Lời Bạt Tập "Ai tri âm đó"

Phạm Quang Trung thân!

Cảm ơn Trung đã tin cậy gửi cho mình đọc tập bản thảo AI TRI ÂM ĐÓ từ cao nguyên Đà Lạt trước khi đưa tới nhà xuất bản!

Từ ngày rời xa Tây Bắc, chúng mình mỗi đứa một phương và theo đuổi những mục tiêu nghề nghiệp khác nhau, nhưng Tuấn vẫn thường âm thầm dõi theo sự nghiệp văn chương, van học của Trung qua những trang sách, báo… Và lần này, mình vinh dự được làm “người tri âm” đầu tiên của cuốn sách tương lai mang cái tên nhiều ý nghĩa… Còn Tuấn, với dăm cuốn truyện đã xuất bản, chưa bao giờ mình nghĩ rằng sẽ có thể là một người cầm bút chuyên nghiệp. Nhưng khi đọc những dòng này, mình thấy Trung đã nói hộ những gì sâu thẳm nhất của lòng Tuấn: “Vào thời nay, tôi thì hay nghĩ nhiều tới thử thách hơn là cơ hội, vì vậy, thường xuyên cảm thấy lo ngại, bất an…Thách thức đáng kể nhất đối với người cầm bút có lẽ là xu hướng lên ngôi của mọi giá trị vật chất trong xã hội chúng ta. Thời trước, người ta sống trong văn chương, cùng văn chương. Quen thuộc và cần thiết. Như ánh sáng. Như khí trời. Thời ấy mới ngày nào mà giờ đâu rồi? Đôi lúc tôi cứ thảng thốt tự hỏi. Như vừa qua nhanh một giấc mơ đẹp. Rồi tự cảm thấy bản thân trở thành một con người khác hẳn. Xa lạ, lạc lõng với chính mình. Cả với người khác nữa. Còn không những ý nghĩ cao xa luôn nâng đỡ ta trong những bước gieo neo, đôi khi chông chênh, chếnh choáng của nghề nghiệp?”. Hơn lúc nào hết, mình chia sẻ với Trung mối đồng cảm trước tâm sự của nhà văn Nguyễn Khải: “Làm người mà khó nhỉ? Sống tẻ nhạt, sống không màu sắc, lẫn lộn với đám đông thì yên phận. Sống đam mê, sống mạnh mẽ vượt khỏi cái thông thường thì sóng gió bất chợt, có thể bị nhấn chìm khi chưa kịp làm một việc nào cho đắc ý. Lựa chọn đi!”. Và lời bàn sau đó của Trung: “Làm người bình thường còn vậy, huống hồ là làm một nhà văn”. Rõ ràng, Trung đã cố gắng “bắt mạch” căn bệnh của thời đại bùng nổ thông tin nhưng lại có nguy cơ làm thui chột những giá trị nhân văn vĩnh hằng: “… Theo học giả Alain Touraine, yêu cầu toàn vẹn của tính hiện đại đòi hỏi kết hợp được tính hợp lý với tính chủ thể, tính hiệu quả  tinh thần tự do. Muốn thế, hàng ngày hàng giờ, toàn nhân loại và mỗi một con người phải kiên quyết chống lại cái mà ông gọi là chủ nghĩa duy lý công cụ… Nên ghi nhờ lời khuyến cáo của văn hào Mỹ H. Miller: ‘Chúng ta có tri thức không thông minh, tiện nghi không an ninh… Đây là thời của sức mạnh, sức mạnh đơn thuần’”.

Xuất phát từ nỗi “lo ngại, bất an thường xuyên” ấy, Trung đã kiên trì, say sưa kêu gọi người cầm bút trước hết và sau cùng cần phải có “chất văn hóa thẳm sâu và bền bỉ”. Điều Trung tâm đắc với nhà văn Nguyễn Quang Sáng khi ông nói “Văn muốn viết cho thật hay thì cần được sinh ra trong tình yêu và nỗi nhớ” khiến mình thêm một lần giật mình tỉnh ngộ! Với tâm thế ấy, dễ hiểu vì sao Trung hay tìm đến những tác giả người dân tộc, phát hiện và trân trọng ở họ những cảm xúc nguyên sơ, thánh thiện, chưa hề bị ô nhiễm bởi những quy luật thương mại vốn đối nghịch với phẩm cách thanh sạch của thi ca. Sự thiên lệch “thái quá” này của Trung cũng có phần đáng yêu đáng quý, chứ sao! Trung có nhiều dòng nhiều trang như “nhập đồng” dành cho những cây bút người Mường, người Tày, người Thái, người K’ho…và những cây bút nguyện gắn bó suốt đời với Miền núi: “Ta hay băn khoăn về tính hiện đại của thơ. Cứ tìm đâu xa, ở ngay trong những vần thơ nhỏ nhoi của những cây bút chưa thật nổi lên này…” - “Thơ Liễu củng cố niềm tin này ở tôi: phải tìm đến thứ thi ca đích thực như tìm một người tình đích thực…” - “ Nếu thơ trữ tình nguyên chất là tiếng nói trực tiếp của cái Tôi thì có thể nói Mai đã tiếp cận được chính cái nơi thi ca dân tộc đang cần em tới...” - “Thơ Mình Hằng như lời thầm thì nhắc nhủ chúng ta, cần xem trọng từng khoảnh khắc của đời mình, nhắc nhở từng người ở chiều thăm thẳm nhất…Nâng kỷ niệm trên tay/ Mong manh và nặng trĩu…Người đàn ông hiện đại trong con mắt Hằng ra sao? Có phải điện thoại, email, vi tính xách tay với công việc bù đầu ngoại giao chóng mặt, và với tiệc tùng đón đưa, nói cười tất bật để rồi chấp nhận một trong những bi kịch đau xót nhất của thời đại: Bơ phờ trong cơn lốc hư vô?...” - “Thơ Plin như trào ra từ tâm hồn cháy bỏng của anh. Nó giúp ta thêm hiểu thế nào là chất người Tây Nguyên. Đất đỏ Ba zan cùng truyền thống ngàn đời của xứ sở hun đúc nên một tâm hồn như thế…Tôi muốn nói đến sự giao hoà thật sự. Muốn vậy phải tựa vào bản ngã dân tộc mà đi…Là một trong những đại diện xuất sắc cho cộng đồng dân tộc K’ho ở Cực nam Trung Bộ, Plin thấu hiểu hơn ai hết điều đó: Sợ lắm!/ cây bri/ đến mùa thay lá/ Sợ lắm!/ phù dung/ đổi sắc thay màu/ Sợ lắm!/ rừng xanh/ thay màu vàng úa/ Sợ lắm!/ trái tim/ thay màu máu…”. Những cây bút lớn tuổi như Lò Văn Mười, Mã A Lềnh, Y Phương, Lâm Quý, v.v... đã từng coi Trung như một người bạn tâm giao! Chỉ một trại sáng tác của Hội Văn học Nghệ thuật Các DTTS cũng cho Trung biết bao nguồn cảm hứng và tư liệu để, không những “thâu tóm” thần thái nhiều tác giả, nhiều sáng tác, mà còn khái quát lên được nhiều vấn đề nổi cộm của sáng tác văn học Miền núi - một mảng đề tài lớn hiện còn trống vắng trong văn học nước nhà…Mình hiểu, việc dành cho các thế hệ người cầm bút Miền núi những tình cảm sâu nặng cũng là một cách Trung trả món “nợ lòng” với những năm tháng tuổi trẻ dạy học ở rừng núi Tây Bắc thân thương!

Tuy vậy, mình thiển nghĩ, phải đến tập sách này, Trung mới thực sự “thoát thai” khỏi một anh giáo dạy văn cao đẳng rồi đại học và một tiến sĩ văn chương học đường để bước thẳng vào quỹ đạo của một nhà lý luận, phê bình chuyên nghiệp - đặc biệt là với Phần hai. Mục Phương pháp luận marxism và việc tạo dựng lý luận văn chương hiện nay đề cập đến những vấn đề lý luận rất hắc búa, nhạy cảm, đã và đang gây nhiều tranh cãi trên văn đàn. Trung đã bước vào “lãnh địa” này một cách đường hoàng, có trang bị lý luận cơ sở vững chắc cùng những thông tin hiện đại khá đầy đủ, hơn thế, còn với một lòng quả cảm cần thiết… Trên thực tế, ít có tác giả nào dám mạnh dạn khẳng định cái sự thật: “Hệ thống lý luận văn chương ở ta hiện đang rơi vào khủng hoảng hiểu theo cả hai nghĩa: vừa trì trệ, lỗi thời so với nhu cầu đổi mới toàn diện và triệt để, vừa cứng nhắc, sơ giản so với thực tế văn chương nhiều phần đã khác trước”. Và: “Ta dễ dàng nhận ra hệ thống lý luận văn chương của ta còn chưa giàu có về quan niệm, đa dạng về loại hình và cấu trúc. Ở ta, thực tế mới có lý luận cơ bản, lý luận quy phạm mà thiếu hẳn lý luận ứng dụng, lý luận miêu tả. Tính học viện, đặc biệt tính học đường còn khá nặng nề… Muốn vượt qua, tôi tán đồng với các nhà lý luận Trần Đình Sử, La Khắc hòa…là hãy bằng mọi cách, bằng mọi nỗ lực để gia tăng tính khoa học của lý luận... Nó gắn liền với lòng tự trọng”. Trong cả mục này, Tuấn hiểu Trung đã nỗ lực đến thế nào để đưa ra những nhận định, những kiến giải hợp tình hợp lý nhằm gỡ các “mối tơ vò” lý thuyết mà nhiều thế hệ lý luận văn chương Việt Nam đã từng đau đầu nghiền ngẫm, than thở, tranh luận, (thậm chí cả mạt sát nhau nữa), để có thể đóng góp thêm một viên gạch cho nền lý luận văn chương mới!

Và mục Phác thảo lý luận văn chương Việt Nam hải ngoại thế kỷ XX của Phần hai tập sách khiến mình ngạc nhiên thực sự - không hẳn chỉ vì sự lý thú và cần thiết của vấn đề Trung khảo sát mà còn vì thái độ trân trọng, gạn đục khơi trong của một người nghiên cứu có lương tri và tinh thần cởi mở. Mình đã được đọc một phần cuộc tranh luận này của Trung với hai nhà lý luận văn chương hải ngoại trên Báo Văn nghệ, thấy thòm thèm, nay mới được tiếp xúc với toàn bộ văn bản. Trung thuyết phục được mình, và có lẽ cả nhiều người đọc khác nữa, trước hết là ở cách đặt vấn đề: “… Trong con mắt của những người cầu tiến, lý luận văn chương hải ngoại bao giờ cũng là một trong những kênh đối thoại quan trọng, hữu ích, kể cả khi những ý kiến nêu ra có phần cực đoan và quyết liệt…”. Và sau đó là những đánh giá công bằng về thành tựu của hai nhà nghiên cứu hải ngoại: “Trong tình hình giới thiệu, nghiên cứu các trào lưu, trường phái nghệ thuật tiền phong chủ nghĩa ở trong nước cơ bản còn phiến diện và nghèo nàn, thì bài viết trên (về nghệ thuật Đa đa) là sự bổ khuyết về tư liệu và về cách nhìn rất đáng trân trọng, không chỉ giới hạn trong một trường phái cụ thể” - “Bên cạnh nhiều luận giải thấu đáo khác về một trào lưu văn hóa, văn chương cực kỳ phức tạp đang diễn ra, chi phối nhiều mặt tới đời sống tinh thần đương đại, nói riêng về văn học, sự phân biệt giữa văn chương hiện đại và hậu hiện đại của ông sau đây có thể xem là sáng rõ và hợp lý: ‘…Nhà văn hậu hiện đại không kể một câu chuyện nào cả, mà chỉ tạo ra những khả thể về ‘những’ câu chuyện, và độc giả là người dựa vào những khả thể ấy để tự kể theo ‘những’ cách của mình’... Không dễ gì viết được những dòng như thế. Đọc, hiểu, rồi phải thấm đến một mức độ nhất định mới bao quát nổi” - “Đặt nhiều kỳ vọng nơi người đọc, mong đổi thay triệt để cách đọc cũ kỹ mà biểu hiện trước nhất là ở các nhà phê bình, để rồi làm chuyển biến cách nghĩ, cách viết của nhà văn, Nguyễn Hưng Quốc tỏ ra thấm nhuần cảm quan hiện đại, đánh trúng vào một trong những điểm vướng mắc nhất, rất cần nhanh chóng được tháo gỡ, nhằm thật sự đổi mới văn chương, văn học ở nước ta. Ông chủ định dùng những từ ngữ mạnh, dội thẳng vào tâm trí, mong tạo ra ít nhất là sự “bất an” - từ dùng của ông, nơi độc giả. Ở một mức độ nhất định, ý muốn đó đáng được ghi nhận, và thái độ đó cũng nên được trân trọng” - “Từ lý thuyết tiếp nhận hiện đại để nhìn nhận vấn đề, ông đã đưa ra một nhận xét đáng để mọi người suy ngẫm: ‘Cách đọc của chúng ta hiện nay nói chung bị điều kiện hóa trong một số thói quen thẩm mỹ hết sức chật chội. Chúng ta chưa từng có một thời duy mỹ để thực sự biết bất cần những yếu tố không phải là văn học; chúng ta chưa từng có thời tôn sùng hình thức luận để biết ngắm nghía tác phẩm chỉ như một văn bản; và chúng ta cũng chưa từng có thời ‘siêu thực’ để tập thói quen nghe những âm thanh còn hỗn mang, chưa bị ý thức kiểm soát, kiềm chế và tái phối trí theo yêu cầu của sự hợp lý thông thường’. Với những ai luôn đòi hỏi cao ở mình, những phản biện tượng tự nên xem là cần thiết...”. v.v… Còn rất nhiều “dấu son” nữa trong nghiên cứu của đồng nghiệp hải ngoại được Trung chắt chiu, khẳng định.

Nhưng, cũng với tinh thần tự tin, sòng phẳng, Trung đã nhận định và lý giải nhiều điều mà theo mình là có giá trị thời sự và ý nghĩa thực tiễn: “Các cây bút lý luận văn chương Việt Nam ở hải ngoại không thiếu tri thức. Kể cả nhiệt huyết cũng không thiếu. Do đâu tiếng nói của họ vọng chưa xa, vang chưa sâu?” - “Thử thách đối với các cây bút hải ngoại, phải thừa nhận, cũng không ít và không nhỏ. Không lấy làm ngạc nhiên khi câu nói của một nhà thơ lưu vong Nga được Hoàng Ngọc-Tuấn nhắc lại đầy cảm khái: ‘Một người tự do, khi thất bại, không đổ lỗi cho ai cả’. Vậy nên, trước câu hỏi tự do đích thực là gì, không phải ở đâu và với ai cũng có thể dễ dàng đưa ra được câu trả lời xác đáng... Vấn đề rút ra ở đây là: liệu có thứ tự do tuyệt đối trên đời hay không?” - “Do vậy, cái nhìn ảm đạm một chiều khi hướng về văn chương trong nước cứ như ám ảnh họ. Không khó nhận ra thái độ này… Thế rồi, họ khó lòng tìm nổi niềm tin vào tương lai của văn chương dân tộc vốn bao giờ cũng là điểm tựa tinh thần của bất cứ người cầm bút nặng lòng với đất nước, quê hương nào. Nguyễn Hưng Quốc chẳng ngại ngần, dè dặt bộc lộ nỗi bi quan này khi mở đầu bài viết Một nền văn học nghiệp dư của mình: ‘Mặc dù có một lịch sử dài hơn cả một ngàn năm, văn học Việt Nam, cho đến nay, theo tôi, vẫn là một nền văn học nghiệp dư. Và có vẻ như vẫn tiếp tục là một nền văn học nghiệp dư mãi mãi’. Nếu ‘mãi mãi’ không đổi thay thì mọi phản biện của họ phỏng có ích gì? Và để làm gì?” - “Cứ theo sự quy chiếu của quan niệm có chiều thiên lệch trên ở Nguyễn Hưng Quốc thì bất cứ cái gì có ý nghĩa xã hội thiết thực một chút cũng đều bị xem là xa rời, cách biệt với chức năng tự nhiên của văn chương đích thực. Xem ra, chính quan niệm mà Nguyễn Hưng Quốc khư khư ôm giữ mới là sự tuyệt đối hóa trên phương diện lý luận và từ lâu đã bị nhiều người lên tiếng bác bỏ…” - “Đúng là khi sống khá lâu trong tình cảnh lưu vong, người ta rất khó vùng thoát khỏi nỗi ám ảnh dai dẳng về mặt chính trị. Thật tiếc cho tâm huyết bỏ ra của những người như ông” - “Trên lập trường ủng hộ mọi sự đổi thay triệt để trong sáng tạo, Nguyễn Hưng Quốc đặc biệt tỏ ra ngao ngán, thất vọng trước cảnh im ắng, ngưng trệ của đời sống phê bình trong nước: ‘Ở Việt Nam…không khí văn học lúc nào cũng lặng lẽ. Lâu lắm mới có chút ồn ào. Ồn ào là do cãi cọ, chứ không phải do tranh luận. Tranh luận nếu có, chủ yếu là tranh luận về những khía cạnh chính trị, xã hội hay văn hóa của văn học chứ không phải vì bản thân văn học’. Vẫn thuần một lối đánh giá chủ quan, thiên lệch, cho dầu không phải không có ít nhiều sự thật ở trong đó”.

Và đoạn viết sau của Trung có thể tóm bắt được khá thấu đáo một vấn đề vốn tinh tế và nhạy cảm - vì vậy mà cũng khó nói: “Vâng, sau cùng lại trở về với vấn đề mấu chốt muôn thuở: động cơ của người cầm bút. Mà ở phương diện này, nếu một ai có đặt câu hỏi nghi ngờ sau khi đọc kỹ các ông thì cũng chả trách cứ họ được. Thành thử, cũng như trong trường hợp Hoàng Ngọc - Tuấn, lời kêu gọi hướng về giới văn chương trong nước ở Nguyễn Hưng Quốc giảm hẳn tác dụng: ‘Nhà văn các nước khác bận tâm trước hết với những cái cần thêm vào để được giàu có. Nhà văn Việt Nam bận tâm trước hết với những cái cần phải tước bỏ đi để mình có thể đứng vững trước khi nghĩ tới chuyện nhảy tới. Là người Việt Nam, không thể làm một nhà văn đúng nghĩa nếu trước hết không phải là một kẻ phản bội có ý thức: phản bội quá khứ, phản bội truyền thống, phản bội tất cả những di sản tinh thần đã góp phần hình thành nhân cách và văn cách của mình’. Phản bội ư? Dầu phản bội được hiểu như một thế cách nhận thức săn tìm cái mới thì cũng khó lòng lôi kéo được những bậc thức giả. Bởi, thức giả trước hết phải là trí giả. Trên đời, không một kẻ lịch lãm nào lại nghĩ giản đơn rằng, cái mới hình thành trong quá trình sáng tạo phải hoàn toàn đoạn tuyệt với di sản của quá khứ, kể cả những truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình. Bởi nếu vậy, họ sẽ bị chính dân tộc sinh ra mình ruồng bỏ. Phải xem đó là bi kịch tinh thần thảm hại nhất, bi đát nhất của một người trí thức chân chính!”.

Thư đã dài. Xin được kết lại thư gửi bạn phương xa bằng chính những dòng văn của bạn mà Tuấn cảm thấy như viết cho riêng mình vậy: “Cuộc đời không bao giờ ngoảnh mặt với những ai biết dâng hiến hết lòng, không chút tính toán so đo trước phận sự xã hội thiêng liêng của mình đâu. Tôi luôn thành tâm nghĩ vậy!” - “Người ta nói rất đúng rằng, có thể giả trá ở đâu đó, chứ tuyệt nhiên không thể giả trá nơi trang viết. Nghệ thuật thuyết phục người đời bằng chính sự chân thật đến tận cùng của người sáng tạo…” - “Biết bao chân trời đang mở ra phía trước… Quanh tôi sóng biển rì rầm. Trước mặt tôi là đại dương bao la”…

Mong cuốn sách của Trung sẽ đến được với nhiều bạn đọc, và sẽ có một tác động thực tế nào đó đối với đời sống văn học hôm nay!

 Hẹn ngày gặp lại!

Tái bút: Mình chỉ xin có một gợi ý nho nhỏ: Giá lấy câu nói của Giáo sư Trương Tửu “Nếu không đoạn tuyệt với quá khứ thì không thể tiếp tục được quá khứ” mà chúng ta đều tâm đắc (Trung có nhắc đến trong tập sách) đặt làm Đề từ ở đầu sách thì có lẽ sẽ thú vị hơn chăng?

Hà Nội, giữa tháng 4/2009

   NGUYỄN ANH TUẤN

                                                                                                                                        Đạo diễn Điện ảnh

 

Comments