Tôi yêu thích cuốn sách này

                                                                                                        GS. NGND. Nguyễn Đình Chú

Bởi cuốn sách là sự thăng hoa, phục hưng một phần quốc hồn quốc túy cao diệu mà tiếc rằng thời gian, kể cả sự đểnh đoảng của cháu con đã làm phôi pha đi không ít. Chúng ta đều biết, trên đất nước ta, vào thời trung đại, không một ngành nghệ thuật nào có thành tựu lớn lao và hấp dẫn như văn chương. Những Hịch tướng sĩ văn của Trần Hưng Đạo, Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, cùng dịch phẩm Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm (?), Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, thơ Hồ Xuân Hương, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu v.v... từng kết tinh theo qui luật “quí hồ tinh bất quí hồ đa” trong nghệ thuật, hỏi thua kém gì những kiệt tác văn chương của nhân loại.

Vấn đề đặt ra là: Thành tựu sáng tác rực rỡ là thế, nhưng ý thức, quan niệm về văn chương thì sao? Dường như trên sách báo đó đây, đã có một kết luận tưởng như là chân lý (?) rằng: ở thời trung đại, nước ta chưa có chuyên ngành lý luận văn chương. Phải đến thời hiện đại, mãi khi có Văn học khái luận của Đặng Thai Mai ra đời, ngành lý luận văn chương Việt Nam mới được cấp giấy chứng sinh. Và ngày nay thì đã có hẳn một chuyên ngành lý luận văn chương, chưa nói giá trị thực chất đến đâu, chỉ biết khối lượng giấy mực thì rất lớn. Một kết luận, một định kiến như thế là vừa đúng vừa không đúng. Đúng là ở thời trung đại, nước ta chưa có chuyên ngành lý thuyết văn chương, chưa có những công trình lý luận văn chương mang tính hệ thống ở tầm cỡ Thi học của Aristốt (Hy Lạp), Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp (Trung Hoa). Nhưng từ đó mà nghĩ rằng nước ta chưa có gì về quan niệm văn chương thì thật là sai lầm. Thực tế, chúng ta đã có một kho báu về lý thuyết, về quan niệm văn chương vừa phong phú, vừa tinh diệu mà không chừng còn đáng giá hơn nhiều thứ lý thuyết văn chương... hiện đang ăn khách hôm nay. Nó tồn tại, đúng là chưa phải ở hình thức chuyên biệt, chuyên khảo mà bằng hình thức những tự, bạt, bình, lời ít ý nhiều và theo kiểu tư duy chủ yếu dựa vào trực cảm, chân cảm vốn thuộc kiểu tư duy của phương Đông là cầu tính (esprit globale, sphérique), chủ toàn, hỗn hợp, khác tư duy phương Tây là tuyến tính (esprit linéaire), giàu khả năng phân tích (analytique). Chính kiểu tư duy cầu tính, hỗn hợp, thiên về trực cảm đó lại rất gần gũi với chân lý, nghệ thuật, tư duy văn chương. Còn kiểu tư duy tuyến tính, giàu năng lực phân tích lại gần gũi với yêu cầu khoa học kỹ thuật. Ấy thế nhưng từ ngày có cuộc đụng độ, giao lưu Đông Tây, quả đã diễn ra bên cạnh sự nâng đỡ không phải là không lớn là một sự áp đảo của phương Tây đối với phương Đông (trong đó có Việt Nam) trên phương diện văn hóa tinh thần truyền thống khá là nặng nề mà tiếc rằng cho đến nay với ta, vẫn chưa có sự thức tỉnh đủ cần thiết trong khi chủ trương “hòa nhập mà không hòa tan”. Hiện tượng sùng bái phương Tây nói chung, trong quan niệm, trong lý thuyết văn chương nói riêng dẫn đến tình trạng đểnh đoảng, thờ ơ, thậm chí coi thường quan niệm văn chương của cha ông thuở trước, ít nhiều không phải là sự thật ư! Tất nhiên, ở đây còn có nguyên nhân về sự thay đổi văn tự, thay Hán Nôm bằng chữ quốc ngữ mà chúng ta hay nói đến cái được rất lớn nhưng lại chưa quen nghĩ đến cái mất cũng không nhỏ. Mất là ở chỗ tạo ra một gián cách lịch sử khá bất lợi. Thử hỏi, trong giới chuyên gia lý luận văn học ở nước ta hiện nay, được bao nhiêu người có trình độ Hán học để đọc các sách Hán Nôm chủ yếu đang ngủ yên trong các thư viện Hán Nôm mà trong đó có kho báu quan niệm văn chương. Đã thế, đó đây loáng thoáng lại còn có ý kiến sai lầm rằng: lý thuyết văn chương của các cụ ngày trước chỉ là một bản sao mờ nhạt những gì đã có quá phong phú của đất nước Trung Hoa xưa. Rõ là chỉ thấy sự tiếp nhận mà chưa thấy sự tiếp biến của tiền nhân.

Nói qua đôi điều như trên, cốt để thấy loại công trình như “Quan niệm văn chương cổ Việt Nam - từ một góc nhìn” của nhà nghiên cứu PGS. TS. Phạm Quang Trung là góp phần phục hưng văn hóa dân tộc một cách rất có ý nghĩa. Nói thế, chắc không quá lời. Dĩ nhiên, Phạm Quang Trung không phải là người đi đầu trong công cuộc phục hưng này. Đi đầu, đúng như GS. Phương Lựu nói, là nhà Hán học Nguyễn Đức Vân. Trên tạp chí Nghiên cứu Văn học, đầu những năm 60 của thế kỷ trước, Nguyễn Đức Vân đã sưu tầm, dịch thuật, giới thiệu quan niệm văn chương trong các lời tự, bạt của các bậc nho gia xưa: Lý Tử Tấn, Lê Quý Đôn, Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Vịnh, Nguyễn Địch Cát, Lý Văn Phức, Phan Thanh Giản, Nguyễn Miên Thẩm, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Vũ Phạm Khải, Phạm Phú Thứ, Bùi Văn Dị, Nguyễn Dương Hạo, Lê Hữu Kiều, Bùi Huy Bích... Tiếp sau đó là các công trình: “Từ trong di sản - những ý kiến về văn học từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX ở nước ta” (1981) do Nguyễn Minh Tấn làm chủ biên, “Người xưa bàn về văn chương” – tập I (1993) của Đỗ Văn Hỷ, “Góp phần xác lập quan niệm văn học Việt Nam trung đại” (1997 – vốn từ luận án tiến sĩ khoa học) của Phương Lựu, “Ý thức văn học cổ Việt Nam trung đại” (2001 – vốn là luận án tiến sĩ) của Đoàn Lê Giang. Và cách đây chưa đầy một tháng, luận án tiến sĩ có nhan đề “Sự phát triển tư tưởng thi học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX” của Nguyễn Thanh Tùng cũng đã được bảo vệ xuất sắc. Ngoài những công trình trên, còn phải kể đến nhiều bài viết về quan niệm văn chương của nhiều chuyên gia văn học trung đại. Quả là một thành tựu đáng mừng của đất nước mà công lao chủ yếu lại thuộc giới Hán học, giỏi văn học sử hơn là giới lý luận văn học.

Riêng Phạm Quang Trung mặc dầu sinh sống và làm việc trên đất Đà Lạt (Lâm Đồng) không có nhiều tư liệu và thuận lợi bằng các tỉnh, thành như TP. Hồ Chí Minh, Huế, đặc biệt là Hà Nội, nhưng đã ròng rã hơn 15 năm trời, bằng năng lực, trước hết là nhiệt tâm, đã đóng góp vào công cuộc phục hưng này một cách không dễ gì có ở nhiều người khác với hai công trình: “Văn chương với Lê Quý Đôn” (Khảo cứu - 1994), “Thơ trong con mắt người xưa”,  (Khảo cứu - 1999). Và nay thêm: “Quan niệm văn chương cổ Việt Nam  từ một góc nhìn”. Cuốn sách gồm 3 phần. Phần I: “Đến từ cội nguồn dân tộc” đề cập một số vấn đề chung là vấn đề “truyền thống và hiện đại”, việc “sưu tầm tuyển chọn văn thơ của người xưa”, "vai trò của văn nhân trong quan niệm của người xưa", “đọc các bài đề từ, tựa, bạt Phong trúc tập nghĩ về quan niệm văn chương của người xưa”, “bước đầu tìm hiểu quan niệm văn chương Cao Bá Quát”. Phần II: “Quan niệm văn chương của Lê Quý Đôn”. Phần III: “Quan niệm thơ cổ Việt Nam”. Ngoài ra, còn có Phụ lục in lại nhiều bài tự, bạt và bản “Sơ lược về các tác giả”.

Công trình này của Phạm Quang Trung là một sự kế thừa và nâng cao thành quả của những người đi trước một cách có bản sắc riêng, với tầm độ văn hóa riêng. Nó cũng là việc tổng hợp và nâng cao thành quả của mình trải qua hơn 15 năm đeo đuổi, vật lộn, căng sức để rồi đưa đến cho bạn đọc một công trình đáng được đón nhận và trân trọng với bất cứ ai muốn tìm lại kho báu quan niệm văn chương phong phú, cao diệu của cha ông đã xây dựng được trong mười thế kỷ. Hy vọng rằng, qua công trình này của Phạm Quang Trung, chúng ta, đặc biệt là những ai đang đặt ra những câu hỏi cho các vấn đề về văn chương, về thơ ca ở hôm nay sẽ tìm thấy những lời giải, lời đáp bổ ích.

                                                                                                                                         Yên Hòa thư trai

                                                                                                                             Canh Dần – Trọng Đông 12.2010

 

 

Comments