Ý nguyện của nhà phê bình trong tôi

            Về chức phận xã hội, trong tôi có hai con người: con người khoa học văn chương  và con người phê bình văn chương. Tôi nguyện thủy chung với cả hai con người đó trong suốt chặng đường còn lại của đời mình. Có đồng nghiệp chân tình bảo tôi : “Đời người ngắn ngủi lắm ! Nên biết lượng sức mình”. Một đồng nghiệp khác lại thẳng thừng khuyên : “Muốn yên thân thì chớ có đi vào phê bình. Cái nghề ấy bạc bẽo lắm đấy !”. Để cuộc đời có ý nghĩa, ai chả muốn thành đạt, để cuộc đời hạnh phúc, ai chả muốn yên ổn. Nhưng tôi sinh ra đời vốn là người giàu lòng tự tin. Và trời ạ, cùng với năm tháng, lòng tự  tin trong tôi hình như không có dấu hiệu thuyên giảm, nên ở tôi hầu như không còn nỗi phân vân của sự chọn lựa nữa rồi. Dẫu sao, tôi cũng coi những lời khuyên chí tình kia như sự nhắc nhủ cho riêng mình...

            Cũng may con người khoa học và con người phê bình trong tôi chưa đến nỗi xung khắc, hơn thế nhiều lúc chúng còn sống với nhau khá thân thiện, ít ra là trong mong mỏi của riêng tôi. Nói thế, vì giữa thực tế và ước nguyện thường có khoảng cách và trong nhiều trường hợp khoảng cách ấy không thể nói là không lớn. Hiểu vậy nên khi Đoàn nhà văn dự Trại sáng tác văn học Nha Trang lên thăm Đà Lạt, tôi đã quyết bứt công việc bề bộn ở một trường đại học trong mùa tuyển sinh để xin nhập trại dầu chỉ được vài ngày cuối. Tôi ý thức rất rõ, với tư cách là cây bút phê bình, bản thân mình còn thiếu cái gì...

            Nhìn vào đội ngũ phê bình ở ta, tiếc mà cũng buồn thay, chưa có mấy nhà phê bình được coi là chuyên nghiệp. Ta cứ băn khoăn trong một nỗi thắc thỏm trông chờ : Đến bao giờ mới xuất hiện một Hoài Thanh mới trong phê bình ? Nhất nghệ tinh nhất thân vinh. Nếu chưa có nhiều nhà phê bình văn chương chuyên nghiệp, tôi e mong muốn chính đáng kia còn lâu mới được toại nguyện. Yêu cầu đầu tiên của tính chuyên nghiệp là phải chuyên tâm. Không dám đánh đổi thời gian, không tính chuyện tiêu gì cho ra tấm ra món thì làm sao tạo ra được những sản phẩm thực sự có giá trị cho đời. Một ai đó quá xem trọng yếu tố thiên bẩm trong người nghệ sĩ rồi sẽ chê cười tôi. Riêng tôi thì tôi nghĩ vậy. Có lẽ, cái trời cho ở tôi không nhiều. Vậy thì hãy gắng gỏi ! Có thể gắng sức mà không đến đích. Nhưng, với tôi, muốn đến đích phải đổ mồ hôi sôi nước mắt.

            Ngoài những nhà phê bình chuyên nghiệp rất ít ỏi kia ra, tôi thường phân các cây bút phê bình khác ra làm hai loại, tạm gọi là : gần nhà văn  xa nhà văn. Loại đầu gồm các nhà phê bình kiêm biên tập viên các báo, tạp chí và nhà xuất bản chuyên ngành. Các nhà phê bình công tác ở các Viện khoa học và giảng dạy ở các Trường đại học có thể xem thuộc  loại sau. Tôi tự xếp mình vào loại xa nhà văn. Mỗi loại nhà phê bình văn chương nói trên có cái mạnh và cái yếu của mình. Một lần tôi thẳng thắn nhận xét về một nhà phê bình danh tiếng nọ : “Anh gần  nhà văn quá, những trang phê bình của anh vừa thuyết phục, vừa thiếu thuyết phục vì lẽ đó !” Ý  tôi muốn nói những bài phê bình của anh ấy thấm đẫm đời sống văn chương, đấy là cái hay không thể chối cãi. Tuy do không đứng gián cách nhà văn khi cầm bút viết phê bình nên những lời bàn luận dễ bị cái yêu, ghét thường ngày chi phối, khó khách quan được lắm. Còn khiếm khuyết lớn nhất của kiểu nhà phê bình như tôi là gì ? Chính là ít đắm mình vào đời sống văn chương muôn màu muôn vẻ. Những ngày ngắn ngủi ở Trại viết, tôi cứ hay nghĩ về những bài học phản diện trong giới của mình. Không lạ khi biết phần đông các nhà văn tôi gặp không thật ưa đọc các nhà phê bình, trừ những bài viết về tác phẩm của chính họ. Thì đấy, chả cần phải sâu sát gì, cũng biết nhiều cây bút phê bình ở ta dụng bút như thế nào rồi. Người thì như nghệ sĩ xiếc tung hứng ngôn từ khiến người đọc đến hoa cả mắt. Người thì viết văn phê bình mà khô khốc như văn học đường... Chà kinh hãi quá ! Mà không ít bài phê bình đã viết của tôi cũng mắc phải những căn bệnh trầm kha ấy, có chết không !

            Thực ra, làm phê bình không thể không học đến nơi đến chốn. Học bằng nhiều cách, cố nhiên. Nghề phê bình cay nghiệt đến ghê người. Mỗi câu, thậm chí mỗi chữ, cần phải được bảo lãnh bằng bề dầy văn hóa. Bởi vậy, có thể nói, học bao nhiêu cũng không đủ, không bao giở đủ cả. Xem thường học vấn sao được. Nhưng trong thực tế, có người càng học càng sáng ra, lại có người càng học càng tối đi. Ấy là loại người càng đọc, càng học càng rời xa tinh hoa của tri thức. Vậy là tự  nhiên sinh ra thói khoe chữ, tư biện. Các nhà văn kinh hãi là phải. Không, tôi không muốn làm nhà phê bình khiến nhà văn kinh hãi. Tôi mong muốn trở thành người bạn thật sự của các nhà văn.

            Tôi có may mắn tham dự và chứng kiến nhiều trại viết do Hội Nhà văn tổ chức. Quả ít có trại nào lại vui, nghĩa là thân tình, ấm cúng trong tình đồng nghiệp như trại lần này. Có lần tôi giãi bầy điều đó với nhà văn Xuân Thiều và được Vị trưởng lão đầy tâm huyết với nghề nghiệp ấy tán đồng. Với tôi, và có lẽ với nhiều người khác cũng vậy, Xuân Thiều vừa là nhà văn chuyên nghiệp lại vừa là nhà tổ chức sáng tác chuyên nghiệp :

                        Trời sinh ra bác Xuân Thiều

                        Nơi nào có trại thì điều bác đi !

            Chí tình chí nghĩa biết bao cái câu văn vần giàu chất hiện thực ấy ! Công lao của Xuân Thiều trong việc bồi dưỡng đội ngũ viết văn trẻ là hiển nhiên, không thể phủ nhận được. Nhiều nhà văn, trong đó có tôi, đã trưởng thành trong tấm lòng bao dung và sự dìu dắt có hiệu quả của ông. Vâng, trại viết của chúng tôi rất vui, và những lúc ấy tôi thường nói to ý nguyện của mình rằng tôi gắng phấn đấu để trở thành nhà phê bình để được nhà văn yêu. Nói vậy thôi, được nhà văn yêu đâu đã đủ. Nhà văn còn phải trọng, phải tin anh nữa. Nhưng, tôi nghĩ, trước hết cần được nhà văn yêu. Dễ đấy mà cũng khó đấy. Khó đến kinh người ! Mà có thể làm được không ? Làm được ! “Chìa khóa vàng là ở nơi tay con !” Vị tiên ông trong câu chuyện cổ tích nọ căn dặn ta vậy. Ai cũng biết, mỗi nhà văn là một thế giới riêng, phong phú lắm mà cũng phức tạp lắm. Nhất là cá tính ở họ, đôi khi ngang ngạnh đến ghê người. Mà đẽo gọt thì đâu còn là họ nữa. Gần người khác, đặc biệt các nhà phê bình, nhiều nhà văn cứ dựng lông nhím lên trông mà phát sợ. Gặp những tình huống ấy, tôi thường tự nhủ : Sự cảm thông trên cơ sở hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau là chìa khóa vàng ấy chăng ! Có người coi phê bình ăn theo sáng tác. Đã hẳn là không phải. Lại có người rơi vào thái cực khác : Coi nhà phê bình là ông thầy hiền minh của nhà sáng tác. Cũng chẳng thuyết phục gì hơn. Với tôi, nhà văn có chức phận của nhà văn, còn nhà phê bình cũng có chức phận của mình, một đằng là bản thân văn chương, một đằng là sự tự ý thức của văn chương. Chả ai thay thế ai được. Do đó phải nương tựa vào nhau, tôn trọng lẫn nhau. Mà trước hết là cần tạo lập được sự cảm thông chân tình và sâu sắc. Đó thật sự là một cuộc hôn phối. Muốn chung sống bền lâu với nhau, mỗi người phải tự gọt mình một chút. “Chữ tài nên trọng, chữ tình nên thương”. Rồi công sức và tấm lòng bỏ ra sẽ được đền bù... Tôi tin như vậy !

            Nhiều kỷ niệm đẹp đã nảy sinh giữa tôi với các nhà thơ, nhà văn ở Trại viết. Một lần, tôi được vinh hạnh uống bia của Lâm Thị Mỹ Dạ cơ đấy. Chả là lúc quá vui tôi lỡ miệng tuyên bố mình          thuộc khá nhiều thơ của nhà thơ nữ khả ái này. “Hãy đọc thuộc cả bài Khoảng trời và hố bom, Dạ sẽ chiêu đãi bia !” - “Được thôi !” Tôi cũng hăng hái không kém. Có thời tôi thuộc làu bài thơ được giải này, lại không ít lần trên bục giảng  vào thời gian gần đây tôi thường đọc và phân tích trước sinh viên. Vậy thì tôi nào có ngán ! Nhưng oái oăm thay, khi cần nhớ, nhớ đầy đủ từ câu đầu đến câu cuối kia, thì tôi lại ngúc ngắc. Cũng may, những câu thần nhất vẫn không quên. Thể tất cho tôi, đúng hơn là vì tấm lòng của tôi, Lâm Thị Mỹ Dạ vẫn cho tôi uống bia ! Bia nào có thiếu mà tôi cũng chả thiếu lúc uống bia. Thế mà cốc bia từ  tay nhà thơ nữ  nổi danh kia lại ngon đến vậy, lại gây ấn tượng đến vậy.

            Và với Đoàn Thị Lam Luyến nữa. Chị vốn là bạn học của nhà tôi từ thuở thiếu thời ở vùng Tây Bắc xa xôi. Gặp nhau, tôi bảo tôi biết Lam Luyến qua nhà tôi và còn qua... một nhà văn nữ khác chưa thật ưa chị. Lam Luyến có vẻ ngạc nhiên lắm ! “Ai chứ bà ấy thì nghĩ tốt về mình sao được !”. Tôi thành thực nói : “Mình ít khi đánh giá người khác qua nhận xét của người thứ ba”. Tôi biết Lam Luyến tin vào những gì tôi nói như  tin vào những đánh giá của tôi về bài Biển trong ta của chị :

                        Bao nhiêu nước biển mặn rồi

                        Lẽ nào nước mắt trong đời mặn hơn

                        Lòng người cái biển tí hon

                        Mà nghìn năm nữa vẫn còn sâu xa

            Với nhà phê bình trong tôi, đó là những vốn liếng tinh thần thật sự qúy giá. Tôi sẽ không bao giờ quên được  những gương mặt nhà văn thân quen tham dự Trại viết Nha Trang lần này. Tự đáy lòng mình, tôi rất biết ơn các anh các chị. Trước khi chia tay, tôi đã tặng mỗi nhà văn một lời nhận xét chứa trong một từ. Tôi không có tham vọng nói trúng hoàn toàn con người và thơ văn của các anh các chị. Chỉ mong các nhà văn nhận ở nơi tôi tấm lòng của một đồng nghiệp được bày tỏ theo cách riêng của một nhà phê bình ...

            Vào thời gian ngắn ngủi ở Trại sáng tác văn học Nha Trang không ngày nào tôi không tắm biển hai lần. Biển ở liền kề đây thôi, xanh trong ngời ngợi. Với tôi, biển là đời sống sôi động của đất nước và thời đại. Biển với tôi còn là đời sống văn chương vô bờ, đầy biến ảo. Cần phải ngụp lặn suốt đời trong biển cả.

                        Biển ngoài kia đã lặng rồi

            Trong ta biển vẫn chưa nguôi dạt dào

                                    (Thơ Đoàn Thị Lam Luyến)

            Mọi giác quan của tôi căng ra để đón nhận sự bao dung của biển. Để rồi trước Đại dương con người không thể sống một cuộc sống tầm thường...

                                                                                                                                    Nha Trang, 24-7-97