Dễ dàng nhận thấy ảnh hưởng này, chẳng hạn, tới Ngô Thì Nhậm – một nhân cách văn hóa lớn của dân tộc ta. Từ nhận thức sâu sắc về sứ mệnh của văn chương, học giả họ ngô đã phân biệt hai tên gọi “gia” và “đại gia”. Và ông đã giải thích: “Đại gia là chữ dùng để chỉ người có văn chương giúp đời” (Từ trong di sản – Tr. 75). Đây là đối với cuộc đời. Đối với đất nước, cũng như Lê Quý Đôn, ông xác nhận: “Từ sau đời Lê Trung Hưng, các nhà thơ có tiếng xuất hiện nhiều qua các tập thơ đi sư” (Từ trong di sản – Tr. 76). Cà một thế hệ và nhiều thế hệ sau đó cùng chung một tiếng nói, một tấm lòng và một hành động. Lê Quý Đôn là một mắc xích thêm chốt của truyền thống trọng văn chương, trọng nhà văn mà dân tộc ta trong suốt trường kỳ năm tháng đã tạo lập nên. Có thể thấy rõ hơn điều này qua cái nhìn và thái độ của ông đối với di sản văn chương dân tộc.

Chú thích:

(1)   Lê Quý Đôn Toàn tập, tập III, tr.26 (từ đây viết tắt là Đại Việt thông sử).

(2)   Từ trong di sản..., tr.86 (từ đây viết tắt là Từ trong di sản).

(3)   Lê Quý Đôn Toàn tập, tập II, tr.266 (từ đây viết tắt là Kiến văn tiểu lục).

(4)   Dẫn theo Đào Phương Bình.

(5)   Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam, tr.48.

(6)   Theo “Lê Quý Đôn”, Bùi Hạnh Cẩn, Nxb Văn hóa, 1985.

 

Comments