Nhận xét Tập "Truyện cổ Hà nhì "


                                                               TĂNG KIM NGÂN - Tạp chí Văn học, số 3/1982

Với hai mười lăm truyện gồm nhiều thể loại, tập Truyện cổ Hà Nội xuất bản lần này đã đem đến cho người đọc một niềm hứng thú mới mẻ đối với vốn văn học dân gian của một dân tộc từ lâu nay chưa có tác phẩm văn học riêng được xuất bản.

Chúng ta bắt gặp ở đây một thiên thần thoại kỳ vĩ về người khai sáng đầu tiên. Hình tượng Ché Pe Á Lòng thấm nhuần quan niệm của người xưa về mẹ đất và mang thế giới quan hồn nhiên, ngây thơ của người nguyên thủy. Tư duy cổ xưa ở đây vừa chất phác, vừa mang đầy chất thơ bồi đắp cho hình tượng Ché Pe Á Lòng bóng dáng của người Khổng lồ khai sáng trong thần thoại Việt, những ông Tái-bể, ông Kể-sao, ông Đào-sông, ông Xây-núi ... mà không dễ gì tìm thấy trong một số truyện cổ xuất bản gần đây. Ché Pe Á Lòng, người khai sáng đầu tiên sinh ra từ đất, nhờ đất mà tồn tại, lấy đất tạo ra muôn loài, chết đi lại trở về với đất là một trong những hình tượng độc đáo trong kho tàng văn học dân gian Hà nhì.

Đến truyện Sự tích con người và Chim Gò Sóng (tr.8), ta lại tìm thấy ở đây cốt lõi của một huyền thoại về nạn hồng thủy mà cốt truyện này thường xuất hiện trong văn học dân gian Đông Nam Á. Từ một huyền thoại về nạn hồng thủy và việc tái tạo loài người trên mặt đất, truyện Sự tích con người và Chim Gò Sóng còn giải thích phong tục kiêng săn bắt và ăn thịt Chim Gò Sóng. Có lẽ đây là dư âm của tục thờ vật tổ của người Hà nhì.

Một chủ đề khác đáng lưu ý trong tập truyện này là loại truyện về chàng mồ côi chiếm số lượng khá lớn (12 trong tổng số 25 truyện). Với một ngôn ngữ giàu hình tượng, súc tích, cách kể hấp dẫn, các tác giả đã đưa người đọc vào một thế giới kỳ diệu, đầy hương sắc của truyện cổ dân gian mà không phải tập sưu tầm nào cũng có được. Cách ví von, ngôn ngữ giàu sức biểu hiện rất phù hợp với cách suy nghĩ mang tính hình tượng kiểu dân gian. Những đoạn miêu tả các trận đánh nhau giữa chàng mồ côi với quái vật giàu sức biểu hiện, làm ta liên tưởng đến không khí của những trận đánh trong các anh hùng ca cổ đại.

Về mặt khoa học, tập truyện cổ Hà nhì đã có những tiến bộ so với những tập truyện xuất bản trước đây. Các truyện đã được ghi rõ xuất xứ, mặc dù thiếu phần tuổi của nghệ  nhân (phần tuổi cho ta biết việc tiếp thu vốn cổ ớ lớp người lứa tuổi này ra sao so với nghệ nhân già hơn hoặc trẻ hơn). Xuất xứ trong truyện Hà nhì giúp chúng ta biết rõ số 25 truyện của tập này mới chỉ sưu tập ở 5 địa điểm (5 bản, 3 xã) ở huyện Mường Tè, Lai Châu. Người Hà nhì sinh sống chủ yếu ở hai địa bàn: Mường Tè (Lai Châu), và Bát Xát (Hoàng Liên Sơn). Như vậy địa bàn người Hà nhì ở Bát Xát chưa được các tác giả quan tâm sưu tập mà ngay ở huyện Mường Tè cũng mới chỉ có 5 địa điểm được chú ý mà thôi.

Chúng ta hoan nghênh đóng góp mới và những thành công bước đầu của Vù Gò Xá và Phạm Quang Trung vào kho tàng văn hóa chung của dân tộc. Chúng ta cũng hy vọng một tập Truyện cổ Hà nhì sẽ được xuất bản gần đây với số truyện có thể có trong toàn bộ địa bàn mà dân tộc này sinh sống.

 

Comments