Văn chương với thời trẻ của tôi (*)

Năm nay tôi bước vào tuổi 52, trên 30 năm trong nghề dạy văn, nghiên cứu và phê bình văn chương. Vậy mà giờ đây nếu có ai đường đột hỏi, cái thời trẻ, học phổ thông và đại học ấy, tôi đã học văn ra sao, ứng xử với văn chương thế nào, yêu thơ ai, văn ai, những tác giả và tác phẩm nào có ảnh hưởng rõ nhất tới văn nghiệp của tôi… thì e rằng tôi sẽ rất khó trả lời. Có vênh mặt, làm duyên làm dáng, làm mình làm mẩy quá không? Chẳng gì cũng là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, một trong những hội nghề nghiệp danh giá nhất, là Phó Giáo sư – Tiến sĩ Văn học, một trong những lãnh vực có ảnh hưởng xã hội nhất kia mà! So với nhiều tên tuổi lớn thì tự thấy còn thua kém nhiều lắm. Phải gắng gỏi, có khi suốt cả đời cũng chả bằng nổi cái dôi thừa của họ. Nhưng nghĩ lại, so với nhiều kẻ làng nhàng khác, lại cũng mang danh nọ danh kia, thì mình cũng đâu đến nỗi. Vốn liếng kể ra cũng khấm khá. Đáng mặt anh hào thì chưa, nhưng tính đi tính lại cũng không đến nỗi trắng tay. Điểm lại những tên tuổi  làm lý luận, phê bình văn chương nửa cuối thế kỉ XX vừa khép lại, một người có khe khắt đến mấy cũng không thể không nhắc đến tên mình. Văn chương có đỉnh, đồng thời có nền. Mình chưa là đỉnh nhưng chắc cũng là những viên đá góp phần tạo dựng cái nền rộng, cái nền chắc, từ đó nổi lên nhiều đỉnh nhấp nhô. Nếu có dịp xem xét tiến trình hiện đại hóa, hoà nhập hóa văn chương Việt Nam trong suốt thế kỉ, có lẽ người ta chỉ nhận thấy đỉnh. Muốn lý giải phải từ đỉnh mà tìm đến nền. Núi cao bởi có đất bồi  / Núi chê đất thấp núi ngồi ở đâu?

Thế là, dẫu có khiêm tốn đến mấy, cũng không thể phủ nhận được mình. Nói như người xưa, bản thân tôi cũng đã lập được danh, chủ yếu bằng phương cách lập ngôn. Vậy có gì vương vấn trong đầu khiến tôi phải e ngại dè chừng? Sự thật là vì lúc học phổ thông, kể cả lên đại học, tôi không phải là người học giỏi văn. Tôi học khá toán, và nói chung là các môn tự nhiên kia. Cũng may là một khi đã học toán được thì học văn cũng sẽ không đến nỗi nào. Chiều ngược lại thì chưa hẳn đã đúng đâu. Biết bao người học văn, làm văn đáng mặt mà tư duy toán học thì buồn thay, ngán ôi là ngán, cứ toàn xơi món ngỗng hoài!

Quê tôi ở Ninh Bình, một vùng đồng bằng Bắc bộ điển hình. Mọi thứ đều trông cậy vào mảnh ruộng. Mà đất ruộng thì nào có nhiều nhặn gì. Trong khi người mỗi ngày một đông. Vào khoảng giữa những năm 60 của thế kỉ trước, phong trào kết nghĩa xuôi ngược sôi nổi và thiết thực lắm. Nhằm để giúp đỡ nhau, cũng là để điều chỉnh dân số ở cấp vĩ mô. Ninh Bình kết nghĩa với Tuyên Quang. Cha tôi lúc ấy đang làm công tác Đoàn, xung phong lên miền núi, được biên chế vào một cơ sở sản xuất gạch ngói của tỉnh đặt ở huyện Yên Sơn. Cuối năm 1967, vừa xong lớp 9 ở quê, tôi theo cha lên Thành Tuyên, học lớp cuối cấp ở trường cấp 3 Tân Trào. Lớp 10 C chúng tôi khi đó rất được các thầy cô ưu ái. Phần nhiều  học được, lại con ông cháu cha. Tôi thuộc vào diện mèng nhất. Thế nhưng chúng tôi sống rất hoà đồng, vui vẻ và đầm ấm, cứ như anh em trong một nhà.

 Gần đây có dịp gặp lại nhau, người còn kẻ mất, đầu đã điểm bạc, lên ông lên bà gần như hết cả, mà mày tao thân thuộc cứ như ngày nào. Một lần  ăn uống tại nhà Hà, có Thắng, Thuần, Mỹ, Hạnh, Trung. Con cháu cùng ăn cứ há hốc mồm ra nghe, lạ lắm, chả hiểu mô tê ra sao cả. Hàng ngày, bố mẹ chúng dạy phải nói năng lịch thiệp, không được suồng sã, vậy mà ở đây như một thế giới khác, với những thang bậc giá trị khác, cứ đảo lộn lên tất cả. Cũng phải thôi. Chúng sống vào một thời khác. Thời chúng tôi vô tư  lắm! Mà cũng trong sáng và bay bổng lắm! Thôi, lòng tự nhủ lòng, còn sống khỏe mạnh, gặp được nhau là may mắn rồi. Biết đâu đấy, ngày mai…, ngày kia… liệu có thể còn gặp nhau đủ mặt? Cuộc đời này biết bao dang dở / Ta có thể đi mà chẳng kịp chào (Thơ Trần Nhuận Minh). Chả có thể đoán định được điều gì trước cả. Nói đâu xa, cách đây mới năm năm thôi, tôi còn được gặp Dụ (Kĩ sư  Giao thông), và Thắng (Kĩ sư Xây dựng), mà nay chúng nó, toàn những người tốt bụng và giỏi giang cả, đã lần lượt đi vào cõi vĩnh hằng. Những căn bệnh hiểm nghèo tai ác đã cướp đi của chúng tôi những cuộc đời dang dở, còn quá nhiều hệ lụy. Thế là bạn bè cũ đang sinh sống ở Hà Nội, phần đông là giới nữ, đau buồn đến như rã rời. Tháng trước, có dịp ra Hà Nội dự Đại hội III Hội Văn học Nghệ thuật các DTTS Việt Nam, tôi yêu cầu như một mệnh lệnh là hãy quên đi nỗi đau buồn mà tụ họp lại như trước, nếu như còn muốn giữ lại những gì không thể để mất. Xúc động nhất là lần này chúng tôi phát hiện ra Lã Thị Thu, người bạn đã bặt tin tức nhiều năm nay. Thật tình cờ, Thu lại là người bạn đời của anh Nguyễn Văn Điều, trước là chuyên viên của Ban Tư tưởng Văn hóa, giờ chuyển sang chuyên trách ở Liên hiệp Hội. Tôi gặp anh luôn, ở các hội nghị và đại hội chuyên ngành lớn nhỏ. Đường đột quá, chả ai bảo ai mà nước mắt cứ rưng rưng…

Tôi kể lòng vòng vậy để nói tới cái cốt lõi của người làm văn chương là phải biết quý trọng quá khứ của mình, của dân tộc mình. Không có quá khứ sẽ không có hiện tại và tương lai. Tuổi trẻ, cuộc đời đang ở phía trước, ít có điều kiện nhận ra điều này. Người có tuổi dễ thấm hơn. Mà trọng quá nhứ là trọng  nghĩa tình. Văn là người. Tình nghĩa sâu đậm thật sự là chất người quý nhất. Tôi không hiểu nổi một người làm văn chương lại có thể không biết nhớ, lại có thể vong ân bội nghĩa, lừa thầy phản bạn. Đời người quyết định tới đời văn, chất người làm nên chất văn là như thế chăng! Lại nhớ tới câu nói hồn nhiên của Sương Nguyệt Minh, người cùng quê tôi, cây bút văn xuôi hay có hạng ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội: Em viết không đến nỗi nào là vì em sống không mấy khi hời hợt.

Cũng do gắn với đời, với người mà lối ứng xử đối với văn chương cần phải hết sức tinh tế và thận trọng. Một chuyện xảy ra với chúng tôi vào năm lớp 9 nhắc nhở tôi điều này. Thầy dạy văn chúng tôi không may bị hỏng một mắt. Thầy thường đeo kính râm. Ai cũng biết kính chỉ có thể che khuyết tật chứ không thể làm thay đổi được hiện trạng. Cũng có thể khiến người khác quên đi. Chỉ là trong chốc lát thôi. Hôm ấy thầy dự giờ văn do Tổ chuyên môn thực hiện. Chẳng hiểu cao hứng thế nào mà người thầy dạy vận kia vận ngay câu xứ mù thằng chột làm vua vào chuỗi lời giảng của mình. Chắc chắn chỉ là vô tình, không hề có ác ý. Nhưng thầy giáo chúng tôi như một phản xạ tự nhiên, đứng dậy, bước ra khỏi lớp, mặt đỏ bừng. Lời xin lỗi chân tình sau đấy chỉ làm vơi đi chứ không thể làm mất hẳn ấn tượng đau lòng mà lời nói bất ngờ mang lại. Quả là một vết thương tinh thần khó lành. Khi thật sự bước vào nghiệp cầm bút, tôi luôn nhớ đến chuyện này. Chớ nên vô tâm, vô tình, có khi gây ra tội lỗi. Văn chương là thứ tinh nhạy nhất ở đời. Người làm văn chương là loại người dễ bị tổn thương lắm. Họ là người hơn hết thảy mọi người mà! Nhất là khi đặt bút viết phê bình. Cần phải cân nhắc kỹ lưỡng từng lời từng chữ. Phải đúng, mà còn phải hợp. Hợp lý, hợp tình, hợp người, hợp cảnh. Phải lường trước mọi chuyện có thể xảy ra. Đặc biệt, không được phép đao to búa lớn. Tình cần đi đôi với lý. Thế mới thuyết phục. Tâm phục và khẩu phục.

Trở lại với lớp 10 C của chúng tôi cách đây 35 năm. Giáo viên trực tiếp dạy văn đồng thời là chủ nhiệm lớp là thầy Dương Thụ. Thầy mới ra trường nên trẻ lắm. Có điều đã ra dáng một người làm nghệ thuật. Ăn nói, đi đứng, quan hệ… cứ khang khác thế nào ấy. Nhất là thầy còn sáng tác nhạc. Ngay từ dạo ấy đã rất ấn tượng. Ca từ giàu chất thơ, đến giờ tôi vẫn còn nhớ nhiều bài, như: Sáng sáng rồi, chim chào chào mời; mở cửa ra đón ánh nắng ban mai… Cái khác người dễ nhận thấy nhất nơi thầy là ngoài cuộc sống trần thế đời thường, thầy như còn sống một cuộc sống khác xa vời, có phần thoát tục. Tôi thấy có gì gần gũi, lại cũng có gì xa lạ. Chắc là do cái tạng của tôi không thật hợp chăng? Ngay từ  dạo ấy tôi đã tự xác định, nếu sau này mình có vướng vào nghề văn thì quyết không sa vào con đường sáng tác. Đời thì thực nhiều hơn mộng. Cứ ngơ ngơ ngác ngác, sống trong tưởng tượng, sống nhờ tưởng tượng, liệu có gặp may mắn không? Cách đây mấy năm, gặp lại thầy, giờ đã bỏ nghề dạy văn để trở thành nhạc sỹ Dương Thụ nổi tiếng khắp nước, đúng theo ý hướng của mình, tiền nong chả thiếu, mà tôi vẫn cứ thấy hình bóng của thầy ngày nào. Quý thì vẫn quý, có phần trọng nữa, nhưng bảo đánh đổi thì tôi không thể. Mỗi người có chỗ đứng của mình. Do thiên hướng chi phối. Các nhà tâm lý học có lẽ đã đúng khi cho rằng tính cách con người hình thành từ rất sớm, 6 – 7 tuổi gì đó đã định hình. Sau này chỉ uốn nắn, bồi đắp thêm thôi. Khó mà thay dòng đổi hướng cho được. Vậy đánh đổi làm gì? Chắc gì như vậy đã là hay?

Cái quý giá nhất mà tuổi thơ đem lại cho tôi có lẽ là thói quen đọc sách. Rồi tình yêu quý sách được dần dần bồi đắp. Thời ấy, sách đúng là thứ của hiếm. In thì lèm nhèm, toàn một thứ giấy đen nhẻm, thế mà ai cũng trọng. Người ta có thói quen kỉ niệm nhau bằng sách. Tặng phẩm nhiều khi cũng bằng sách. Nhất là tác phẩm văn chương. Còn nhớ cuối năm học lớp 10, tôi được xếp hạng A, Ty Giáo dục khen tặng kèm theo một tập thơ của Tố Hữu. Thế là truyền cho nhau đọc đến nhàu nát. Tôi có thói quen thuộc thơ từ ấy. Tuổi trẻ ngày nay rất ít người còn giữ được thói quen này. Có quá nhiều thú vui tân tiến, hiện đại mà! Nhịp sống gấp, cường độ sống mạnh, và tuổi thơ cứ trôi vùn vụt trên đường cao tốc. Rất ít thời giờ để nhìn lại, để suy ngẫm, rồi bước tiếp… Văn chương là phương cách tốt nhất khiến thời gian ngưng lại, giúp con người chiêm nghiệm để có thêm sức mạnh mà bước tiếp. Có lẽ đây là một thiệt thòi của lớp trẻ chăng? Hay là khiếm khuyết? Chỉ có điều tôi không thể hiểu nổi một người yêu cuộc đời lại không yêu văn chương, và một người yêu văn chương lại không hề thuộc một câu thơ, đọc kĩ một cuốn truyện nào. Thời tôi, những câu thơ và những đọan văn hay thường  được chép vào những cuốn sổ tay văn học, bên cạnh những câu châm ngôn, phương ngôn nổi tiếng. Lúc cần thì đưa ra đọc. Rồi nghĩ… Rồi ước mơ… Thường là được đọc đi đọc lại nhiều lần. Mỗi lần đọc là một dịp nghĩ tiếp… Và ước mơ tiếp… Văn chương cứ ngấm dần vào tâm hồn mình. Nhiều bài thơ tôi thuộc lòng, nhiều đọan văn hay trở nên quen thuộc với tôi ngay từ ngày đó. Tất nhiên có sự hỗ trợ của Chương trình Tiếng thơ và Đọc truyện đêm khuya của Đài Tiếng nói Việt Nam. Vào những đêm thanh vắng, cùng với âm thanh thánh thót của giọt đàn bầu, bao vần thơ, bao áng văn sâu thẳm lắng lại trong tâm trí của thế hệ chúng tôi. Giọng ngâm của chị Linh Nhâm, giọng đọc của chị Tuyết Mai, tôi thích. Nhưng tôi thích hơn cả là những bài thơ được đọc trên nền nhạc. Nhiều đoạn thơ hào sảng một thời như trong bài Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi! của Nam Hà qua làn sóng của Đài đã nhập vào tâm hồn tôi một cách tự nhiên:

             Đất nước

            Của những người con gái con trai

            Đẹp như hoa hồng, cứng hơn sắt thép

            Xa nhau không hề rơi nước mắt

Nước mắt hẹn để ngày gặp mặt.

Có một kỉ niệm nghề nghiệp liên quan tới bài thơ này. Vào khoảng năm 1997, tập truyện Bạn đường của Nam Hà được Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành. Nhà phê bình Hồng Diệu ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội có nhờ tôi viết bài giới thiệu. Tôi trực tiếp gặp anh Nam Hà hỏi chuyện để gợi hứng, và được anh tặng tập truyện ngắn viết vào thời chiến tranh ấy. Thật ra, phần nhiều bạn đọc ít biết tới anh với tư cách là một người viết văn xuôi, mà nhớ nhiều hơn tới bài thơ trên của anh. Do vậy, tôi ý tứ mở đầu và kết thúc bài phê bình bằng những câu trích từ bài thơ nổi tiếng trên. Lúc biên tập, chắc không hiểu ý tôi, anh Hồng Diệu cắt mất đoạn thơ sau. Tôi không mấy hài lòng. Người biên tập đã vô tình. Cũng là chuyện thường thấy nên tôi im lặng cho qua.

Không chỉ thuộc thơ, tôi còn  thuộc văn, thường là những câu văn súc tích, giàu ý tưởng. Mà cũng giàu âm điệu. Có thế mới dễ thuộc và thuộc được. Thói quen ấy ảnh hưởng tới văn phê bình sau này của tôi. Phê bình là thuộc nghị luận, nhưng rất khác văn nghiên cứu. Nó nghiêng về nghệ thuật mà. Trong đó phải đặc biệt chú trọng tới sự uyển chuyển, linh hoạt, biến hoá của giọng điệu. Làm sao đọc lên nghe phải xuôi tai. Không đến mức là lượt như văn biền ngẫu, nhưng cũng không được trúc trắc khó nghe. Đó là lý do mà tôi và nhiều bạn cùng lứa với tôi thời ấy rất mê tuỳ bút Đường chúng ta đi của nhà văn Nguyễn Trung Thành. Tác phẩm mới được chọn giảng ở phổ thông theo xu hướng nhất quán Tất cả cho tiền tuyếnTất cả vì miền Nam ruột thịt. Qua áng văn chương này, tôi thấy sức mạnh cổ vũ của ngòi bút thật là kỳ lạ. Thời đại cuốn văn chương theo, và về phần mình, văn chương lại thúc thời đại đi về phía trước. Gần như chỉ có một chân trời duy nhất là đánh giặc và giữ nước. Nó ăn sâu vào máu thịt, tim óc của mỗi người. Ít ai nghĩ khác và làm khác. Giờ nhiều chuyện kể lại, không ít bạn trẻ cho là bịa đặt. Như chuyện chích máu mình tự nguyện viết đơn xin vào bộ đội. Mà mặc áo lính có nghĩa là ra mặt trận, giáp mặt với quân thù. Bom đạn với nhiều người chỉ là trò thử thách vớ vẩn, chả thấm tháp gì. Văn chương phản ánh chân thực tinh thần của thời đại thật tự nhiên, như không thể khác. Không một chút tô hồng theo cái gọi là chủ nghĩa hiện thực phải đạo đâu! Tôi thuộc làu làu đoạn văn Máu thắm đượm rãnh cày nơi ta gieo hạt giống… như từng thuộc đoạn trữ tình ngoại đề Đời người chỉ sống có một lần… trong Thép đã tôi thế đấy.

Thuộc và bắt chước. Theo cách nghĩ, theo cả cách nói, cách viết nữa. Như là thứ khuôn vàng thước ngọc. Để ngắm nghía và để noi theo. Cuối năm lớp 10, lúc giã từ bạn bè, tôi từng học Nguyễn Trung Thành để viết lưu bút. Kiểu như Ta sẽ xa mái trường thân yêu này, nơi có…, nơi có… Đại khái là vậy. Thật là buồn cười! Cũng thật là trẻ thơ! Lớn lên một chút, khi quyết định đi theo nghiệp văn, tôi hay trở lại, hồi tưởng và lý giải, cái buổi ban đầu khó quên được ấy. Nhìn con đường văn chương của một người – tôi rút ra, dứt khoát cần nhận ra chặng bắt chước các nhà văn bậc thầy. Dấu ấn của người khác là rõ và không thể tránh. Muốn khẳng định mình cần có thời gian. Không thể đốt cháy giai đoạn. Có chăng chỉ thuộc về những thiên tài. Sự xuất hiện của thiên tài thừơng đường đột có lẽ là vì thế. Rồi nữa, văn chương không bao giờ có thể thoát khỏi sự chi phối của thời đại. Đúng hơn là tinh thần của thời đại. Thường là rất tự nhiên, nằm ngoài ý thức của người cầm bút. Tựa như không khí sông nước đối với đứa trẻ vậy. Lớn lên việc bơi lội với chúng chẳng có gì là khó.

 Tôi chỉ lấy làm lạ là phương châm Học xưa vì nay, và cả phương châm Học ngoài vì trong thống soái nơi học đường một thời, cho đến giờ vẫn không hề thay đổi, thậm chí còn bám dai dẳng trong đầu óc của không ít người, chả biết tới bao giờ mới tẩy rửa nổi. Học xưa trước hết là vì xưa đã chứ. Sau rồi mới vì nay. Có lẽ vì thế mà chúng ta vô tình xem thường di sản văn chương của cha ông chăng? Trong khi sản phẩm tinh thần của thời trước luôn sống trong lòng của thời nay, làm nên mọi thành bại của thời nay. Không có cha ông liệu có con cháu? Cũng vậy, cái nguyên tắc Học ngoài vì trong. Thực dụng quá, do thiển cận quá. Bước vào thời giao lưu mở cửa, càng thấy cái lỗi thời, cái ấu trĩ của cách nghĩ ấy. Muốn bắt tay làm ăn với người ta không thể không hiểu người ta. Đối tác mà. Phải hiểu cả hiện tại lẫn quá khứ. Nhất là quá khứ. Văn chương là tinh hoa của một dân tộc, luôn được xem là phương tiện tốt nhất để hiểu một dân tộc. Hiểu để sống tốt với nhau, trước hết là vậy. Sau mới nghĩ đến chuyện làm ăn.

Tuy nhiên, vào thời trẻ, văn chương còn giúp tôi sớm nghĩ đúng được bao điều hệ trọng khác. Nhiều hơn cả là những bài học phản diện. Chả là, sau khi tốt nghiệp phổ thông năm 1968, tôi chọn nghề dạy học để hiến thân. Cũng là bó buộc thôi. Đúng vào năm ấy, chúng tôi không phải thi vào đại học mà theo sự phân công của Ban Tuyển sinh. Tôi nằm trong danh sách sinh viên khoá mới của Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc. Trường mới mở còn thiếu sinh viên. Tôi lại nằm trong vùng chiêu sinh của Trường. Chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm. Tôi tìm cách tự giải thoát. Trên chiếc xe fafôrit, tôi lang thang, hết lên Lục Ngạn tìm đến Trường Đại học Giao thông, lại về Dâu, Sủi tìm đến Trường Đại học Mỏ – Địa chất. Tất cả đều đóng cửa, khước từ tôi, vì đã đủ chỉ tiêu phân bổ. Chán nản, tôi quay trở về Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc. Đã đầu tháng 11, mọi chuyện đều đi vào ổn định. Tôi muốn xin học Khoa Toán. Các khoa tự nhiên đều đã đủ người. Chỉ còn Khoa Văn. Tôi buộc phải chấp nhận số phận. Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc bước vào năm đào tạo thứ 3. Trước chúng tôi một khóa, Khóa 2, dạo ấy có một nhóm bút theo xu hướng phê phán mang tên cuốn tiểu thuyết của Êmin Dôla: Giecminan (Tháng gieo mầm). Tôi không thật hiểu kỹ về các hoạt động của họ. Chỉ nghe phong thanh là đâu như họ làm thơ viết văn để chế nhạo những hiện tượng tiêu cực của xã hội. Hầu như cả khoa tập trung phê phán nhóm bút này. Chẳng bao lâu họ bị cấm hoạt động với tội danh là bôi đen chế độ. Có người đi tù, vài người bị đuổi học, còn phần đông thì bị lưu ban. Vụ việc khá nghiêm trọng. Nghe đâu người ta nhắc tới nó như là nhóm Nhân văn giai phẩm mới vậy! Thì ra, văn chương đâu phải là trò chơi. Có thể tù tội đấy. Vì vậy cần phải hết sức thận trọng khi dụng bút.

Môn văn ở Đại học tôi học vào loại cũng được. Chủ yếu là do có chí. Thôi thì đã không theo đuổi được nghề toán như mong muốn thì gắng sức mà luyện văn vậy. Chúng đều là những môn học cơ bản cả, rất cần cho con người và cuộc đời. Thiên hướng chưa rõ thì phải lấy sức  ra mà bù đắp. Chẳng hiểu sao tôi rất tin vào nghị lực của con người. Không có việc gì khó / Chỉ sợ lòng không bền… Phảng phất một chút duy ý chí. Có điều, nếu biết vận dụng thì lại biến thành sức mạnh lớn lao, nhiều khi bản thân cũng không ngờ tới. Tôi nghĩ, trừ những bậc tài năng hiếm hoi ra, còn năng lực ở người đời không hơn thua nhau là mấy đâu. Ăn nhau là ở cái chí. Biết dồn sức, dồn tâm, dồn thời giờ cho một cái gì thì ắt sẽ làm nên. Cố nhiên, môi trường là rất cần thiết. Biết bao người trời ban cho năng lực chả đến nỗi nào, nhưng do hoàn cảnh không thuận, cái khả năng ấy cứ vơi cạn dần. Học trước tôi hai khóa, có anh Đặng Tương Như, từng là học sinh giỏi văn miền Bắc. Khi đó, tôi nhìn anh bằng cặp mắt thán phục. Cứ như anh đã thành đạt, thành danh rồi ấy. Tiếc là sau khi ra trường, anh về dạy văn đâu như ở Lào Cai, tên tuổi cứ mờ nhạt dần. Ngẫm kỹ, vẫn là bởi cái chí đào sông lấp bể chưa được nuôi dưỡng đến nơi đến chốn. Ở vùng biên ải ấy chả đã từng sáng lên bao tên tuổi như  Ma Văn Kháng là gì!

Người có chí lại hay gặp những trở ngại. Để thách thức. Trời bắt thế. Hồi ấy chúng tôi học cực lắm. Ăn thì canh sắn với bánh mì. Không, đúng hơn là cục mì. Bột mì được các chị cấp dưỡng nhào nước rồi đem vào luộc. Nghe đâu làm kiểu này mỳ không  chín nổi. Mùa nóng thì đỡ. Mùa lạnh, hết tiết 5, bánh khô cứng, rắn đanh, ném chó cũng chết. Ở thì nơi nhà tre, vách nứa, lợp lá cọ. Dùng đèn dầu mazút, khói nhiều hơn ánh sáng. Vào mùa đông, trời rét, sáng ra hỉ mũi thấy những cục đen đen như mực tàu… Thế mà chả ai giục ai, học thâu đêm, đọc suốt sáng. Dừơng như tuổi trẻ tiềm ẩn một sức mạnh lạ kỳ lắm. Chẳng biết mệt mỏi, đau ốm là gì. Sách thì hiếm. Giáo trình thì in rônêô trên những mảnh giấy đen một mặt bóng dùng để gói hàng. Chúng tôi ngốn khá nhiều, ngốn mê mải những thứ ấy, đến không còn gì để đọc mới thôi.

Ấn tượng nhất là những dịp giao lưu với các nhà văn. Nào Huy Cận, Nguyên Hồng… khi sơ tán ở Đại Từ. Nào Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi… khi trở về Thành phố Thái Nguyên. Những ngày đẹp đẽ với những kỉ niệm đẹp đẽ. Thật khó quên. Lạ quá, hiện giờ điều kiện có mà sao các buổi giao lưu giữa người viết và người học ít ỏi, thưa vắng là vậy! Do đâu? Tại người viết hay tại người học? Hay tại người tổ chức đào tạo? Dẫu vì lý do gì cũng cần  phải được xem xét lại. Với tôi, mỗi lần gặp gỡ các nhà văn, nghe họ trò chuyện về nghề là những lần khắc sâu vào trí nhớ, hỗ trợ cho việc cảm hiểu văn chương rất nhiều. Chẳng hạn, cái lần tiềp xúc với nhà văn Nguyên Hồng đâu như vào đầu năm 1969. Ông như một lão nông thật sự, râu dài, quần ta màu nâu, ống cao ống thấp. Lúc chia tay, mọi người nói lời từ biệt, ông thì đứng tách riêng ra, ngắm cảnh chia ly, miệng đọc thơ, hai mắt cứ rưng rưng. Nhà văn dễ mau nước mắt thật. Nguyễn Đình Thi lại giúp tôi hiểu một phẩm chất quan trọng khác ở nhà văn. Khi ấy trường tôi đã chuyển về thành phố Thái Nguyên. Đúng dịp 20 – 11 thì nhà văn Nguyễn Đình Thi lên thăm Khoa. Ông nói về nghề dạy học và ông tổ của nghề ở ta là Chu Văn An. Giọng ông trầm tĩnh, lời ông trau chuốt, nhất là những điều ông nói thật mới lạ và thú vị. Vốn văn hóa của ông dồi dào quá. Cứ như ông có thể nói suốt ngày này qua ngày khác. Chả thấy đuối về tri thức. Có chăng chỉ mệt. Bù lại, sự phấn khích của chúng tôi do từng lời của ông đem lại có lẽ làm ông không thấy mệt. Vậy nên ông có thể nói không dứt. Không bao giờ dứt trong kí ức của người nghe. Tôi phục Nguyễn Đình Thi, và xem ông như là thần tượng của mình về học vấn uyên bác. Nhà văn là người thầy – người ta bảo thế. Nhưng có phải nhà văn nào cũng xứng đáng với danh hiệu ấy đâu! Nên phải học, học suốt đời.

Những đợt đi thực tập sư phạm, thực tế văn học là những ngày đầy ắp kỉ niệm nghề nghiệp trong tôi. Vào năm 1970, chúng tôi lên Cao Bằng. Thị xã miền núi này đúng là vừa cao lại vừa bằng. Sông Bằng giang lấp loáng rồi sẽ đi dọc suốt tuổi trẻ tôi. Nhớ nhất là cái thị trấn Nà Giàng nhỏ bé mà ấm nghĩa ấm tình. Đoàn thực tập chúng tôi làm việc ở Trường cấp 3 chừng một tháng rưỡi. Anh Vũ Đình Minh, sau là nhà thơ khá nổi tiếng, khi ấy đang dạy văn ở đây. Anh sống chân tình và bay bổng. Từ lòng yêu quý người, tôi tìm đến thơ anh. Nhiều bài thơ hay của anh nhập nhanh vào hồn tôi đến tận giờ. Kỳ lạ hơn cả là anh đã góp phần làm nảy ra ý thích làm thơ trong tôi. Không, tôi không bao giờ nghĩ mình sẽ trở thành nhà thơ đâu. Tôi chỉ muốn ghi lại những cảm nghĩ thoảng qua trong tâm trí. Và trên hết, tôi muốn biết các nhà thơ sáng tác ra sao? Thế nào là sự thăng hoa? là cảm hứng nghệ thuật? là tia chớp sáng tạo?… Muốn thấm, tốt nhất là tự mình trải nghiệm. Tôi đã làm thơ, và sau này còn viết ký, viết kịch, dịch thuật chủ yếu là vì mục đích ấy. Bài thơ đầu tiên tôi viết nảy sinh trong hoàn cảnh khá đặc biệt. Lớp tôi chủ nhiệm có một nữ học sinh rơi vào tình cảnh thật éo le. Cứ đến thứ năm, chợ phiên Nà Giàng, là em lại nghỉ học. Thấy lạ, tôi đi sâu tìm hiểu. Thì ra nhà em có nghề làm răng giả. Trai gái dân tộc coi việc thay một vài chiếc răng vàng như là một thứ mốt để làm đẹp. Nhà em chỉ có hai mẹ con. Anh trai lớn đi B. Cả nhà đều trông cậy vào cô con gái. Bỏ buổi chợ, một tuần chỉ có một phiên, là không thể. Càng hiểu, tôi càng thấy cảm thông. Trên đời, mỗi người đều gánh một số phận riêng. Đứng ngoài, ta dễ dửng dưng. Hãy tự xem mình là người trong cuộc, sự thể sẽ khác. Nhất là cái nhìn sẽ khác, nhân tình hơn nhiều. Bài thơ tôi làm trên cái nền cảm xúc chung ấy. Để bài thơ mang sức bao quát, tôi mở rộng trường suy nghĩ và cảm xúc rồi  đặt tên là Nẻo rừng năm tháng. Toàn văn bài thơ thế này:

            Anh đến nơi em

Có những nẻo rừng thân quen

Mà vô danh

Như mọi nẻo rừng Tổ quốc.

 

Kỷ niệm dắt anh đi

Đường ngoằn nghèo nỗi nhớ

Vẫn những lá cây đang thở

Hoa Kim Anh e ấp

Như nhắc hoài tháng năm.

 

Lớp học em

Ẩn giữa màu xanh

Đơn sơ những tấm lòng chân chất.

Kẻ thù

Có cái nhìn điện tử

Xuyên suốt không gian

Mà bị ngăn

Bởi màu xanh quê ta

Có hồn em trong đó.

 

Nơi hoà với tiếng chim

Là tiếng em ca hát

Nơi chim quên hội họp hàng năm

Vẫn ấm êm tình người bát ngát

Nơi từ trang sách

Tới nẻo rừng

Các em đến những vì sao xa…

 

Gió vẫn thầm thì tâm sự cùng ngàn cây

Đất ẩm mùi thương nhớ

Sương giăng phủ lòng anh…

 

…Trên đường đời

Nẻo rừng thành con người

Ta thầm nhắc.

Xin được nhắc lại, dẫu có làm thơ viết văn, tôi chưa bao giờ ảo tưởng về mình. Tôi sinh ra là để làm việc khác, rất gần với thơ văn, nhưng không hẳn là thơ văn. Tôi là một nhà phê bình văn chương. Rồi khi chuyên tâm dạy văn ở đại học, tôi còn được gắn thêm một vài chức phận khác nữa, làm lý luận và nghiên cứu văn chương. Người khác thì không rõ, riêng tôi thì tôi tin vào số phận của mỗi người. Nói như Trần Đăng Khoa, hình như không phải tôi tìm đến văn chương mà chính văn chương đi tìm tôi. Chỉ có điều, nên giải thích số phận thế nào cho thật thuyết phục. Đừng có rơi vào huyền bí. Vậy phải chăng được tính cách nào thì  số phận nấy hay không?

                                     Đà Lạt, Xuân 2003

 

……………………………………………………………………………………………………

           *Bài này viết theo yêu cầu của Nhà xuất bản Thanh Hoá