Viết văn thời nay

Theo dự kiến, sau chừng mươi mười lăm năm nữa, nếu gắng hết sức mình, nước ta căn bản sẽ trở thành một nước công nghiệp - hiện đại, còn hiện nay, như nhiều người vẫn nói, đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm hướng tới mục tiêu đầy cao vọng ấy. Nói như vậy cũng có nghĩa, ngay từ giờ, không ít yếu tố công nghiệp - hiện đại (tôi ưa liên kết hai yếu tố trong cùng một khái niệm với cách hiểu: nền công nghiệp ở trình độ hiện đại cao và tính hiện đại gắn với sự thịnh phát chưa từng có của công nghiệp), đã dần dần hiển hiện trong đời sống hàng ngày, tạo ra nhiều thời cơ và thách thức đối với nghề cầm bút chúng ta. Vâng, như mọi nghề nghiệp khác, thời cơ và thách thức luôn song hành. Không rõ các bạn đồng nghiệp khác nghĩ thế nào, tôi thì hay nghĩ nhiều tới thử thách hơn là cơ hội, vì vậy, thường xuyên cảm thấy lo ngại, bất an.

Thách thức đáng kể nhất đối với người cầm bút có lẽ là xu hướng lên ngôi của mọi giá trị vật chất trong xã hội chúng ta. Nhiều năm trước, một vài trí thức tâm huyết với tương lai dân tộc đã lên tiếng khuyến cáo. Quá chú trọng tới vật chất thật sự là một nguy cơ, trước sau rồi cũng sa vào vết xe đổ của nhiều nước ở phương Tây. Bài học nhãn tiền: đạo đức suy thoái; tệ nạn xã hội làn tràn đến mức khó bề kiềm chế nổi. Không ít người khi ấy bảo: lo xa thế! Ta đang còn là một nước nghèo, vì nghèo nên hèn, vị thế so với đồng loại thấp kém chính vì nghèo - hèn. Vậy thì hãy tập trung đẩy nhanh, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đi đã. Khi kinh tế khấm khá, của cải dư giả, đời sống tinh thần sẽ dần được nâng cao. Cuộc đời khi nào cũng tự tìm đến sự cân bằng cần thiết. Rồi sẽ thấy! Thật là một mong ước đáng ngưỡng vọng, một dự báo đáng trông chờ. Dường như không thể bàn gì thêm được nữa cả. Nhưng đến giờ sự thể ra sao thì hầu như ai cũng đều đã thấy rõ. Nhiều người cảm thấy bất ngờ. Một số còn tỏ ra thất vọng, ngao ngán.

Chỉ xin dẫn ra một minh chứng trong nhà trường: mối quan hệ thầy – trò. Ngàn đời nay, đó là một trong những mối quan hệ xã hội được mọi người nhất trí tôn vinh. Thầy hết lòng với trò trong phận sự cao cả, không mấy khi đắn đo hơn thiệt. Trò thì nhất mực kính trọng thầy, luôn lấy hình ảnh người thầy làm chuẩn mực cho mọi suy nghĩ và hành vi ngoài đời sống. Nay thì sao? Chẳng cần quan sát đâu xa, chỉ quanh ta thôi, mọi chuyện tưởng đã khác xưa nhiều lắm. Hình như, ngay trong nhà trường, đồng tiền cũng có thể làm được tất cả. Nó khuynh đảo quan hệ thầy - trò, biến giả thành thật, biến đen thành trắng. Đạo lý tốt đẹp được bao thế hệ người Việt dầy công vun đắp có nguy cơ bị lung lay tận gốc rễ. Lại ở nơi vốn linh thiêng nhất, bền chặt nhất. Cứ nghĩ, khi giá trị tinh thần bị xem nhẹ ở chính mảnh đất chủ yếu đào luyện nên nó thì mọi người, không loại trừ một ai, cứ thấy lòng mình không lấy một phút nào yên cũng là phải lẽ. Hầu như mọi tầng lớp đều đã lên tiếng. Khi trực tiếp. Khi gián tiếp. Xin chớ nghĩ là họ đặt điều, nhiễu sự hay quá lo xa.

 Liên quan mật thiết tới đạo đức học đường là chuyện học văn trong nhà trường. Bảo học trò thời nay coi thường môn văn thì không phải. Chúng vẫn học, chăm chỉ, cần mẫn nữa kia, nhưng là học như cần phải học, thế thôi. Học để mà thi. Cho lần lữa hết năm học, cấp học này đến năm học, cấp học khác. Môn văn là một trong những môn học luôn được xác định là cơ bản mà. Có điều, dạy và học xong là hết. Hết phận sự. Hết trách nhiệm. Chẳng mấy hứng thú, đam mê. Chẳng còn nhiều sự tìm tòi, khám phá, sáng tạo. Cũng không còn mấy yêu cầu“dạy và học văn là dạy và học làm người”, “tính toàn diện của việc dạy và học văn” như cần phải thế. Thì cứ đọc những bài văn đạt điểm cao nhất trong các kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông hay tuyển sinh đại học thì đủ rõ. Rất trơn chu, bóng bẩy. Rất lề lối, khuôn phép. Tất cả đều từ một nguồn: nào sách giáo khoa, nào sách hướng dẫn. Nhất là các bài văn mẫu đủ loại, đủ kiểu với nội dung tri thức từa tựa như nhau. Chúng như những bản sao chép nhợt nhạt và buồn tẻ. Người học chỉ cần thuộc như vẹt là đủ. Càng nhiều càng tốt. Mà chương trình nào có nhiều nhặn gì. Trọng tâm trọng điểm lại càng ít. Quay đi quay lại cũng chỉ chừng ấy tác giả, tác phẩm. Nhiều nhất vẫn là văn chương cách mạng và văn chương hiện đại. Đề thi và kiểu cách đánh giá môn văn thì quanh đi quẩn lại vẫn như…chục năm về trước.

Tôi không nghĩ là những chuyện diễn ra ngoài xã hội, nhất là chuyện dạy và học văn trong nhà trường lại không dính dáng gì tới nghề viết chúng ta. Đó là môi trường ta sống hàng ngày, quyết định tới tâm thế, tâm trí của người sáng tạo. Thời trước, trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, thiếu thốn đủ thứ, nhưng văn chương chưa bao giờ bị xem nhẹ cả. Nó thật sự nâng đỡ tinh thần của mỗi người. Trên từng chặng đường. Trong mỗi bước đi. Rất hữu hiệu. Và rất tự nhiên. Người ta truyền tay nhau đọc những tập truyện ngắn, những cuốn tiểu thuyết sờn rách, in bằng thứ giấy đen nhẻm. Người ta thức đến tận khuya để chờ thưởng thức chương trình tiếng thơ với những giọng ngâm truyền sâu tới tận đáy lòng. Người ta sống trong văn chương, cùng văn chương. Quen thuộc và cần thiết. Như ánh sáng. Như khí trời. Thời ấy mới ngày nào mà giờ đâu rồi? Đôi lúc tôi cứ thảng thốt tự hỏi. Như vừa qua nhanh một giấc mơ đẹp. Rồi tự cảm thấy bản thân trở thành một con người khác hẳn. Xa lạ, lạc lõng với chính mình. Cả với người khác nữa. Còn không những ý nghĩ cao xa luôn nâng đỡ ta trong những bước gieo neo, đôi khi chông chênh, chuếnh choáng của nghề nghiệp? Văn chương còn đủ lớn không để ta hiến thân không một chút do dự? Văn chương vẫn thiêng liêng hay không để ta sẵn lòng gạt bỏ đi những cái tầm thường, ty tiện ngoài đời sống?...Nhiều, nhiều nữa những băn khoăn, ưu tư tương tự. Có lúc, tôi không dám tìm đến một câu trả lời dứt khoát khi phải đối mặt với bao chuyện nhũng nhương của đời sống hôm nay. Nản. Thật sự nản. Dẫu chỉ là thảng hoặc, chỉ là thoảng qua. Nhưng sức ám ảnh của nó thì quả là ghê gớm! Không thể xem thường được. Thú thật, những khi ấy, tôi hay tìm đến những tâm sự nghề nghiệp thật lòng của nhà văn Trung Quốc Giả Bình Ao: “Xét đến cùng vẫn là câu nói cổ xưa: Bình sinh một tấm lòng, không vì người mà nóng lạnh/ Văn chương việc thiên cổ, tán cho vui”(Văn nghệ, Tết Giáp Thân – 2004). Thôi thì đành coi văn chương là một điểm tựa mặc dầu biết rõ là chẳng mấy vững vàng để vượt qua những tao đoạn khốn khó của một nghề nghiệp vốn trĩu nặng mọi nỗi buồn vui trong cõi người này vậy.

Ấy là do, đã mang cái nghiệp văn chương vào thân thì không một người cầm bút nào lại không ôm ấp những khát vọng, những dự định, kể cả những dự định, những khát vọng phải dùng tới vài cuộc đời mới mong thực hiện nổi. Mà phải là cuộc đời của những tài năng thiên phú. Còn như tôi và đa phần các bạn viết văn của tôi, chả ai dám nói là trời đã ưu ái hơn người khác về điểm này. Đành phải dốc tâm, dốc trí, dốc lực hàng ngày, thậm chí hàng giờ để bù đắp vậy. Bởi, chẳng ai muốn kết thúc sự nghiệp bằng những sản phẩm tầm tầm. Muốn thế, phải phấn đấu để tạo ra những trang văn có vị. Dẫu đậm dẫu nhạt thì cũng phải có vị - cái vị của riêng mình. Nhà văn Nguyễn Khải có lẽ đã nói hộ nhiều người qua tác phẩm Hậu duệ dòng họ Ngô Thì: “Làm người mà khó nhỉ? Sống tẻ nhạt, sống không màu sắc, lẫn lộn với đám đông thì yên phận. Sống đam mê, sống mạnh mẽ vượt khỏi cái thông thường thì sóng gió bất chợt, có thể bị nhấn chìm khi chưa kịp làm một việc nào cho đắc ý. Lựa chọn đi!”. Làm người bình thường còn vậy, huống hồ là làm một nhà văn. Lại vào thời nay, khi mà đời sống bên ngoài biến đổi quá nhanh. Cái hiện đại mới tới ngày nào, giờ thì cái hậu hiện đại cũng đã qua đi để thay bằng cái sau hậu hiện đại mất rồi. Mà đã nói tới văn chương - văn chương đích thực, văn chương để đời - là nói tới sự kết lắng. Thật khó nói tới cái kết tinh, lắng đọng trước sự biến động mạnh mẽ và dồn dập đến thế. Thời cuộc cuốn ta theo. Chưa bao giờ việc làm chủ ngòi bút – cái tối thiểu, cái trước tiên của nghề cầm bút, lại khó khăn và trắc trở làm vậy. Rất dễ buông theo những đòi hỏi khác nhau của đời sống mà chẳng phải đắn đo, cân nhắc gì nhiều. Và, khi mọi chuyện đã rồi, thì buồn thay, không còn để lại chút ưu tư, day dứt gì nhiều. Lại nhớ tới tâm sự của một nhân vật trong Người kể chuyện thuê cũng của Nguyễn Khải. Anh ta từng ôm ấp những cuốn sách lớn để đời theo quan niệm “nếu không viết được bộ sách đó thì đời mình chẳng còn nghĩa lý gì”. Nhưng rồi bao cái nhỏ nhặt hàng ngày của đời sống cứ cuốn anh theo, đến như không cưỡng lại nổi. Khi có người bất ngờ hỏi về cái giấc mộng vàng văn chương khi xưa thì “anh ngồi lặng lẽ rất lâu, rồi trả lời thật buồn: vẫn chưa bắt đầu”. Chua chát hơn cả có lẽ là lời biện minh yếu ớt sau đó: “Viết sơ sài thì thà đừng viết. Viết cẩn thận phải mất khoảng mười năm”. Mà một đời người thì phỏng có mấy cái mươi năm như thế hỡi trời! Nghe cứ như lời tự thú của một kẻ bất lực.

Vâng, có lắm nguyên cớ khiến ta khước từ sự viết lách này lắm. Xem ra, nguyên cớ nào nghe cũng đều xuôi tai cả. Nhưng thuyết phục người đời thì có thể chứ sao thuyết phục nổi chính mình. Bằng cách nào để tìm tới sự bình tâm, thanh thản trong tâm hồn đây? Bởi một lẽ giản dị: ai có thể trốn chạy khỏi  chính mình cho nổi!

Cảm ơn các bạn văn và bạn viết của tôi. Xin được cảm ơn tất cả.

                                                              Đà Lạt, 31/12/2008