In sách lần đầu

 

TÌNH CẢM CỦA NGƯỜI DẠY TRONG GIẢNG VĂN

(Một số kinh nghiệm dạy giảng văn ở cấp II phổ thông - Nxb Giáo dục, H., 1979)

 

Nói đến văn học là nói đến cuộc sống và con người, hay đúng hơn là nói đến cuộc sống con người trong đó có đời sống tình cảm. Vả chăng, khi nhà văn phản ánh hiện thực có bao giờ lại không biểu lộ một thái độ nhất định. Đó là lòng yêu hay ghét; niềm vui hay nỗi buồn; nỗi căm ghét hay thương cảm; đả phá hay xây dựng; tôn trọng, tự hào khâm phục hay mỉa mai, phẫn nộ... Có bao nhiêu sắc thái tình cảm trong đời sống thì có bây nhiêu cung bậc tình cảm trong văn học.

Vì lẽ đó, giảng văn không thể không tiếp xúc với hiện thực tác phẩm và cũng không thể không đồng cảm với thái độ tác giả. Tác phẩm văn học có sinh mệnh riêng rất trực cảm. Người dạy văn học cần cảm thụ và phân tích tác phẩm không chỉ bằng khối óc mà cả bằng con tim. Không như vậy, chúng ta chẳng thể hiểu nổi công việc của người giáo viên văn học. Giảng văn, bởi thế, được coi là một thử thách lớn đối với người dạy văn. Trong giờ giảng văn người giáo viên phải huy động, phát huy triệt để mọi năng lực, phẩm chất, cá tính và khả năng sáng tạo tiềm tàng của riêng mình.

 Từ trước đến nay, vấn đề tình cảm trong giảng văn được nhiều người quan tâm, suy nghĩ. Bao nhiêu tâm huyết dồn vào bài giảng nhiều lúc vẫn thấy thất bại khi cảm thấy mình chưa đem lại cho học sinh sự xúc động, say mê. Cố nhiên, hứng thú và sự kích động còn tuỳ thuộc vào người nghe. Song không ai chối cãi được rằng người dạy bao giờ cũng giữ vai trò quyết định. Giảng văn với những rung động trong sáng và sâu sắc thì nội dụng tư tưởng bài văn sẽ dễ dàng in đậm nét vào tâm hồn học sinh. Tôi còn nhớ như in vẻ mặt, ánh mắt, giọng nói, cử chỉ của thầy giáo tôi khi giảng bài Bác ơi! của Tố Hữu cách đây 7 năm. Những giọt nước mắt tinh thần đúng đắn sẽ làm cho tâm hồn con người trong sáng hơn, cao đẹp hơn, nó xa lạ với thứ tình cảm yếu đuối uỷ mị tiểu tư sản. Có thể nói, tài năng của người dạy văn không dừng ở mức cảm mà thực sự vươn tới nghệ thuật truyền cảm. Vì những lẽ đó, việc tìm hiểu vai trò tình cảm của con người dạy trong giảng văn không chỉ để thấy ý nghĩa to lớn của nó mà còn thấy những khó khăn thử thách của nó để có phương hướng rèn luyện suốt đời mình.

Như trên đã nói, chúng ta không thể hiểu nổi công việc của người giảng văn nếu tách rời vấn đề tình cảm của người dạy. Bởi vì, tình cảm đó quán xuyến và thâm nhập vào toàn bộ công việc của người giáo viên văn học. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ xin trao đổi về vấn đề đó qua bước thâm nhập tác phẩm (trong khâu chuẩn bị) và bước truyền thụ (trong khâu lên lớp).

Chúng ta đều biết muốn giảng một bài văn, bài thơ (hay bất cứ một đoạn trích nào cũng vậy) người dạy phải cảm hiểu thật sâu sắc và đầy đủ bài văn, bài thơ đó. Việc chiếm lĩnh đối tượng giảng văn được tiến hành trong khâu chuẩn bị trước khi lên lớp. Theo chúng tôi, bài soạn chỉ là kết quả cụ thể chứ chưa phải là kết quả cuối cùng của khâu chuẩn bị bài giảng văn. Cái quan trọng nhất, cái kết quả cuối cùng là người giáo viên phải thâm nhập được tác phẩm. Thâm nhập bài văn, bài thơ nghĩa là phải thực sự cảm được cái hay, cái đẹp của tác phẩm, phải sống cùng với tâm trạng của tác giả, tính cách nhân vật và không khí câu chuyện. Có sống hoà vào thế giới nhân vật và hiện thực tác phẩm, người giáo viên mới phân tích, bình giả xác đáng, sâu xa được. Để có cơ sở thâm nhập tác phẩm ta phải có tình cảm với bài văn, với tác giả. Nhà văn đã bằng tất cả sự say mê, rung động của mình để sáng tạo tác phẩm thì người cảm thụ và giảng dạy nó cũng phải say mê, rung động như vậy. Bước thâm nhập bài văn đòi hỏi người giáo viên phải có năng lực cảm thụ thật nhạy, thật tinh và thật sâu. Người dạy văn giỏi đồng thời phải là người thưởng thức văn học tốt. Vấn đề trước tiên đặt ra là đọc tác phẩm như thế nào? Bời vì, “đọc văn” là bước đầu đi vào tác phẩm. Đọc văn phải rõ ràng, diễn cảm, cố nhiên!  Đọc văn còn đòi hỏi phải mê say. Không mê say thì sao ta hiểu nổi ý nghĩa biểu hiện của ngôn ngữ văn học, một thứ ngôn ngữ đặc biệt cụ thể , giàu hình ảnh, phát huy đến mức cao độ chức năng biểu cảm của ngôn ngữ. Ngôn ngữ văn học nhất là ngôn ngữ thơ ca rất hàm súc và tinh tế, nên vừa đọc ta vừa phải suy nghĩ, đọc rồi nghĩ, muốn nghĩ chín phải để tình cảm lắng lại. Cho nên, khi giảng văn, ta nên đọc trước bài văn, bài thơ đó độ dăm bảy ngày. Lần đọc đầu tiên, ta nên ghi ngay những ý nghĩ đột xuất nảy ra trong đầu. Theo kinh nghiệm thì những ý nghĩ đó, cảm tính thôi, nhưng lại thường nằm ngay trong phần cơ bản nhất của tư tưởng tác phẩm. Ở đây, có cái khó là những bài giảng thường rất quen thuộc nên nó có thể làm giảm cảm xúc đi khá nhiều. Song nếu nó đã được cuộc đời tin yêu thì sự phát hiện có bao giờ hết được.

Một công việc rất có hiệu quả là dựa vào tình cảm đối với tác giả bằng cách quay trở lại tìm hiểu thêm về cuộc đời nhà văn. Cuộc đời của các tác giả được chọn dạy trong trường học thường có ý nghĩa giáo dục lớn. Họ là những tấm gướng sáng về tư tưởng và đạo đức, khí phách và tâm hồn, đáng để chúng ta suy nghĩ và học tập.  Khi giảng tác phẩm của những nhà văn, nhà thơ lớn như vậy bao giờ ta cũng trân trọng, tự hào. Giảng thơ văn Hồ Chí Minh, chúng ta cảm phục sức mạnh tâm hồn và trí tuệ của Người. Chỉ cần nghĩ đến một cuộc đời như thế thì ai chẳng thấy cuộc đời là đáng yêu, con người là đáng trọng. Và rất tự nhiên, tình cảm đó thấm vào ta khi đọc và phân tích những bài thơ như “Cháu bé trong nhà lao Tân Dương” và “Không ngủ được” (Lớp 6), những bài văn như “Thuế máu” (Lớp 9), “Tuyên ngôn độc lập” (Lớp 10). Người ta ít khi thoả mãn về những giờ dạy thơ văn của Bác cũng vì cái tình cảm của ta đối với Người không hề có giới hạn. Đó là một biểu hiện cao đẹp của tinh thần trách nhiệm luôn thức tỉnh, của tình cảm thiêng liêng đối với vị Lãnh tụ muôn vàn tôn kính của dân tộc. Tình cảm của chúng ta cũng thật đặc biệt khi giảng tác phẩm các nhà văn miền Nam, những người được nhân dân cả nước tặng  danh hiệu cao quý “Nghệ sĩ – chiến sĩ”. Những trang sách như vậy thật ra là những trang đời. Nhiều nghệ sĩ đã ngã xuống vì mong mỏi sáng tạo những tác phẩm có giá trị để xứng đáng là  “người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá” (Hồ Chí Minh). Giảng về Nguyễn Thi, một người đã khuất, thì hình ảnh của nhà văn ngã xuống giữa chiến hào mà tay vẫn cầm khẩu súng hiện lên, xúc động ta rất nhiều. Và khi đọc tác phẩm “Người mẹ cầm súng” thì tự trong tâm hồn sâu thẳm mình rung lên một niềm kính trọng thật thiêng liêng.

Thâm nhập bài văn ít nhất phải thâm nhập trên hai phương diện: hoàn cảnh câu chuyện và tính cách nhân vật. Muốn nhập vào hoàn cảnh câu   chuyện yêu cầu phải có óc tái hiện và trí tưởng tưởng phong phú. Cái đó khó thật, nhưng chẳng khó bằng việc thâm nhập tính cách biểu hiện sinh động qua hình dáng, cử chỉ, lời nói và nội tâm nhân vật. Ở đây tình cảm giữ vai trò trọng  yếu. Ta phải đồng cảm với nhân vật, vui buồn cùng nhân vật, cảm thấy đau xót trước nỗi đau của nhân vật chính diện, cảm thấy phẫn nộ trước những suy nghĩ đê tiện và hành động bạo ngược của nhân vật phản diện... Được như vậy, ta mới thực sự sống với tác phẩm, mới hiểu sự diễn biến của tính cách nhân vật, mới nhìn thấy từ hành vi và tâm trạng nhân vật những điểm sáng giúp cho sự phân tích thấu triệt, tập trung và sáng tỏ. Như khi giảng “Vợ chồng A Phủ” (Lớp 10), ta cần dồn tình cảm vào nhân vật Mỵ. Người con gái xinh đẹp trẻ trung này phải sống lùi lũi trong góc nhà tăm tối. Mỵ chỉ tiếp xúc với cuộc đời bên ngoài qua cái cửa sổ nhỏ trăng trắng, không phân biệt nổi sương đêm trăng hay ánh sáng ban ngày. Cuộc đời ấy tưởng mòn mỏi dần, tàn lụi dần nếu không có ánh sáng của cách mạng rọi tới. Sự tủi nhục, cơ cực, cô đơn, buồn thảm như vậy sao có thể gọi là cuộc sống con người cho được. Xuất phát từ tình thương cảm ấy, tự nhiên ta lên tiếng tố cáo bọn chúa đất, phủ nhận xã hội bạo tàn chà đạp lên quyền sống thiêng liêng của con người.

Thâm nhập bài thơ là phải qua ngôn ngữ hình ảnh, nhạc điệu của bài thơ để cảm thông với tình cảm của nhà thơ. Và nói đến thơ (thơ trữ tình), trước hết là nói đến cảm xúc hồn nhiên trong sáng dạt dào của nhà thơ. Thơ (như cách nói của Lưu Trọng Lư) đi vào lòng người bằng bánh xe của tình cảm. Người phân tích cũng như người thưởng thức phải thực sự rung cảm theo nhịp rung của trái tim nhà thơ. Nhưng thơ vốn là tiếng nói đặc biệt của con người với con người nên tình cảm này bộc lộ tinh tế qua hình ảnh và nhạc điệu. Lên án tội ác của giặc Mĩ, kẻ thù của dân tộc và của các em thơ, Nhà thơ Chính Hữu viết:

Chúng mang bom ngàn cân

Giội lên trang giấy

Mỏng như một ánh trăng ngần

                                                                                                      Hiền như lá mọc mùa xuân

Hình ảnh tương phản bom ngàn cân tượng trưng cho sức hủy diệt ghê gớm giội lên trang giấy trắng mỏng manh, hiền dịu như bao hồn trẻ thơ, nói với chúng ta rất nhiều điều. Thái độ của nhà thơ như có phần bình thản song nó lại đốt lên trong lòng người đọc ngọn lửa căm thù. Một người dù thờ ơ, lãnh đạm với thời cuộc đến mấy cũng không thể dửng dưng cho được.

Thâm nhập bài văn, bài thơ tốt là bí quyết thành công trước tiên của bài giảng văn. Có điều thâm nhập tác phẩm là công việc phức tạp tinh tế đòi hỏi một sự rèn luyện bền bỉ, lâu dài. Đó là công việc của một đời người, một đời người gắn bó thiết tha với nghề nghiệp của mình. Bước thâm nhập tác phẩm có tính quyết định, song dù sao cũng chỉ dừng ở thế khả năng. Việc truyền thụ trên lớp biến khả năng ấy thành hiện thực. Rõ ràng, người giáo viên phải coi bước truyền thụ là mục đích sư phạm, chuẩn bị chu đáo cũng nhằm truyền đạt nhuần nhị, có hiệu quả trên lớp mà thôi.

Việc khôi phục tình cảm của giáo viên và học sinh được thực hiện khi giáo viên cùng học sinh đọc bài văn, bài thơ. Do đó, ta nên đặt cho mình yêu cầu không nhỏ khi hướng dẫn học sinh đọc và tự mình đọc để lấy lại cảm xúc cho bản thân. “Đọc văn” khác với “đọc chữ”. Biết bao nhiêu yêu cầu cụ thể cho một yêu cầu “diễn cảm”. Đọc văn chỉ có thể gọi thành công khi nó nâng tình cảm của cả giáo viên và học sinh, giúp giáo viên sống lại với tác phẩm; tạo tiền đề cho bước phân tích, bình giá tác phẩm. Vì lẽ đó đọc văn có vai trò quan trọng trong tình cảm người giảng văn.

Sau khi cùng học sinh khôi phục tình cảm bằng việc đọc văn, giáo viên bước vào bình giảng, phân tích tác phẩm. Tinh cảm của người dạy trong giai đoạn này gặp nhiều trở ngại. Trở ngại lớn nhất là giáo viên phải tuân thủ một số yêu cầu sư phạm như: viết bảng, hỏi để gợi suy nghĩ của học sinh, nói chậm cho học sinh ghi những đoạn cần thiết…Thời gian bị đứt đoạn, tình cảm cũng dễ gián đoạn. Vấn đề đặt ra: làm thế nào để nuôi dưỡng, duy trì tình cảm trong lòng mình, nhằm nuôi dưỡng, duy trì tình cảm trong lòng học sinh? Nếu là người nói chuyện thì khác. Anh ta sẽ bằng nhiều thủ thuật nhằm giữ tình cảm cho bản thân và người nghe. Giáo viên dĩ nhiên không phải là người nói chuyện, nhưng giữa người nói chuyên và người dạy văn có chung một ưu thế: việc thuyết trình, diễn giảng. Người giáo viên văn trên lớp chủ yếu sử dụng trực quan bảng và trực quan bằng lời nói. Ở mức độ nhất định hai hình thức trực quan này bổ sung, hỗ trợ cho nhau, và bài giảng càng hiệu quả khi người dạy biết kết hợp chúng một cách nghệ thuật. Mỗi hình thức trực quan tiềm tàng một ưu thế riêng. Trực quan bảng có tác dụng khắc sâu kiến thức. Trực quan lời nói có ý nghĩ tái hiện cảm xúc. Nếu quá lạm dụng trực quan bảng sẽ làm giảm sự cuốn hút của bài giảng đi khá nhiều. Do đó cần chú ý đúng mức đến trực quan lời nói.Vấn đề là ở chỗ giáo viên nên nói vào lúc nào và nói như thế nào. “Nên nhớ rằng nhiệt tình của giảng viên không thể hiện ở chỗ nói to, nói nhanh, nói nhát gừng, nói cụt, cũng không phải ở tư cách bên ngoài, mà ở ngọn lửa nội tâm, ở nhiệt tình có đảng tính và ở khí thế của mình” (1).

Dĩ nhiên lời diễn giảng của giáo viên phải chính xác, trong sáng, rõ ràng và trôi chảy, song sức mạnh của lời nói còn phụ thuộc nhiều vào tình cảm của người nói. Chỉ mang hơi ấm của lòng người, lời nói mới tỏa ra - tỏa sâu và tỏa sáng. Tình cảm đó phải là thứ tình cảm chân thực, phù   hợp với bài văn. Không có tình cảm thật sự thì lời giảng sẽ giả tạo. Ta thường nói “Anh ta kịch quá!” cũng có nghĩa là anh ta không thật. Muốn tăng sức truyền cảm của lời nói thì lời nói cũng cần phù hợp với động tác, nét mặt của người giáo viên. Trong trường hợp này, hình ảnh người giáo viên trên lớp cũng là một thứ trực quan sinh động. “Giảng viên nói không chỉ bằng giọng nói. Nét mặt điệu bộ và cả đôi tay cũng tham gia vào câu nói, đôi khi một cánh tay giơ lên, một bàn tay nắm chặt hay một cử chỉ khác có giá trị bằng cả câu nói. Song cử chỉ điệu bộ phải phù hợp với ý nghĩa của lời nói và với tình cảm của người nói” (2).

Diễn giảng tốt bằng giọng nói thích hợp rõ ràng có ưu thế lớn. Tuy thế, lời nói cần phải đúng lúc, đúng chỗ như ông cha ta đã từng dạy: “Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm”. Chúng ta có thể ví tình cảm của người giảng như con sóng lớn ngoài biển cả, nó dâng dần, dâng dần rồi cuộn trào ở đầu ngọn sóng, sau đó nó lại lan trải rộng mãi… Đỉnh điểm của ngọn trào tình cảm thường là trọng tâm giáo dục, giáo dưỡng của bài văn.

Trở lên trên, chúng tôi đã trình bày một vài suy nghĩ nhằm duy trì và phát huy tình cảm của người giáo viên văn trên lớp. Yêu cầu chung của tình cảm là phải lắng sâu, trầm tĩnh, không ồn ào, không xốc nổi, khiến tình cảm lắng đọng, có sức thuyết phục cao. Mặt khác, tình cảm dồi dào phải kết hợp với lí trí sáng suốt để bảo đảm độ sâu, độ chắc mà không rơi vào chủ nghĩa duy cảm phù phiến nông cạn. Có đạt những yêu cầu trên thì tình cảm mới thực sự có ý nghĩa và sức mạnh.

Tình cảm là vấn đề lớn đối với người giảng dạy văn học. Tình cảm người dạy văn góp phần làm cho “các em có thể quên tất cả, những phần còn lại trong lòng các em phải là cái gì rất sâu, rung động cả một đời người” (3).

 

………………………………………………………………………………............

 

(1), (2) Phancôvích - Nghệ thuật giảng dạy, Nxb Sách Giáo khoa Mác- Lênin, tr.246 & tr.247.

(3) Tố Hữu – Xây dựng một nền văn nghệ lớn, xứng đáng với nhân dân ta, với thồi đại ta, Nxb Văn học, H., 1973, tr.438.