Đi tìm nữ thần mặt trời (Văn chương với Mã A Lềnh)


 Quê hương của bài ca Đi tìm nữ thần mặt trời là Tây Nguyên, như nhiều người đã rõ. Tôi lại muốn lấy tên của bài hát quen thuộc mà cuốn hút này làm tựa đề cho tiểu luận bàn về quan niệm văn chương của nhà văn có thể xem là một trong những đại diện lớn nhất của dân tộc Hmông phía Bắc, đó là Mã A Lềnh. Bởi, tôi rất nhớ, chính anh là tác giả của “màn đồng ca” dành cho các dân tộc thiểu số ba miền nhân ngày Hội văn hoá chung diễn ra vào năm 1986: “Hát chung đấy nhưng… mỗi người một giọng riêng hoà thành màn đồng ca tinh khiết suối nguồn điệp trùng rừng núi rạng rỡ bình minh óng ánh trăng thu” (Từ Vân Hồ ‘86). Với anh, cũng như với nhiều văn nghệ sỹ tiêu biểu của 54 dân tộc anh em từ Bắc chí Nam, vốn chỉ có chung một hướng nhìn, một hướng đi ấy. Có điều, con đường tìm tòi trong sáng tạo văn chương nghệ thuật thì mỗi cá thể mỗi khác. Để rồi từng nhà văn, từng tộc người sẽ tạo ra riêng một thế giới nghệ thuật đặc sắc, không lẫn với ai, vì thế mà có thể đóng góp xứng đáng vào nền văn chương nghệ thuật chung của dân tộc Việt Nam thống nhất. Vậy hãy xem nhà văn Mã A Lềnh nghĩ gì về nghề viết của chúng ta?

            Còn nhớ, đâu như vào năm 1999, trên đường vượt qua Sơn La - Điện Biên - Phong Thổ trở về Sa Pa - Lào Cai, Mã A Lềnh đã ấp ủ bài thơ mang tên là Đức Mẹ. Mở đầu là sự chủ ý xác lập vững vàng một lối nhìn: Khi có mặt trên đời/ Biết rằng trời cho làm kẻ văn nhân của rừng hoang/ Tôi bật khóc tìm Đức Mẹ của riêng tôi. “Đức Mẹ” trong trường hợp này với anh, không gì khác, chính là lý tưởng nghề nghiệp thiêng liêng đấy thôi. Để, ngay sau đó, anh có thể vững tin mà cả quyết rằng: Dẫu đi suốt cuộc đời, tôi vẫn nằm trong vòng tay Đức Mẹ của riêng tôi. Chỉ những ai thường xuyên ý thức được sứ mệnh nặng nề và cao cả của nghề cầm bút mới có thể tuyên bố thẳng thừng lại hùng hồn trong sự hãnh diện đến vậy! Tôi lưu tâm tới định hướng nhất quán qua danh tính “kẻ văn nhân của rừng hoang”. Không thể nào khác thế! Nhà văn, anh từ đâu sinh ra? Phải trả lời cho thật rõ ràng và dứt khoát câu hỏi căn cốt này. Không được phép mù mờ và phân vân. Từ đó mới biết anh sẽ đi về đâu và bằng con đường nào? Toàn những vấn đề hệ trọng, quyết định tới thành bại của cả một đời văn. Xin hãy cùng dừng lại ý tứ thâm trầm làm nên bài thơ Vùng cao được Mã A Lềnh viết vào năm 2001, nghĩa là sau 37 năm anh quyết định hiến mình, sống chết với nghề viết. Ở miền núi, mọi thứ luôn được đánh giá bằng những thước đo riêng. Cái giá rét ư? Chỉ có thể đo“bằng nỗi cô đơn”. Còn cái nóng nực? Cũng chỉ có thể đo “bằng những bước chân... nhớn nhác” của bao lần nhẫn nại vượt đèo caoTương tự, chỉ có thể “bằng bếp lửa hồng ngày đêm” để đo chính xác cái ấm áp ở nơi đây. Như vậy, nhiệt kế bình thường ở vùng khác, nơi khác không thể thẩm định chính xác độ lạnh, độ nóng, độ ấm ở vùng cao quê anh được. Phẩm ấy, chất ấy phải dùng cách ấy để xem xét, nếu không sẽ khó tránh khỏi so lệch thậm chí khập khiễng.    

 Từ sự xác định nhất quán về định hướng trước sau của nghề viết, trong bài Thơ và lố son, nhân vật trữ tình của chúng ta mới thổ lộ thế này: Lố son kia em cũng cần/ còn thơ không thể thiếu/ Son tô đôi má hồng, và thơ thắm mãi trái tim em. Không thấy mảy may sự đối lập nào cả giữa vẻ đẹp bề ngoài với vẻ đẹp bên trong. Đáng nhấn mạnh chăng là ở sự “thắm mãi trái tim” nơi con người. Rõ ràng ở đây tác giả được dẫn dắt bởi chính quy luật của văn chương. Đáng quý là ở chỗ đó. Không phải người cầm bút nào xưa nay cũng nhìn nhận rành rót được như vậy. Văn chương sở dĩ được con người và xã hội bao đời nay coi trọng là vì nó luôn dung dưỡng tính văn chương ấy. Càng đậm đà càng có cơ hội thành công. Văn chương quả thật đã và sẽ làm những chuyện, những việc mà các lĩnh vực khác không làm được hoặc không làm tốt được như nó. Trong nhiều điều riêng có không thể thiếu điều sau: văn chương chủ yếu nói với trái tim con người, đôi khi thầm thì mà da diết, mà ngơ ngẩn đến không ngờ. Vào một lần khác, Mã A Lềnh nói rõ hơn đặc trưng ấy: Thơ không cân, bởi không gì cân được/ Sợi tơ nối hai đầu mong manh quá đỗi (Không đề)Lao động của nhà thơ cũng bị chi phối bởi những quy luật đặc thù. Nếu ví việc làm thơ như người miền núi đi săn, thì: Ta đi săn/ Không cần nỏ/ Không có súng. Vậy thì săn bằng gì đây? Ta đi săn/ Chỉ mang theo tình yêu chân thành. Trừu tượng và ảo huyền quá phải không?! Chính người viết cũng nghĩ vậy: Tình yêu chân thành thì sao nhìn thấy? Nghĩ kỹ, câu hỏi nêu ra chỉ là một cách nhằm củng cố thêm niềm tin nghề nghiệp vốn có đấy mà!

Nói tới thơ mà chú trọng tới cái tình là đích đáng lắm rồi. Tuy, chớ nên tách tình ra khỏi lý, nhất là chớ đi tìm cái tình ở chốn hư vô. Xem ra, Mã A Lềnh thường xuyên ý thức được điều đó. Anh đã nồng nhiệt thốt thành lời trong bài Đêm trắng vùng biênƠ tiếng gà rừng/ Tiếng gà rừng hoang sơ bên nương sắn/ Cành mít già khẳng khiu/ Con chính choè vô tư gọi sáng/ Trên cánh hồng cổ thụ khô/ chú hoạ mi/ thánh thót/ giục Thơ lên. Cần lưu ý: từ Thơ được viết hoa đầy dụng tâm trong nguyên bản. Khi làm thơ hay khi viết văn, bất cứ lúc nào và ở đâu, anh đều nương theo ý hướng dường như đã ăn sâu vào tiềm thức ấy: Chiều,/ ngắm nhìn trái mặt trời đỏ lựng/ Cũng cô đơn, cháy sáng hết mình? Đêm,/ rõi soi vì sao nhấp nháy/ Thiên hà kia đang khắc khoải lụi tàn? (Hạnh phúc). Với nhận thức của người viết, ta vừa thấy đối tượng vừa thấy chủ thể, trong sự ăn nhập, hoà quyện đến mức thật khó tách rời. Tôi hiểu vì cơn cớ gì mà một lần trong bài Vô đề anh chợt nao lòng trước ca từ một bài hát khá nổi tiếng: Người nghệ sỹ lang thang hoài trên phố/ Bỗng thấy mình chẳng nhớ nổi một tên đường. Một câu hỏi kịp buông ra: Ai ngẩn ngơ đi tìm tiếng hát suốt đêm thâu? Hỏi, chỉ là một cách tự khẳng định thôi mà. Người ngẩn ngơ trước tiếng hát hay tiếng tiếng hát khiến người ngẩn ngơ? Khó lòng tách biệt ra lắm! Tựa như tình yêu giữa hai người khi “bất chợt họ có lòng nhau”. Ta trong mình, mình trong ta, tuy hai mà một, dầu một mà hai: hình bóng họ luôn ở trong nhau/ hồn vía họ quyện xoắn vào nhau. Đến nỗi cả hai khi thức cũng như khi ngủ đều “cùng giấc mơ”, “cùng nỗi nhớ” (Có lòng nhau).

Văn chương là vậy, khó tách bạch giữa ta với đời, do đó mà dường như không thể tách bạch giữa ta với người. Có điều, văn chương bao giờ cũng phải được khởi đầu từ cái “tôi” của người nghệ sỹ. Và tôi lại tìm mình/ Trong khắp cõi nhân gian (Tìm mình). Nghệ thuật khác biệt với khoa học có lẽ chủ yếu là ở chỗ đó. Vì vậy, nhiều bạn đọc đặc biệt thích thú bài thơ Hà Nội - hè chín tám của Mã A Lềnh. Một ai muốn đi tìm nét khu biệt trong sáng tạo nghệ thuật, theo tôi, chớ nên bỏ qua bài thơ giàu ý tứ này. Ý tưởng chính nằm ở chỗ: đã là nhà văn thì dù đi đâu, ở đâu trước hết đều gặp phải bóng hình mình. Anh đi ra cầu thang: chợt thấy mình/ lù lù ở đó/ chờ mình. Khi bước theo hành lang: đã thấy mình/ xiêu vẹo/ trước tường. Đi ra rồi lại đi vào, cuối cùng quay về phòng mình, bỗng: giật mình/ bóng mình/ đang ngồi/ bất động. Không chịu, anh quyết định lần lên sân thượng. Lối đi tối om. Giữa lúc: chớp trời loé giật. Chợt, như một định mệnh: thấy mình/ sõng soài/ còng queo/ đón đợi. Đến đây, không kìm giữ được lòng mình nữa, anh thảng thốt trong nỗi băn khoăn thật đáng yêu: Ô hay! sao mình/ cứ va/ vào mình? Có gì lạ lùng đâu! Những ai, dẫu chỉ đôi lần trong đời nảy ra ý định viết văn làm thơ đều sẽ có dịp thể nghiệm tâm thế sáng tạo tương tựTác giả chỉ là người biết lựa cách nói, sao cho vừa hay, vừa nổi, lại vừa hấp dẫn, thế thôi.

Như vậy, cách thức, lối đi trong văn chương đã hẳn là phải khác nhau. Nhưng suy cho cùng thì văn chương cũng chỉ là một cuộc chơi, có điều là một cuộc chơi chuẩn mực- như sự xác định đúng đắn của Mã A Lềnh trong bài thơ Bị cúm. Thú vị nhất là ở sự so sánh tác động của văn chương với môn thể thao vua, đó là bóng đá. Phải nói bóng đá ở một góc độ nào đó cũng là một ngành nghệ thuật “đặc biệt”, ở chỗ, như tác giả phát hiện, chỉ: Một chút gian lận thôi/ Một chút sai lầm thôi/ Một chút nhỡ nhàng thôi nơi trọng tài cũng như nơi cầu thủ thì lập tức sẽ bị khán giả “la ó” trong sự “bình luận và phản đối”. Bởi, “họ đòi sự công bằng”. Tuyệt diệu ở chỗ đó là lẽ công bằng “không cho riêng ai”. Tôi đặc biệt thấm thía cái ý sau cùng này. Vì, ngoài nhu cầu thẩm mỹ riêng, người đọc văn chương cũng như người xem bóng đá bao giờ cũng xuất phát từ những đòi hỏi chung, rộng lớn hơn, của dân tộc và thời đại để thẩm định hay dở. Cho nên, đã là một nhà văn giàu ý thức nghề nghiệp không thể không đặt ra ý nghĩa xã hội, càng cao xa càng tốt, khi ấp ủ cũng như khi thực hiện những dự đồ sáng tạo. Đó thật sự là một thách thức không dễ vượt qua của nghề cầm bút. Xem ra, Mã A Lềnh đã nhận chân ra đòi hỏi sống còn này. Chẳng thế mà anh thường yêu cầu cao, không, phải nói là rất cao, nơi người cầm bút trong việc nói thật, nói thẳng khi đối diện với mọi các xấu, cái ác có nguy cơ ngày một làn tràn ngoài xã hội. Việc này, xin được nhắc lại, tuyệt nhiên không dễ. Nhưng không thể khác. Vì với anh, thơ văn chỉ có thể đứng về một phía trong cuộc đấu tranh cam go giữa một bên là chức quyền - giàu sang - ác hiểm và bên kia là dân đen - nghèo hèn - hiền lành. Quá nghiệt ngã với một người cầm bút vốn cả đời chỉ toàn những chuyện viển vông, do quen ngẩn ngơ đi tìm tiếng hát suốt đêm thâu (Vô đề). Bởi nhà văn, nói gì thì nói, cũng chỉ là một con người bình thường như bao con người khác thôi mà! Hơn thế, nhà văn chân chính do luôn chờn vờn bay bổng vào cái đẹp, nên vô cùng ngơ ngác với tiền tài, danh vọng, quyền chức. Không lạ nếu như: Trước mọi người đàng hoàng chính khách/ Đối diện với chính mình lại hoá thơ ngây (Nghệ sỹ).

Người đọc dễ chia sẻ với những suy nghĩ và cảm xúc chân thực như thế của Mã A Lềnh. Và, ta còn có cơ sở để tin vào anh nữa. Chẳng phải, như bao người con của núi của rừng khác, anh từng lớn lên trong lời cha dặn ngay từ thuở thơ dại: Cha dạy con cách mài dao cho sắc (về trí lự)/ cách lấy lửa giữa rừng (về cảm xúc)/ cách bám chân vào đất (về sự lịch lãm). Những lời răn dạy hướng tới việc đào luyện nên một nhân cách cứng cỏi là đáng quan tâm hơn cả. Nhân vật trữ tình lòng tự nhủ lòng trước người cha: Nếu có bạo chúa nào chừng mắt/ Nếu có kẻ hèn khinh mạn… Thì con vẫn cứ nghênh ngang, xù xì như hòn đá tảng giữa ngàn lau. Tôi luôn ưa thích cái thế đứng này. Từ đó, người con không ngừng lớn lên về thể xác, nhất là về tinh thần. Để từ con đường núi nhỏ hẹp, quanh co của quê núi, anh dần dà “vươn tới nhân gian” (Với cha). Cái đích lớn lao của mỗi người trong cuộc đời phải chăng khi nào cũng vậy!

Cho nên, đến giờ, khi đã bước vào cái tuổi “cổ lai hy”, Mã A Lềnh dường như vẫn chưa biết đến tuổi già trong sáng tạo. Xem kìa: anh vẫn mải miết đi trên con đường núi hiểm trở với dáng vẻ và hành trang hầu như không đổi: Vẫn như thế, vẫn chân trần đạp lên đá sắc/ Chiếc thồ trên lưng thồ trĩu cả ngàn năm/ Con dao bên hông, cây khèn treo vách thầm thì hy vọng… (Đồng điệu Zigan). Trong khi, với tư cách là một nhà văn, cũng vẫn không hề thay đổi: Miệng nghêu ngao một khúc tự ca (Khúc tự ca). Xin chúc anh luôn chân cứng đá mềm. Bởi, với một nhà văn chân chính, con đường sáng tạo khi nào cũng nhiều gian nan, trắc trở. Và, cái đích đến hoàn hảo ở phía trước bao giờ cũng cao vời… Đúng như anh từng thổ lộ: Đôi khi mỉm cười và khóc thầm/ Chỉ giật mình chẳng thể viết hay hơn (Thi sỹ).