Vết nhơ thứ hai

Tôi nghĩ mình sẽ không bắt buộc phải viết thêm nữa về những chiến công lừng lẫy của người bạn tôi, Sơlốc Hôm. Không phải tôi đã cạn tư liệu đâu. Ngược lại, tôi còn giữ những ghi chép về hàng trăm trường hợp không bao giờ có thể phai mờ trong tâm trí. Cũng không nên quả quyết là sự thích thú đối với một con người độc đáo, đối với những cách thức làm việc khác thường của con người nổi tiếng này ở người đọc đã thuyên giảm. Nguyên nhân đích thực nằm ở chỗ Sơlốc Hôm vì một lý do nào đó không muốn tiếp tục xuất hiện trên sách báo những câu chuyện trinh thám viết về anh nữa. Chừng nào anh chưa từ bỏ công việc thì những  bản phúc trình về chiến công của anh vẫn có một ý nghĩa thực tế nào đó đối với anh. Còn một khi anh dứt khoát giã từ Luân Đôn hiến mình cho việc nghiên cứu và chăn nuôi ong trên những quả đồi Xaxxêkxơ, thì với anh, sự nổi tiếng hoá thành đáng ghét. Anh khẩn khoản đòi hỏi để anh được yên tĩnh. Chỉ sau khi tôi nhắc anh rằng tôi đã hứa cho in vào thời đại của mình câu chuyện “Vết nhơ thứ hai”, chỉ sau khi tôi thuyết phục anh rằng cần hoàn thành kịp thời toàn bộ tập truyện bằng một sự kiện quan trọng nhất trong lĩnh vực chính trị quốc tế – đồng thời là sự kiện cực kỳ quan trọng mà vào thời gian   nào đấy Hôm buộc lòng phải tìm hiểu – chỉ sau tất cả những nỗ lực đó, tôi mới được anh chấp thuận cho công bố một chuyện còn được giữ bí mật hoàn toàn. Nếu một vài chi tiết của câu chuyện này chưa thật rõ ràng thì bạn đọc dễ dàng nhận ra nguyên do rất xác đáng trong sự dè dặt của tôi.

Một lần, vào ngày thứ ba một sáng mùa thu (năm, thậm chí thập niên cũng không thể chỉ ra được) trong căn hộ khiêm nhường của chúng tôi ở phố Bâycơ xuất hiện hai người có tiếng tăm khắp Châu Âu…  Một người có cái nhìn trịnh thượng, trông nghiêm khắc và kiêu kỳ. Nhìn nghiêng ông ta rất giống chim đại bàng. Đó không phải ai xa lạ mà là Huân tước Benlinđzêrơ, người hai lần giữ chức Thủ tướng Velicôpritanhi. Người thứ hai tóc đen, hơi thấp, có khuôn mặt cân đối. Cả người ông ta toát ra một vẻ lịch thiệp, trang nhã. Ông được trời ban cho không chỉ một vẻ đẹp cuốn hút mà còn một trí tuệ tinh tế sắc sảo. Đó là Trêlônhi Khốup, Perơ (1) của nước Anh, Bộ trưởng đặc trách các công việc Châu Âu, một nhà hoạt động nhà nước nhiều triển vọng của chúng ta.

Các vị khách ngồi cạnh đivăng chất đầy giấy tờ. Nhìn nét mặt xúc động và mệt mỏi của họ rất dễ đoán ra là đã có một công việc cực kỳ quan trọng và gấp gáp nào đấy đưa họ đến đây. Đôi tay gầy gò với những tĩnh mạch nổi rõ của viên tướng bồng bột bóp chặt lấy tay dù bằng xương. Ông ta hết nhìn Hôm lại nhìn tôi, buồn rầu và lo ngại.

Viên Bộ trưởng đặc trách các công việc Châu Âu thì xúc động vân vê ria mép rồi gảy  gảy những  đồ trang sức trên dây đồng hồ.

- Ông Hôm, tôi đã nhận thấy là bị mất cắp – Điều này xảy ra vào lúc tám giờ sáng ngày hôm sau. Tôi lập tức báo cho ngài Thủ tướng biết. Ngài đã đề nghị cả hai cùng đến chỗ ông.

- Ông không báo cảnh binh sao?

- Không, thưa ông! – Viên Thủ tướng với vẻ lanh lẹn và cương quyết vốn có của mình lên tiếng - Không báo và sẽ không bao giờ báo. Báo cho cảnh binh nghĩa là công bố sự việc. Mà trước mắt, chúng tôi muốn tránh né việc này.

- Nhưng tại sao, thưa ngài?

- Tài liệu chúng tôi đang nói đến quan trọng tới mức, sự công bố nó có thể sẽ dễ dàng dẫn đến, và vào thời điểm hiện nay thì chắc chắn sẽ dẫn đến, cuộc xung đột có tính quốc tế. Tôi có thể nói không chút cường điệu rằng vấn đề hoà bình và chiến tranh phụ thuộc vào tài liệu này. Nếu sự truy tìm nó không giữ được bí mật hoàn toàn thì tốt nhất là cương quyết cự tuyệt mọi sự truy tìm. Bởi vì kẻ đánh cắp tài liệu này chỉ nhằm để tuyên truyền rộng rãi mà thôi!

- Tôi hiểu. Còn bây giờ, ông Trêlônhi Khốup, tôi sẽ rất biết ơn ông nếu ông kể cho tôi nghe một cách chi li tài liệu bị mất trong hoàn cảnh nào?

- Tôi sẽ trình bày ngắn gọn cho ông nghe tất cả, ông Hôm ạ!... Tài liệu này là bức thư của một nhà vua ngoại quốc được nhận cách đây sáu ngày. Bức thư có ý nghĩa hệ trọng đến nỗi tôi quyết định không để nó trong Xây Phơ (2) của chính phủ. Chiều đến, tôi mang theo về nhà. Tôi bảo quản nó ở phòng ngủ trong một cái tráp được khoá kỹ lưỡng. Tráp này tôi chuyên dùng để giữ gìn những tài liệu quan trọng. Chiều qua lá thư vẫn nằm ở đấy. Tôi tin như vậy. Khi mặc quần áo đi ăn trưa, tôi lại mở tráp ra, và rõ ràng tài liệu vẫn nguyên chỗ cũ. Thế mà sáng nay lá thư biến mất. Suốt đêm cái tráp được đặt ở ngay cạnh giường trên bàn rửa mặt của tôi. Tôi ngủ rất tỉnh, vợ tôi cũng vậy.  Cả hai chúng tôi thề rằng không một ai vào phòng ban đêm cả.

- Ông ăn tối lúc mấy giờ?

- Bảy rưỡi.

- Ông đi ngủ lúc mấy giờ?

- Nhà tôi ở nhà hát. Tôi chờ cô ấy. Gần mười hai rưỡi chúng tôi đi vào phòng ngủ.

- Nghĩa là trong khoảng bốn giờ tráp không được một ai bảo vệ.

- Không một ai được phép vào phòng ngủ ngoài nữ hầu phòng mỗi sáng, người hầu của vợ tôi và vợ tôi trong khoảng thời gian còn lại của ngày. Tuy nhiên, cả hai người này đều là những gia nhân tin cậy đã từng sống lâu ở nhà tôi. Hơn nữa không có người nào trong số họ có thể biết được trong tráp đựng một thứ gì đấy quý hơn là những  giấy tờ công vụ bình thường.

- Ai biết có lá thư này?

- Trong nhà tôi – không một ai.

- Thế nhưng bà nhà cố nhiên biết chứ?

- Không, thưa ông! Trước buổi sáng hôm nay khi không tìm thấy lá thư, tôi không nói gì với nhà tôi cả.

Viên Thủ tướng gật đầu tán đồng.

- Tôi luôn biết ý thức trách nhiệm của ông cao chừng nào! – Ông ta nói – Tôi không nghi ngờ rằng trong công việc cơ mật rất quan trọng này ý thức đó còn mạnh hơn thậm chí ngay cả những mối liên hệ gia đình mật thiết nhất.

Viên Bộ trưởng đặc trách các công việc Châu Âu cúi chào:

- Hoàn toàn đúng sự thật, thưa ông! Trước buổi sáng ngày hôm nay, tôi đã không hề buột miệng nói với nhà tôi lấy một lời về lá thư.

- Bản thân bà nhà liệu có đoán ra không?

- Không, ông Hôm, cô ấy không thể đoán được. Thêm vào đó, không thể có ai đoán được.

- Trước đây các tài liệu ông giữ có bao giờ bị mất không?

- Không, thưa ông.

- Có ai ở nước Anh biết sự tồn tại của lá thư này không?

- Hôm nay tất cả các thành viên của Nội các đã được thông báo về lá thư. Nhưng việc yêu cầu giữ gìn bí mật vốn thường đi kèm với từng phiên họp của Nội các lần này lại được nhấn mạnh bằng lời cảnh cáo nghiêm khắc từ phía ngài Thủ trưởng. Trời ơi! Ai mà nghĩ được rằng chỉ vài giờ sau đó chính tôi đã làm mất nó!

Sự tuyệt vọng đã làm cho khuôn mặt đẹp của Trêlônhi Khốup thay đổi nhiều. Ông vò đầu ân hận. Trong khoảnh khắc hiện ra trước chúng tôi là những tình cảm chân chính của một con người bồng bột, nhiệt thành, gây ấn tượng sâu sắc. Tuy nhiên ngay sau đó cái mặt nạ kiêu kỳ lại hiện lên trên khuôn mặt ông ta. Với giọng nói điềm tĩnh, viên Bộ trưởng tiếp tục:

- Ngoài các thành viên của Nội các còn có hai hoặc ba quan chức của Bộ biết  được sự hiện diện của bức thư. Ngoài họ ra, trong cả nước Anh không còn một ai biết đâu, tôi xin cam đoan với ông như vậy, ông Hôm ạ!

- Thế còn ở nước ngoài?

- Ở nước ngoài tôi cũng tin là không một ai biết lá thư trừ người đã viết nó ra. Tôi dám cả quyết rằng ngay các bộ trưởng của nhà vua cũng không biết… Nghĩa là tôi muốn nói bức thư chuyển bằng con đường chính thức, không có gì đặc biệt cả.

Hôm ngẫm nghĩ ít phút rồi nói:

- Bây giờ, tôi cần nhận những hiểu biết chính xác hơn, cái gì ở đằng sau tài liệu? Vì sao việc làm thất lạc nó lại đem tới những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng?

Hai nhà hoạt động nhà nước nhìn nhau rất nhanh. Ngài Thủ tướng  chau đôi mày rậm rì:

- Ông Hôm ạ! Bức thư nằm trong phong bì màu xanh da trời, dài và đẹp. Dấu đóng trên xi màu đỏ có hình sư tử đang ở tư thế tiến công. Địa chỉ được viết bằng những nét chữ cứng và đậm…

- Những chi tiết này tất nhiên là rất thú vị và quan trọng – Hôm ngắt lời ông ta – Có điều tôi cần biết về nội dung của lá thư kia! Lá thư nói về chuyện gì?

- Đó là một bí mật quốc gia nghiêm trọng nhất. Tôi e không thể trả lời ông được. Hơn nữa, tôi chưa rõ điều ông hỏi cần thiết ở chỗ nào. Nếu bằng sự hỗ trợ của khả năng hiếm thấy như người ta thường nói về ông, thì ông sẽ có thể tìm được chiếc phong bì giống  như sự mô tả của tôi cùng với cái chứa đựng trong đó. Ông sẽ xứng đáng với lòng biết ơn của đất nước mình, và sẽ nhận bất kỳ phần thưởng nào mà khả năng chúng ta cho phép.

Hôm mỉm cười và đứng dậy:

- Tất nhiên tôi hiểu rằng ông thuộc trong số những người bận bịu nhất nước Anh – Anh nói – Nhưng nghề nghiệp khiêm nhường của tôi đã tước mất khá nhiều thời giờ ở tôi. Rất tiếc là trong công việc này tôi không thật hữu ích cho ông, và tôi coi sự tiếp tục trò  chuyện giữa chúng ta là sự tiêu xài thời giờ vô ích.

Viên Thủ tướng nhổm phắt dậy. Trong đôi mắt sâu của ông loé lên ngọn lửa độc địa thường buộc trái tim của ông co rúm lại vì kinh hãi.

- Tôi không quen, thưa ông!… - Ông ta bắt đầu. Tuy nhiên, sau khi tự  trấn tĩnh được rồi, ông lại ngồi xuống.

Chúng tôi ngồi im lặng đến một phút hoặc hơn thế. Sau đó nhà hoạt động nhà nước cao tuổi xiết chặt lấy vai mình và nói:

- Chúng tôi buộc phải chấp nhận điều kiện của ông. Ông Hôm! Ông hoàn toàn đúng. Về phía chúng tôi, thật là vô lý nếu chờ đợi sự giúp đỡ của ông mà chưa tin cậy hẳn vào ông.

- Tôi tán thành với ngài, thưa ngài! – Nhà ngoại giao trẻ tuổi nói.

- Được, tôi sẽ nói cho ông nghe tất cả. Tôi tuyệt đối trông cậy vào lòng trung thành của ông cùng người cộng sự của ông, bác sĩ Oátxơn. Tôi kêu gọi lòng yêu nước ở các ông. Vì tôi không thể tưởng tượng được nỗi bất hạnh nào lớn hơn đối với chúng ta bằng việc tiết lộ bí mật này.

- Ngài có thể hoàn toàn tin cậy vào chúng tôi.

- Chuyện thế này. Đó là bức thư của một quốc vương nước ngoài. Ông ta tỏ ra lo ngại bởi sự mở rộng thuộc địa gần đây của nước ta. Bức thư được viết vào giây phút bực bội, hoàn toàn thuộc về trách nhiệm riêng của ông ta. Sự tìm hiểu tin tức đã chỉ rõ rằng các bộ trưởng của ông không được hay biết gì về lá thư này. Tình cảm của lá thư rất gay gắt, và một vài câu mang tính khiêu khích rõ rệt. Vì vậy, nếu lá thư được công bố, dư luận xã hội của nước Anh tất sẽ xao động, thậm chí hơn thế, thưa ông! Tôi có thể không ngần ngại mà nói rằng chỉ sau sự công bố lá thư một tuần, đất nước chúng ta sẽ bị cuốn hút vào một cuộc chiến tranh có quy mô lớn.

Hôm viết tên một người trên mảnh giấy và đưa cho viên Thủ tướng coi.

- Hoàn toàn đúng! Ông ta đấy! Bức thư có khả năng cuốn theo mình những  chi phí khổng lồ đồng thời là sự huỷ diệt hàng trăm nghìn người. Chính bức thư ấy đã biến đi một cách đầy bí ẩn như vậy.

- Các ngài đã báo tin cho người viết lá thư chưa?

- Báo rồi, thưa ông! Bức thư viết bằng mật mã và đã được chuyển đi.

- Nhưng rất có thể ông ta đã tính đến sự công bố lá thư?

- Không, thưa ông! Chúng tôi có toàn bộ cơ sở để cho rằng ông ấy đã hiểu được tính thiếu thận trọng và sự bồng bột của hành động mình. Việc công bố lá thư đối với ông cũng như đối với đất nước ông là quả đấm còn lớn hơn so với chúng ta.

- Nếu vậy kẻ nào lại có nhu cầu tìm hiểu nội dung của lá thư này? Người ta cần đánh cắp nó để làm gì?

- Ông Hôm, thế là ông buộc tôi phải dùng tới lĩnh vực rộng rãi của tình hình chính trị thế giới. Nếu ông lưu tâm đến tình cảnh châu Âu thì ông sẽ dễ dàng hiểu được nguyên do của tội ác. Châu Âu là một trại lính được vũ trang. Có hai liên minh cân bằng nhau về lực lượng đang tồn tại. Nước Anh thi hành chính sách trung lập. Nếu như chúng ta bị lôi kéo vào một cuộc chiến tranh với một liên minh thì điều đó đảm bảo ưu thế cho liên minh kia. Hơn thế điều này không phụ thuộc vào việc liên minh thứ hai này có tham gia hay không tham gia vào cuộc chiến. Ông có hiểu không?

- Tất cả đều rõ ràng. Vậy là những kẻ thù của đức vua này, những  nước có tham vọng reo rắc mối hiềm khích giữa đất nước của ông ta vối đất nước của chúng ta sẽ quan tâm đến việc lấy cắp và tiết lộ lá thư?

- Đúng vậy, thưa ông!

- Nếu tài liệu rơi vào tay đối phương thì ai có thể chuyển nó đi?

- Bất cứ chính phủ nào ở Châu Âu. Rất có khả năng vào thời điểm này bức thư đang lao đi với tốc độ chỉ có tàu thuỷ mới có khả năng đuổi kịp!

Ông Trêlônhi Khôup đứng cúi đầu với một tâm trạng nặng nề. Viên Thủ tướng nhẹ nhàng đặt tay lên vai ông ta:

- Nỗi bất hạnh đã xảy ra với ông, bạn yêu quý của tôi! Không ai có ý định kết tội ông đâu. Chúng ta sẽ áp dụng mọi biện pháp để phòng ngừa… Bây giờ, ông Hôm ạ, ông là người đã rõ mọi chuyện. Vậy ông khuyên chúng tôi nên bắt đầu làm gì?

Hôm lắc đầu buồn rầu:

- Thưa ngài! Có phải ngài cho rằng nếu tài liệu này không được hoàn lại thì chiến tranh tất yếu sẽ xảy ra?

- Tôi nghĩ chắc chắn như vậy!

- Nếu vậy, thưa ngài, hãy chuẩn bị cuộc chiến đi thôi!

- Đấy là những  lời tàn nhẫn, ông Hôm ạ!

- Hãy chú ý đến sự thật, thưa ngài! Tôi không cho là bức thư bị mất sau mười hai giờ rưỡi đâu. Vì từ lúc ấy cho đến khi phát hiện ra tài liệu bị mất, ông Khôup và phu nhân của ông, cả hai đều ở phòng ngủ. Thế nghĩa là tài liệu bị mất vào tối qua trong khoảng từ bảy giờ rưỡi tới mười hai giờ rưỡi – chắc là gần bảy giờ rưỡi, bởi kẻ cắp khi biết bức thư ở đâu, tất nhiên sẽ gắng đoạt lấy nó sớm nhất. Còn nếu tài liệu quan trọng này bị mất vào hôm    qua thì hiện giờ nó có thể ở đâu? Không có lý do nào để giữ nó ở chỗ kẻ cắp được. Phải nhanh chóng chuyển nó cho người đang quan tâm. Có những cơ hội nào để tóm được hắn hoặc lần ra dấu vết của hắn ở chỗ chúng ta. Đối với chúng ta lá thư là không thể với tới được.

Viên Thủ tướng đứng dậy:

- Ông lập luận rất lôgíc, ông Hôm ạ! Tôi thấy quả thực không nên làm gì ở đây nữa.

- Ví như chúng ta cho rằng tài liệu bị mất bởi người hầu của ông bà Khôup?

- Họ cả hai đều là những gia nhân quen thuộc và đáng tin cẩn.

- Trong chừng mực tôi hiểu là phòng ngủ ở lầu hai và không có lối riêng ăn thòng ra ngoài phố thì không thể trèo lên cửa trước của căn phòng mà không bị để ý. Nghĩa là một người nào đó ở trong nhà đã lấy cắp bức thư. Kẻ cắp có thể chuyển nó cho ai? Chỉ              có thể chuyển cho một trong những điệp viên quốc tế hoặc mật thám mà tôi biết rõ tên của họ. Ba người có thể nói là cầm đầu bọn này. Tôi sẽ bắt đầu từ việc tìm hiểu xem một trong số ba thủ lĩnh trên hiện đang quan tâm đến việc gì. Nếu một người nào đó trong bọn họ ra đi vào chiều hôm qua, chúng ta sẽ biết tài liệu này biến đi đâu.

- Vì sao người đó phải ra đi? – Bộ trưởng đặc trách các công việc châu Âu hỏi - Với một công tích như vây hắn ta có thể mang bức thư tới một đại sứ quán nào đó ở Luân Đôn chứ!

- Tôi không cho như vậy! Các điệp viên này làm việc hoàn toàn không chuyên và thường có những  quan hệ rất căng thẳng với các đại sứ quán.

Viên Thủ tướng gật đầu khẳng định điều đó:

- Tôi nghĩ ông rất có lý, ông Hôm ạ! Hắn sẽ tự tay mình mang món quà giá trị này đến nơi quy định. Kế hoạch hành động của ông tôi cảm thấy tuyệt đối chính xác. Tuy nhiên, ông Kôup ạ, ông đừng vì nỗi bất hạnh này mà quên đi những  trách nhiệm khác của chúng ta. Nếu như vào ngày các sự kiện mới sẽ xảy ra chúng ta kịp báo cho ông Hôm, ông Hôm ạ, thì cố nhiên ông sẽ cho chúng tôi biết những kết quả mà tự ông đã điều tra.

Khi các vị thượng khách của chúng tôi đi khỏi, Hôm bắt đầu im lặng hút thuốc. Thời gian trôi đi. Anh mê mải với những suy tưởng sâu sắc của mình. Tôi giở báo buổi sáng ra bắt đầu đọc về một tội ác gây ấn tượng mạnh xảy ra vào chiều hôm trước. Đột nhiên bạn tôi kêu lên, nhổm phắt dậy và đặt tẩu thuốc lên lò sưởi.

- Đúng – Anh nói – Không có con đường nào tuyệt vời hơn. Tình thế tuyệt vọng thật nhưng chưa hết hy vọng đâu. Bây giờ cần biết ai là kẻ ăn cắp. Vì có thể bức thư còn chưa rời khỏi tay hắn. Suy cho cùng chỉ có tiền mới làm bọn hắn quan tâm. Ngân khố của Britanhi sẽ giúp tôi. Nếu bức thư bán, tôi sẽ mua… Thậm chí nếu Chính phủ buộc phải tăng thuế lợi tức lên từng xu một. Rất có thể người đó còn giữ bức thư. Hắn cần biết ở đây người ta trả giá bao nhiêu trước khi nếm trải hạnh phúc của mình ở nước ngoài. Chỉ ba người có khả năng tham gia vào trò chơi can đảm này: đấy là Obêrstêin, LiaRôchiêrơ và Eđdarxơ Lucaxơ. Tôi sẽ tới thăm bọn họ.

- Tôi liếc nhìn vào tờ báo buổi sáng.

- Eđdarxơ Lucaxơ ở phố Gôđôlphin phải không ?

- Đúng rồi!

- Anh không thể tới thăm ông ta được đâu!

- Tại sao?

- Ông ấy bị giết ngay tại ngôi nhà của mình vào chiều qua.

Người bạn tôi thường làm tôi ngạc nhiên trong thời gian chúng tôi tham gia vào các chuyện mạo hiểm. Do vậy, tôi cảm thấy rất hân hoan khi nhận ra sự thông báo của tôi đã làm anh kinh ngạc đến mức ấy. Anh dán mắt vào tôi với vẻ hoài nghi. Sau đó anh giật  lấy tờ báo từ tay tôi. Đây là tờ báo tôi đã đọc trước lúc Hôm đứng dậy từ ghế của mình. “VỤ GIẾT NGƯỜI Ở VEXTMINX-TÊRƠ:

Chiều qua, tại ngôi nhà số 16 phố Gôđôlphin một tội ác bí mật đã được thực hiện. Phố Gôđôlphin là một trong những phố yên tĩnh cổ kính trải dài giữa dòng sông và tu viện Vextminxtêrơ hầu như nằm dưới bóng chiếc tháp lớn của toà nhà nghị viện. Phần lớn những ngôi nhà ở đây được xây dựng vào thế kỷ XVIII. Ông Eđdarxơ Lucaxơ nổi tiếng trong xã hội như một người dễ mến, một trong những  giọng hát nam cao được ưa chuộng nhất nước Anh. Ông đã sống liên tục nhiều năm liền ở một biệt thự nhỏ nhắn mà trang nhã trên phố đó. Ông Lucaxơ 34 tuổi, chưa lập gia đình. Đầy tớ của ông gồm người quản gia luống tuổi, bà Prinlơ và người hầu Mintôn. Người nội trợ thường không làm vào buổi chiều. Bà ta lên phòng mình ở gác thượng ngôi nhà rất sớm. Còn người hầu vào buổi chiều hôm đó đến thăm một người bạn ở Khamerxmít.

Từ mười giờ, ông Lucaxơ ở một mình trong ngôi nhà. Bây giờ vẫn còn chưa rõ điều gì đã xảy ra vào thời gian này. Thế nhưng lúc mười hai giờ kém mười lăm, ông Bêrêt đi qua  phố Gôđôlphin đã nhận ra cửa ngôi nhà số 16 bị mở toang. Ông ta gõ cửa nhưng không có tiếng trả lời. Sau khi nhìn thấy ánh đèn trong căn phòng đầu tiên, ông bước vào hành lang và gõ cửa một lần nữa. Song đến lần gõ cửa sau vẫn không ai đáp lại ông. Khi đó ông quyết định đẩy cửa bước vào.

Căn phòng thật bừa bộn: tất cả đồ gỗ bị xê dịch về một phía, một chiếc ghế nằm lỏng chỏng ở ngay giữa nhà. Người chủ bất hạnh của ngôi nhà nằm cạnh chiếc ghế này tay bị hai chân khép lại. Ông đã bị giết bằng một nhát dao xuyên thẳng vào tim, có lẽ ông mới chết. Con dao mà kẻ giết người đã sử dụng hoá ra là con dao găm Ấn độ cong queo được lấy từ bộ sưu tập vũ khí phương Đông trang trí trên một bức tường của căn phòng. Vụ giết người được tiến hành không phải với mục đích cướp của bởi toàn bộ đồ đạc trong nhà vẫn còn nguyên  vẹn.

Ông Eđdarxơ Lucaxơ là một người danh tiếng biết dường nào! Việc thông báo về cái chết bí ẩn, tức tưởi của ông đã gây ra nỗi đau xót chân tình ở nhiều thân hữu của ông”.

- Này Oátxơn! Anh nghĩ gì về chuyện này? – Sau phút im lặng kéo dài, Hôm hỏi.

- Một sự trùng hợp kỳ lạ!

- Sự trùng hợp ư? Một trong số ba người mà chúng ta coi là có khả năng tham dự vào tấn bi kịch này đã bị chết một cách cưỡng bức chính vào lúc tấn bi kịch hiện ra. Thật là một sự trùng hợp kỳ lạ biết nhường nào! Không, không, Oátxơn yêu quý của tôi ạ, hai sự việc này liên quan với nhau, chắc chắn liên quan với nhau. Nhiệm vụ của chúng ta là lần ra mối liên hệ này.

- Nhưng rồi cảnh binh sẽ biết tất cả.

- Hoàn toàn không. Họ chỉ biết cái gì mà mọi người điều biết ở phố Gôđôlphin thôi! Chỉ có chúng ta mới rõ cả hai trường hợp và chỉ có chúng ta mới có thể so sánh chúng với nhau. Có một điểm rõ rệt mà trong bất kỳ trường hợp nào cũng đều kích động mối ngờ vực của tôi đối với Lucaxơ. Phố Gôđôlphin nằm cạnh Uaitkhôn – Teraxơ, chỉ mất vài bước đi bộ. Những điệp viên khác mà tôi đã nói sống ở cuối Vextơ – Enđa. Cho nên, tự nhiên Lucaxơ thiết lập mối liên hệ và nhận được tin tức từ nhà viên Bộ trưởng đặc trách các công việc châu Âu dễ dàng hơn những người còn lại. Đây là điểm nhỏ thôi, nhưng tính đến sự triển khai với tốc độ nhanh như thế của các sự kiện thì nó có thể thành điểm chủ yếu. A! Lại có điều gì mơi chăng!

Bà Hơđơn xuất hiện mang chiếc khay trên có một tấm danh thiếp phụ nữ. Hôm  nhìn bà, nhíu lông mày và chuyển cho tôi.

- Hãy đề nghị bà Khiđa Trêlônhi Khốup đến đây! – Anh nói.

Chỉ khoảnh khắc sau, một vinh hạnh  nữa đã đến với căn hộ khiêm nhường của chúng tôi do sự viếng thăm của một phụ nữ có sức quyến rũ nhất Luân Đôn. Tôi thường nghe nói về vẻ đẹp của người con gái út công tước Benmixtêrơ, nhưng không một sự mô tả nào, không một bức ảnh nào có thể truyền đạt được vẻ đẹp duyên dáng lạ lùng cùng sắc đẹp mỹ miều của khuôn mặt cân đối ở bà. Tuy nhiên vào buổi sáng mùa thu này, vẻ đẹp của bà có gì khang khác. Khuôn mặt bà vẫn tuyệt vời, nhưng xanh xao và xúc động, đôi mắt bà vẫn lấp lánh, nhưng ánh mắt đỏ như đang lên cơn sốt. Cái miệng tình tứ khép chặt lại – Bà đang gắng tự trấn tĩnh. Đó là nỗi kinh hoàng chứ không phải vẻ đẹp. Chúng tôi ngạc nhiên khi người khách có sức cuốn hút mê hồn xuất hiện sau cánh cửa mở sẵn.

- Nhà tôi đã ở chỗ ông phải không, ông Hôm?

- Vâng.

- Ông Hôm, tôi van ông là đừng nói cho nhà tôi biết là tôi đã đến đây!

Hôm cúi chào lạnh nhạt và mời bà ngồi xuống.

- Vẻ lộng lẫy của bà đặt tôi vào một tình huống rất khó xử. Mời bà ngồi xuống đây và kể cho tôi được biết bà cần gì. Song đáng tiếc là tôi không thể đem lại những lời hứa chắc chắn sớm hơn được đâu!

Bà ta đi qua căn phòng, ngồi quay lưng ra cửa sổ. Đó đúng là một nữ hoàng thật sự - thanh mảnh, yêu kiều và rất thuỳ mị.

- Ông Hôm ạ! – Bà bắt đầu và khi nói, đôi tay trong bộ găng màu trắng của bà thường nắm lại rồi buông ra – Tôi sẽ cởi mở với ông và hy vọng là điều đó sẽ khiến ông cũng phải cởi mở với tôi. Giữa tôi và nhà tôi không có một bí mật nào cả trừ lĩnh vực chính trị. Trong lĩnh vực này nhà tôi lặng thinh, anh ấy không thổ lộ cho tôi bất cứ chuyện gì. Tuy nhiên, tôi biết là chiều qua ở nhà chúng tôi có một cái gì đó thật không thoải mái đã xảy ra. Tôi được rõ một tài liệu nào đó đã bị thất lạc. Nhưng vì ở đây đụng đến vấn đề chính trị nên nhà tôi đã từ chối giãi bày với tôi. Bởi vì rất trầm trọng… hãy tin là rất trầm trọng… nếu để tôi biết tất cả về chuyện này. Ngoài các thành viên của Chính phủ, ông là người duy nhất biết rõ sự việc. Tôi van ông, ông Hôm, hãy giải thích cho tôi biết cái gì đã xảy ra và hậu quả sẽ như thế nào? Hãy kể cho tôi nghe tất cả, ông Hôm! Dầu sao những  yêu cầu ở người khách hàng của ông không buộc ông phải im lặng. Tôi cam đoan với ông là tôi hành động vì những lợi ích của nhà tôi và nếu anh ấy hiểu điều đó thì có lẽ nhà tôi sẽ tin cậy hoàn toàn vào tôi. Cái gì ở đằng sau tài liệu bị đánh cắp vậy?

- Bà đã đòi hỏi ở tôi cái điều ngoài khả năng của tôi.

Bà ta thở dài rồi lấy tay ôm mặt.

- Bà cần hiểu tôi hơn, bà Khốup ạ! Nếu ông nhà nhận thấy tốt hơn cả là không cho bà biết việc này thì bà hãy hứa giữ bí mật mà ông muốn che giấu. Thậm chí bà không có quyền hỏi tôi – bà cần hỏi chồng bà.

- Tôi đã hỏi anh ấy. Tôi đồng thời đến gặp ông để gắng lợi dụng khả năng cuối cùng. Thôi, nếu ông không muốn nói một điều gì xác định thì xin ông gia ơn trả lời tôi một câu hỏi.

- Câu hỏi thế nào?

- Vì trường hợp này, con đường chính trị của chồng tôi có bị tổn thất không?

- Như bà thấy đấy, bà Khốup ạ, nếu công việc không được thu xếp ổn thoả thì hiển nhiên nó có thể dẫn tới hậu quả rất đáng tiếc.

- Ôi!

Bà ta thở dài như người mang một nỗi băn khoăn giờ mới được giải đáp.

- Còn một câu hỏi nữa, ông Hôm. Từ những lời nói của nhà tôi thốt lên ngay sau khi nỗi bất hạnh vừa xảy ra, tôi hiểu rằng sự thất lạc bức thư có thể đưa đến những hậu quả nghiêm trọng đối với cả nước.

- Ông nhà đã nói như thế thì tất nhiên tôi sẽ không bắt đầu bằng việc phủ định điều đó.

- Thế nhưng, những  hậu quả có thể có ấy như thế nào?

- Ôi! Bà Khốup, bà lại đặt ra cho tôi một câu hỏi khiến tôi không đủ sức trả lời nữa rồi!

- Nếu thế, tôi sẽ không làm phí thời gian của ông thêm nữa. Tôi không thể trách cứ ông với lý do là ông đã không cởi mở với tôi, ông Hôm ạ! Tôi hy vọng ông sẽ không nghĩ xấu về tôi bởi vì tôi thực lòng mong muốn chia sẻ sự quan tâm của chồng tôi thậm chí ngoài ý muốn của anh ấy. Một lần nữa yêu cầu ông đừng nói với nhà tôi về cuộc viếng thăm này của tôi.

Đến ngưỡng cửa, bà ngoảnh đầu lại và một lần nữa tôi nhìn thấy khuôn mặt đẹp, xúc động, đôi mắt lo sợ và cái miệng xinh xắn mím chặt lại. Sau đó bà biến mất.

- Này, Oátxơn! Phái đẹp là một phần cuộc đời anh - Hôm vừa cười vừa nói khi cánh  cửa chính được đóng mạnh lại và tiếng sột soạt của váy phụ nữ đã im bặt - Người đàn bà xinh đẹp này đang điều khiển trò chơi nào vậy? Bà ta cần gì ở công việc này? Bà giải thích mọi chuyện đều rất rõ, vì vậy sự lo ngại của bà là hoàn toàn tự nhiên.

- Này, hãy nhớ lại sự biểu lộ khuôn mặt của bà ta – nỗi lo sợ được kiềm chế rất khó nhọc. Sự mất bình tĩnh và lòng kiên nhẫn đặt ra những câu hỏi. Đừng quên là bà ta thuộc trong số những  người biết che đậy những  cảm xúc của mình.

- Đúng, bà ấy rất lo lắng.

- Đồng thời hãy nhớ là bà đã cố gắng thuyết phục chúng ta một cách nhiệt thành rằng bà ta hành động chỉ xuất phát từ lợi ích của chồng mình, và vì vậy bà ta cần biết hết thảy mọi chuyện. Qua việc đó bà ta muốn nói gì? Có lẽ anh cũng nhận ra là bà ta đã cố ý ngồi xoay lưng về phía ánh sáng. Bà không muốn để chúng ta nhìn thấy mặt bà.

- Đúng vậy, bà ấy ngồi chính chỗ này.

- Nói chung, đàn bà thật khó hiểu. Anh hãy nhớ đến điều đã khiến tôi ngờ vực ở Margâytơ chính trên cơ sở này. Sau đấy hoá ra việc không có bụi phấn về sau này đã là nguyên nhân lo ngại của bà. Có thể thiết lập những  giả thiết trên một tài liệu chưa chính xác như thế được không? Rất nhiều điều có thể được che đậy ở đằng sau hành vi bình thường nhất của người đàn bà, và đôi khi sự luống cuống của họ chỉ tuỳ thuộc vào cái trâm hoặc cái kẹp tóc… Chào Oátxơn  nhé!

- Anh đi à?

- Vâng. Tôi sẽ dùng cả buổi sáng hôm nay ở phố Gôđôlphin để cùng làm việc với những  người bạn của chúng ta từ Sở Cảnh binh tới. Việc giải quyết vấn đề của chúng ta là ở trong vụ giết Lucaxơ, mặc dầu tôi xin thú nhận là chưa thể đưa ra cách thức giải quyết như thế nào. Sáng tạo một lý thuyết khi chưa có các dữ liệu là một sai lầm lớn. Hãy cẩn trọng, Oátxơn yêu quý ạ! Và hãy tiếp khách thay tôi đấy! Tôi sẽ trở về ăn sáng nếu thu được kết quả.

Suốt hôm đó và hai ngày tiếp theo, Hôm kiên trì im lặng như những bạn bè của anh và âu sầu như những  người còn lại. Anh đi rồi lại về, hút thuốc triền miên, kéo viôlông với những giai điệu du dương nào đó, hay trầm ngâm suy nghĩ, ăn bánh xănguých bất kỳ lúc nào và trả lời không chút hứng thú trước những câu hỏi mà đôi khi tôi đặt ra với anh. Tôi hiểu sự tìm kiếm của anh còn chưa đem lại kết quả. Anh không hề kể cho tôi nghe điều gì về công việc này. Chỉ qua báo chí tôi mới biết về quá trình điều tra, việc bắt giữ rồi thả ra một cách nhanh chóng Đjiôn Mitôn, gia nhân của người quá cố.

Việc điều tra đã xác minh đây là vụ giết người có chủ tâm từ trước. Thế nhưng, phạm nhân thì vẫn chưa được tìm ra. Sự giải thích những nguyên do của tội ác cũng vẫn chưa được làm sáng tỏ. Trong phòng có nhiều vật dụng giá trị, thế mà không một thứ nào bị mất. Giấy tờ của người quá cố không bị đụng đến. Người ta xem xét chúng tỉ mỉ và xác nhận: người quá cố rất quan tâm đến tình hình chính trị thế giới, kiên trì sưu tầm bất kỳ tin đồn đại hoặc chuyện ngồi lê đôi mách nào. Ông là một nhà ngôn ngữ học kiệt xuất, có phạm vi giao dịch thư từ rất rộng rãi. Ông quen biết những nhà hoạt động chính trị danh tiếng của một vài nước. Có điều, trong các tài liệu chất đầy ngăn bàn của ông, không tìm thấy cái gì đáng quan tâm. Điều gì đụng chạm tới những mối quan hệ của ông với những người phụ nữ mà rõ ràng quan hệ của ông với họ chỉ có vẻ thoải mái và hời hợt? Đối với những  phụ nữ này ông quen nhiều nhưng ít người trở nên thân thiết với ông, và nhất là ông không yêu một ai trong số họ. Ông có những thói quen sinh hoạt ổn định và nếp sống của ông khá bình lặng. Cái chết của ông còn là một câu hỏi bí ẩn chưa có lời giải đáp. Điều gì liên quan tới người hầu Đjiôn Mitôn mà cảnh binh đã bắt anh do nỗi tuyệt vọng nhằm che đậy sự bất lực hoàn toàn của mình. Để chống lại anh, người ta không thể dẫn ra một sự kết tội nào được. Vào chiều hôm đó, anh đi thăm bạn bè mình ở Khamêxtêxơ. Tình trạng ngoại phạm đã rõ rệt. Thật ra anh ta đã quay về nhà từ sớm và có thể đến Vextminxtêrơ trước khi tội ác được phanh phui. Song anh giải thích là một phần đoạn đường anh đã đi bộ. Điều này có thể tin được nếu nhớ lại buổi chiều hôm ấy là một buổi chiều tuyệt đẹp như thế nào. Anh ta về tới nhà lúc mười hai giờ. Rõ ràng anh đã thực sự xúc động trước tấm thảm kịch bất ngờ. Đjiôn Mitôn  luôn có quan hệ thân tình với chủ nhà. Một vài vật dụng của người quá cố – ví như hộp dao cạo râu – được tìm thấy trong valy của người hầu, nhưng anh nói rõ đấy là những món quà của ông chủ cho anh. Bà nội trợ Prinlơ cũng khẳng định điều này. Mitôn phục vụ trong nhà Lucaxơ được ba năm. Đáng lưu ý là Lucaxơ không bao giờ cho Mitôn cùng đi với mình ra nước ngoài. Đôi khi ông sống liên tục ở Pari ba tháng ròng, thế mà để Mitôn ở lại phố Gôđôlphin trông nom nhà cửa.

Điều gì quan hệ tới bà nội trợ Prinlơ khi vào chiều hôm diễn ra tội ác. Bà đã không nghe thấy gì cả. Nếu ông chủ có người đến thăm thì hiển nhiên ông ta đã đưa người đó vào nhà.

Vậy là cứ suy xét theo báo chí thì đã ba ngày rồi bí mật vẫn chưa được tháo gỡ. Hôm mặc dầu có biết nhiều hơn báo chí vẫn không kể cho tôi nghe điều gì cả. Chỉ có một lần, nhân câu chuyện hàng ngày, anh có nhận xét là điều tra viên Lextrâyđơ đã đưa anh vào thực chất của vấn đề. Do vậy tôi hiểu anh đã nắm bắt được mọi tin tức mới một cách sáng tỏ. Bước sang ngày thứ tư có một bức điện dài từ Pari chuyển đến. Tờ báo lớn “Trung tâm điện tín Zêli” viết: “Cảnh binh Pari đã vén bức màn bí mật về cái chết bi thảm của ông Eđuartơ Lucaxơ, người bị chết một cách ép buộc vào chiều thứ hai vừa qua tại phố Gôđôlphin ở Vertminxtêxơ. Bạn đọc chúng ta còn nhớ rằng thi thể của ông được phát hiện ra trong căn phòng của mình cùng với con dao găm trên ngực, rằng mối ngờ vực đã đổ xuống đầu người hầu  phòng và anh ta đã chứng minh được tình trạng ngoại phạm của bản thân. Hôm qua gia nhân của bà Anri Phurnhe, người đang sống ở Pari trên phố Auxtêrlixơ, đã nói rõ với cảnh binh là bà chủ của họ bị điên. Sự khám nghiệm y học đã chứng tỏ rằng bà ta thực sự mắc phải bệnh mất trí kinh niên rất nguy hiểm. Trong lúc điều tra, cảnh binh xác minh là vào thứ ba vừa qua bà đã trở về sau chuyến đi tới Luân Đôn. Có nhiều cơ sở cho rằng chuyến đi này liên quan như thế nào đấy với tội ác ở Vertminxtêxơ. Sự đối chiếu các bức ảnh cho phép khẳng định chồng bà Anri Phurnhe và ông Eđuartơ Lucaxơ chỉ là một người, và người quá cố không rõ vì một nguyên do nào đó đã sống hai cuộc đời ở Luân Đôn và ở Pari. Bà Phurnhe xuất thân trong một gia đình theo chủ nghĩa thực dân, có tính rất hay cáu bẳn. Bà mắc chứng động kinh và do vậy không hoàn toàn làm chủ được hành vi của mình. Chính vào thời gian của một trong những cơn động kinh như thế, như người ta dự đoán, bà đã gây ra một tội ác khủng khiếp làm xáo động cả Luân Đôn. Đến giờ vẫn chưa rõ bà đã làm gì vào chiều thứ hai, tuy nhiên rõ ràng vào sáng thứ ba có một người đàn bà giống bà ta đã hướng sự chú ý tới những người trên sân ga Trêrinkrôxxơ với vẻ rồ dại và những hành vi quái đản. Cho nên, rất có thể tội ác hoặc do bà ta gây ra trong cơn điên loạn, hoặc đã tác động đến người đàn bà bất hạnh này khiến bà ta bị mất trí. Đến giờ bà vẫn chưa thể kể về những gì đã diễn ra. Các bác sĩ vẫn chưa bày tỏ niềm hy vọng về sự hồi phục khả năng trí tụê ở bà. Có nhiều tin tức cho hay rằng vào chiều thứ hai, một người đàn bà nào đó, có thể là bà Phurnhe, đã đứng cạnh ngôi nhà trên phố Gôđôlphin chừng vài tiếng đồng hồ…”. Anh nghĩ gì về tin này, Hôm?

Tôi đọc bức điện thành tiếng cho anh nghe khi anh bắt đầu kết thúc bữa ăn sáng của mình.

- Oátxơn  yêu quý của tôi! – Anh rời khỏi bàn ăn và đi đi lại lại trong phòng – Anh là người kiên nhẫn vô cùng. Ba ngày vừa rồi tôi chưa kể điều gì cho anh nghe chỉ bởi vì không có gì để mà kể. Ngay bây giờ các tin tức từ Pari vẫn giúp chúng ta quá ít ỏi.

- Thế nhưng, vấn đề cái chết của người ấy hiện giờ đã hoàn toàn được soi tỏ.

- Cái chết của con người ấy chỉ là phần đơn giản, là bộ phận nhỏ nhoi so với nhiệm vụ thực tế của chúng ta. Nhiệm vụ này ở chỗ phải tìm được bức thư và cứu châu Âu khỏi thảm hoạ chiến tranh. Trong ba ngày vừa qua, chỉ có một sự kiện đáng lưu ý đã xảy ra là chưa có cái gì xảy ra cả. Tôi nhận được tin tức từ Chính phủ hầu như từng giờ và tôi được biết khắp châu Âu chưa ở đâu có dấu hiệu bất an. Lẽ nào bức thư đã bị thất lạc… Nếu nó chưa bị thất lạc thì hiện giờ nó ở đâu? Ở chỗ ai? Tại sao người ta lại cất giữ nó? Đó là vấn đề đang đập mạnh vào bộ não của tôi. Phải chăng Lucaxơ bị giết đúng vào buổi chiều lá thư bị mất là sự trùng hợp vô tình? Nói chung bức thư có ở chỗ ông ta hay không? Nếu có thì vì lẽ gì lại không tìm thấy nó trong đống giấy tờ của ông ta? Người vợ mất trí của Lucaxơ tại sao lại không mang nó theo mình? Nếu bà ta mang lá thư đi thì vì lẽ gì nó không ở chỗ bà ta tại Pari? Tôi có thể tìm nó ở đấy mà không làm cho cảnh binh Pháp nghi hoặc được chăng? Trong công việc này, Oátxơn ạ, chỗ nào tính hợp pháp gây nguy hiểm đối với chúng ta thì chẳng khác gì ta vi phạm nó. Tất cả đều chống lại chúng ta, song sự ưa thích mạo hiểm là vô cùng tận. Nếu như tôi thành công trong việc thực hiện công việc này thì cố nhiên nghề nghiệp của tôi sẽ được kết thúc một cách hiển hách… À đây rồi! Các tin tức mới nhất từ những cảnh binh tiên  phong! – Anh liếc nhanh vào mẩu thư chuyển cho anh – A ha! Hình như Lextrâyđơ đã tìm ra một điều thú vị nào đó. Hãy đội mũ vào, Oátxơn, chúng ta cùng đi đến Vextminxtêrơ!

Trước tiên, chúng tôi nhận ra nơi vụ giết người đã xảy ra. Đó là ngôi nhà cao, mặt tiền hẹp, trông không thật đẹp cho lắm. Vẻ uy nghi, bề thế trang trọng của ngôi nhà khiến ta nhớ lại thế kỷ trước đây lúc nó được xây cất lên.

Khuôn mặt Lextrâyđơ lấp ló qua cửa sổ. Người giúp việc mở cửa ra và điều tra viên thân mật chào chúng tôi.

Căn phòng chúng tôi bước vào chính là nơi Lucaxơ bị giết, có điều giờ đây dấu tích của tội ác không còn nữa ngoài vết nhơ xù lên kinh tởm trên tấm thảm. Chiếc thảm là một mảnh vuông nhỏ được làm bằng thứ nỉ dày cộp. Bao quanh nó là một không gian khá rộng của những phiến gỗ hình vuông cũ và đẹp được đánh bóng nhoáng dùng để lát nền nhà. Bộ sưu tập vũ khí nổi tiếng treo lơ lửng trên lò sưởi. Một con dao găm được rút ra từ đó vào buổi chiều bi thảm  ấy. Mỗi đồ vật trong căn phòng - các bức tranh, tấm thảm và những  chai la-ve… đều chưng tỏ một thị hiếu tinh tế đến cầu kỳ của chủ nhà.

- Ông đã được nghe những tin tức mới từ Pari chưa? - Lextrâyđơ hỏi.

Hôm gật đầu khẳng định.

- Lần này các bạn Pháp của chúng ta đã nói trúng cái điều cần thiết. Vụ giết người tất nhiên đã diễn ra đúng như họ trình bày. Bà ấy gõ cửa – thật là một cuộc viếng thăm bất ngờ, tôi nghi như thế bởi vì không còn một ai ở chỗ ông ta. Ông đưa bà vào nhà – cố nhiên không thể giữ bà ở trên đường phố! Bà ấy đã kể cho ông ta nghe là đã tìm thấy ông như thế nào rồi mắng xa xả vào mặt ông. Sau đấy, nhân có một con dao găm trong tay, bà nhanh chóng đi đến kết thúc. Mọi chuyện diễn ra hẳn nhiên không phải ngay một lúc và tất cả ghế được chất thành đống. Một chiếc ghế trong tay ông ta, hình như ông có mưu toan dùng chiếc ghế này để tự vệ – chúng tôi hình dung tất cả những điều nói trên rõ rệt đến mức dường như chính chúng tôi là những người được chứng kiến!

Hôm nhướng đôi lông mày:

- Ông chuyển cái gì cho tôi đấy?

- Ô đây là chuyện khác, một chuyện vặt vãnh ấy mà, nhưng ông sẽ quan tâm một cái gì đó từ chúng. Ông biết không, một chuyện đáng khả nghi, và rồi ông sẽ gọi nó là điều lạ lùng! Mới nhìn thì nó không có điểm gì trùng với công việc này cả.

- Chuyện gì vậy?

- Như ông biết đấy, sau khi tội ác được phát hiện, chúng tôi trông coi cẩn thận để tất cả đồ đạc được giữ nguyên như cũ. Không có thứ gì bị đụng đến. Suốt ngày suốt đêm cảnh binh thay nhau trực ở căn phòng. Buổi sáng hôm nay, sau khi người chết đã được mai táng và sự khảo sát căn phòng này đã bắt đầu kết thúc, chúng tôi quyết định thu dọn đồ đạc trong phòng cho ngăn nắp một chút… Và tấm thảm này. Ông thấy đấy, nó không được dính chặt xuống nền nhà mà chỉ đặt sơ sài trên đó. Vô tình chúng tôi nâng nó lên và tìm thấy…

- Thế à? Tìm thấy gì vậy?

Sự quan tâm hiếm có hiện rõ trên khuôn mặt Hôm.

- Ô! Ô! Tôi dám nói là phải hàng trăm năm sau ông vẫn không thể đoán được chúng tôi đã phát hiện ra cái gì đâu! Ông có nhận ra vết bẩn trên tấm thảm này không? Quả thật phải có một lượng máu đáng kể mới thấm qua nổi tấm thảm. Không đúng vậy sao?

- Cố nhiên.

- Hãy hình dung rằng trên sàn ghép ván bóng loáng ở chỗ này không hề có dấu vết nào.

- Không có dấu vết? Nhưng nó cần phải có chứ!

- Đúng như ông nghĩ. Vậy mà ở đó lại không có.

Ông ta khẽ nâng rìa tấm thảm lên. Và chúng tôi nhận thấy đúng là như thế.

- Thế nhưng mặt dưới của tấm thảm cũng bị vấy bẩn như mặt trên của nó. Phải có một mặt nào đó lưu lại dấu vết trên sàn nhà!

Nhận thấy vẻ ngạc nhiên của người chuyên gia nổi tiếng, Lextrâyđơ cười hì hì vì khoái trá.

- Này, bây giờ tôi giải thích cho ông rõ thực chất của sự việc ra sao. Vết nhơ  thứ hai cũng tồn tại nhưng nó không trùng lên vết nhơ thứ nhất. Hãy tận mắt nhìn coi!

 Đồng thời với những lời nói ấy, ông ta khẽ lật phía khác của tấm thảm lên. Quả thật trên những ô vuông sáng bóng của chiếc sàn ghép gần phía cánh cửa cũ kỹ chúng tôi nhìn thấy một vệt đỏ thẫm loang lỗ.

- Ông sẽ nói gì về điều này, ông Hôm?

- Ở đây mọi chuyện thật đơn giản. Hai vết nhơ vốn hoàn toàn trùng lên nhau. Nhưng tấm thảm đã bị lật trở lại. Vì rằng tấm thảm hình vuông và không được ghim chặt xuống nền nhà nên thật dễ dàng làm chuyện đó.

- Ông Hôm, cảnh binh không cần giải thích rằng tấm thảm đã bị lật lại. Chuyện đó là hoàn toàn hiển nhiên: nếu đặt tấm thảm nguyên như thế, nhưng vết bẩn buộc phải chồng lên nhau. Còn tôi xin hỏi ông: ai đã lật tấm thảm lên? Và người ấy lật lên để làm gì?

Theo khuôn mặt bất động của Hôm, tôi nhận thấy rằng anh đang khó khăn kiềm chế nỗi xúc động xâm chiếm lấy mình.

- Xin hãy nghe đây, Lextrâyđơ! – Anh nói – Người cảnh binh ở hành lang luôn trực ở đây chứ?

- Vâng.

- Tôi khuyên ông thế này vậy: hãy tra hỏi hắn đến nơi đến chốn. Nhưng chúng tôi sẽ không chứng kiến. Chúng tôi chờ ở đây. Hãy tra hỏi hắn ở phòng khác. Mặt đối mặt với ông, hắn sẽ tự thú nhận nhanh hơn. Hãy hỏi là sao hắn dám cả gan cho người vào và để người ấy ở lại một mình trong phòng này. Chớ có hỏi là hắn có làm việc đó không. Hãy nói rằng điều đó không đòi hỏi bằng cớ. Hãy nói với hắn là ông đã biết rõ có một người nào đấy hiện diện ở đây. Hãy đe doạ hắn. Hãy nói rằng chỉ sự thú nhận trung thực mới có thể giúp hắn chuộc lỗi lầm của mình. Hãy làm mọi việc như tôi vừa nói đi!

- Tôi thề là tôi sẽ ép hắn đến cùng nếu quả thực hắn biết một điều gì đó! - Lextrâyđơ  thốt lên.

Ông ta chạy vào phòng bên cạnh. Chỉ sau một phút chúng tôi đã nghe thấy tiếng quát tháo ầm ĩ ở đó.

- Mau lên, Oátxơn, mau lên! – Hôm cuống quýt, người anh run lên vì nóng ruột.

Tất cả sức lực siêu nhiên được che đậy bằng vẻ lãnh đạm bên ngoài đột ngột bùng lên dữ dội. Anh lật tấm thảm lên. Và sau khi quỳ xuống anh bắt đầu lần từng ô vuông gỗ lát sàn dưới chân mình. Một ô vuông đã văng ra lúc anh đụng phải. Đó là một nắp hộp nhỏ, phía dưới có một lỗ tối om. Không kiềm  chế nổi, Hôm thọc tay vào đó. Thế nhưng, sau khi lôi bật chiếc hộp ra, anh bắt đầu rên lên vì buồn bực và thất vọng chua chát: chiếc hộp rỗng không.

- Nhanh hơn nữa, Oátxơn! Nhanh hơn nữa lên! Hãy đặt nó vào chỗ cũ!

Chúng tôi vừa kịp giấu chiếc hộp và đặt tấm thảm lên thì đã nghe thấy giọng của Lextrâyđơ ở ngoài hành lang vọng vào. Khi ông ta bước vào, Hôm đã đứng tựa vào lò sưởi với vẻ ngạo mạn phớt đời. Mặt anh trông buồn rầu và thiểu não, khó nhọc lắm anh mới kiềm chế được cái ngáp dài không cưỡng nổi.

- Xin lỗi, không biết điều gì đã giữ chân ông ở lại đây, ông Hôm! Tôi thấy tất cả những chuyện này đã làm ông ngán đến tận cổ rồi! Cuối cùng hắn phải thú nhận! Vào đi, Mác Pherxôn! Rồi các ngài đây cũng sẽ biết cái hành vi không thể dung thứ ấy của ông.

Len lén bước vào cạnh căn phòng là người thanh tra có vóc người to lớn, mặt đỏ lựng.

- Tôi xin cam đoan với ông là không hề có một ý nghĩ xấu xa nào trong tôi cả. Chiều qua, một người đàn bà trẻ tuổi rẽ vào đây. Bà ta nói là bị lầm nhà. Chúng tôi có trò chuyện với nhau một chốc lát. Vì suốt ngày đứng một mình ở đây quả có buồn thật…

- Được rồi! Vậy chuyện gì đã xảy ra?

- Bà ta muốn coi tận nơi vụ giết người mà bà ta có dịp đọc trên báo đã xảy ra. Đó là một người đàn bà trẻ, đứng đắn, thưa ông! Bà ta đã nói rõ ra như thế. Tôi chợt nghĩ rằng sẽ không có gì xấu xa, nếu tôi đưa bà ấy vào coi một chút. Nhưng sau khi trông thấy vết bẩn trên tấm thảm, bà ta đã khuỵu ngã xuống nền nhà và nằm bất động như người chết. Tôi chạy bổ vào bếp, mang nước lại, thế nhưng vẫn không có thể làm sao cho bà ấy tỉnh lại được. Vậy là tôi chạy tới tửu quán “Nhánh trường xuân” ở góc phố mua một chai cônhắc. Tuy nhiên, lúc tôi bước vào phòng thì người đàn bà trẻ tuổi đã tỉnh dậy và đi ra… Có lẽ bà mắc cỡ khi gặp tôi.

- Thế không có ai đụng vào tấm thảm chứ?

- Khi tôi quay lại, thưa ông, tấm thảm có bị xê dịch chút xíu, bởi vì bà ta ngã lên nó mà! Thêm vào đó, tấm thảm lại không được đóng chặt xuống nền nhà. Sau đấy, tôi có làm cho nó ngay ngắn trở lại.

- Đó là bài học cho ông đấy! Thanh tra viên Mác Pherxôn, ông đã không lừa nổi tôi - Lextrâyđơ nói với vẻ quan trọng – Chắc ông nghĩ rằng điều vi phạm kỷ luật này sẽ không bị phát hiện ra. Thế mà tôi chỉ cần ném một cái nhìn vào tấm thảm là tôi lập tức hiểu rằng đã có một ai đó rẽ vào căn phòng này. Thật may cho ông, ông bạn ạ, là đã không mất gì cả. Còn điều đó buộc ông phải mang tiếng xấu thôi! Ông Hôm, rất tiếc là tôi đã gọi ông tới đây vì cái trò nhảm nhí này. Thế nhưng tôi cho rằng cái vết nhơ thứ hai, cái vết nhơ không trùng lên vết nhơ thứ nhất sẽ khiến ông thích thú.

- Cố  nhiên điều đó rất thú vị… Ông thanh tra, người đàn bà ấy rẽ vào đây chỉ một lần thôi sao?

- Vâng, chỉ một lần, thưa ông!

- Tên bà ta là gì?

- Tôi không biết, thưa ông. Bà ta nói là đi tìm việc để đánh máy nhưng nhầm số nhà. Bà cư xử rất lich thiệp và thoải mái, thưa ông.

- Bà ấy có cao không? Có đẹp không?

- Vâng, thưa ông! Bà ta hơi cao. Cũng có thể nói là bà ta đẹp, thậm chí rất đẹp. “Ôi! Ông sĩ quan, hãy cho phép tôi liếc nhìn chút xíu thôi!” – Bà ta nói. Phong thái bà dễ coi và dễ thương như thế nên tôi nghĩ rằng sẽ không có nỗi bất hạnh lớn nào nếu tôi cho phép bà ghé mắt nhìn qua cửa.

- Bà ấy ăn mặc ra sao?

- Rất đơn giản: áo choàng dài phủ đến tận gót, thưa ông.

- Chuyện đó xảy ra lúc mấy giờ?

- Lúc nhọ mặt  người. Đèn phố được bật sáng khi tôi từ tửu quán quay trở lại.

- Rất tốt! – Hôm nói – Ta đi thôi, Oátxơn! Một việc quan trọng đang chờ chúng ta ở một nơi khác.

Chúng tôi bước ra, còn Lextrâyđơ thì ở lại trong phòng. Viên thanh tra chạy ra mở rộng cửa cho chúng tôi với vẻ hoàn toàn hối hận. Hôm quay lại đứng ở ngưỡng cửa, đưa cho Mác Pherxôn coi một cái gì đó. Viên thanh tra chăm chú nhìn.

- Trời ơi, thưa ông! – Ông ta kinh ngạc kêu lên.

Hôm đặt ngón tay lên môi rồi nhét vật đó vào túi trong của mình. Anh cười khanh khách khi chúng tôi bước ra ngoài đường.

- Thật tuyệt vời! – Anh nói –Ta cùng đi nào Oátxơn! Bức màn đang được vén lên, hành động cuối cùng bắt đầu rồi. Anh có thể yên tâm: chiến tranh không thể xảy ra được. Danh vọng chói lọi của huân tước Trêlônhi Kôup sẽ không bị tổn thất. Quốc vương thiếu cẩn trọng kia sẽ không bị trừng phạt vì tính nóng vội của mình. Ngài Thủ tướng sẽ không phải tháo gỡ tình trạng phức tạp ở châu Âu. Chỉ cần đòi hỏi ở chúng ta ít nhiều tính tế nhị và sự mưu trí thì tất cả câu chuyện đe doạ bởi những hậu quả rất nghiêm trọng này sẽ không đáng giá một chinh.

Lòng tôi tràn ngập niềm khâm phục đối với con người đáng khâm phục này.

- Anh đã giải bài toán ấy ra sao? – Tôi hỏi.

- Bây giờ thì chưa, Oátxơn! Còn có đôi điểm chưa thật rõ đâu. Nhưng rất nhiều điểm thì đã rõ. Chỉ tiếc là chưa hiểu hết cả thôi! Chúng ta sẽ đi thẳng tới Uaitkhôn – Têraxơ và sẽ đưa công việc đến kết thúc.

Khi chúng tôi đến nhà viên Bộ trưởng đặc trách các công việc châu Âu, Hôm nói rõ là anh muốn gặp bà Khiđơ Trêlônhi Kôup. Người ta đưa chúng tôi vào phòng khách.

- Ông Hôm! – Bà ta nói, mặt bà ửng hồng lên vì giận dữ - Ông không thật trung thực và cao thượng cho lắm. Tôi đã nói là tôi muốn giữ bí mật chuyến viếng thăm của tôi, kẻo nhà tôi nghĩ rằng tôi nhúng tay vào công việc của anh ấy. Bằng việc đến đây, ông đã làm tổn hại đến thanh danh của tôi, bởi vì điều này chứng tỏ có những quan hệ tồn tại giữa chúng ta.

- Rất tiếc là tôi không có sự chọn lựa nào khác, thưa bà! Người ta uỷ thác cho tôi việc tìm ra tài liệu cực kỳ quan trọng này, nên tôi đề nghị bà chuyển nó cho tôi, thưa bà!

Người đàn bà đứng phắt dậy. Nước da đỏ hồng trên khuôn mặt tuyệt đẹp trong khoảnh khắc tự nhiên biến sắc. Đôi mắt bà mờ đi. Bà ta bắt đầu dao động. Tôi có cảm giác bà sắp ngất xỉu đi. Nhưng không, bà có một nghị lực thật phi thường. Mặt bà đỏ lên vì giận dữ.

- Ông …, ông đã xúc phạm tôi, ông Hôm!

- Xin nghe đây, thưa bà! Điều đó thật vô ích. Hãy đưa bức thư cho tôi!

Bà ta lăng xăng chạy tới máy điện thoại.

- Viên quản lý sẽ đưa tiễn ông.

- Đừng gọi, bà Khinđa! Nếu bà làm như vậy thì mọi ý định chân thành của tôi nhằm giúp bà thoát khỏi vụ tai tiếng này sẽ hoá thành vô ích. Hãy trả lại bức thư cho tôi thì mọi chuyện sẽ được thu xếp ổn thoả. Tôi sẽ giúp bà nếu bà nghe lời tôi. Còn nếu bà không muốn vậy, tôi sẽ cần phải tố giác bà.

Bà ta đứng trước chúng tôi, uy nghi và kiêu hãnh. Anh mắt của bà gặp cái nhìn của Hôm dường như mong nhận ra một điều gì trong trí tuệ của anh. Bà ta không rời tay khỏi máy điện thoại, nhưng cũng không gọi.

- Ông toan dồn nén tôi. Không thật cao thượng đâu, ông Hôm ạ, khi ông tới đây để doạ nạt một người đàn bà! Ông nói là ông biết một điều gì đó, vậy ông biết gì nào?

- Thưa bà, xin bà hãy ngồi xuống! Bà sẽ bị thương nếu bà ngã? Tôi sẽ không nói nếu như bà chưa ngồi. Vâng, xin cảm ơn bà!

- Ông Hôm, tôi cho ông năm phút.

- Chỉ một phút là đủ rồi, bà Khinđa ạ! Tôi biết bà đã ở chỗ Eđuartơ Lucaxơ, đưa cho ông ta tài liệu đó. Tôi cũng biết chiều qua một lần nữa bà khôn khéo lọt vào căn phòng của ông ta lấy lá thư từ chỗ chứa bí mật bên dưới tấm thảm.

Mặt bà Khinđa trở nên tái mét đi như người chết. Bà không dám đưa mắt nhìn Hôm. Hơi thở bà nghẹn lại. Bà không thể mở miệng nói lấy một lời.

- Ông quẫn trí rồi, ông Hôm… Ông quẫn trí thật rồi! – Cuối cùng bà kêu lên.

Anh rút từ túi ra một mảnh các tông nho nhỏ. Đấy là tấm ảnh của người đàn bà.

- Tôi đoạt lấy nó vì tôi cho rằng nó có thể sẽ hữu ích – Anh nói – Cảnh binh đã nhận ra bà.

Bà ta thở dài một cách khó nhọc, và đầu bà ngã xuống lưng ghế.

- Hãy nghe đây, bà Khinđa! Bức thư đang ở chỗ bà nhưng tất cả công vịêc lại có thể  được thu xếp ổn thoả. Tôi không hề có mong muốn làm bà phiền muộn. Trách nhiệm của tôi sẽ chấm dứt khi tôi hoàn lại lá thư đã mất cho ông nhà. Hãy nghe lời khuyên của tôi và hãy cởi mở mọi ý nghĩ với tôi – tất cả những gì có thể cứu giúp bà là ở đấy.

Nghị lực của bà ta thật đáng khâm phục.Thậm chí tại thời điểm ấy, bà vẫn không công nhận sự thất bại của mình.

- Ông Hôm, tôi xin nhắc lại với ông rằng ông đang bị một thứ tưởng tượng mù quáng nào đấy điều khiển.

Hôm đứng dậy khỏi ghế.

- Thật đáng tiếc, bà Khinđa ạ! Vì bà, tôi đã làm tất cả những gì có thể làm được. Hiện giờ tôi thấy điều đó thành vô ích.

Anh bấm chuông, viên quản lý bước vào.

        - Ông Trêlônhi Kôup có ở nhà không?

        - Sau mười lăm phút nữa ngài sẽ có mặt ở nhà, thưa ông.

Hôm liếc nhìn đồng hồ.

- Còn mười lăm phút nữa - Anh nói - Rất tốt, tôi sẽ chờ!

Đúng vào lúc viên quản lý khép cửa lại, bà Khinđa dang rộng hai tay phủ phục xuống chân Hôm. Mặt bà ràn rụa nước mắt.

- Hãy lượng thứ cho tôi, ông Hôm! Hãy lượng thứ cho tôi! - Bà van vỉ trong cơn tuyệt vọng - Lạy trời, ông đừng nói với anh ấy! Tôi yêu anh ấy! Tôi đau lòng nếu gây cho anh ấy nỗi phiền muộn dầu là nhỏ nhoi nhất. Tôi biết điều này sẽ dày vò trái tim cao thượng của anh ấy.

Hôm nâng bà dậy.

- Xin cám ơn bà, thưa bà! Thế là vào thời điểm cuối cùng bà đã nghĩ lại. Không nên mất một giây nào nữa. Bức thư ở đâu?

- Bà ta lao đến bàn giấy, mở khoá và rút ra tấm phong bì dài màu xanh da trời.

- Nó đây, ông Hôm… Tốt hơn cả là đừng khi nào tôi nhìn thấy nó nữa.

- Chúng ta cần hoàn lại nó ra sao đây? - Hôm trầm ngâm suy nghĩ - Mau lên! Mau lên! Cần tìm bất kỳ một lối thoát nào đó!... Cái tráp đựng tài liệu đâu?

- Vẫn trong phòng ngủ.

- Thành công rồi! Mau lên, bà! Hãy để nó vào đấy! Hãy để nó vào đấy!

Một phút sau bà ta xuất hiện trên tay cầm cái tráp dẹt màu đỏ.

- Trước đây bà mở ra bằng cách nào? Bà có chìa khoá thứ hai không? Tất nhiên là có. Hãy mở ra đi!

Bà Khinđa rút ra từ trong người chiếc chìa khoá nhỏ xíu. Tráp được mở, trong đó xếp đầy giấy tờ. Hôm đặt chiếc phong bì màu xanh vào chính giữa, kẹp vào những tài liệu khác. Tráp được khoá và được đặt trở lại phòng ngủ.

- Bây giờ chúng ta chuẩn bị tiếp ông nhà – Hôm nói – chúng ta còn mười phút nữa. Tôi sẽ phải giữ mình rất nhiều để che chở cho bà, bà Khinđa ạ! Vì điều đó, trong thời gian còn lại, bà hãy kể cho tôi nghe tất cả câu chuyện lạ lùng này đi!

- Tôi sẽ kể hết cho ông nghe, ông Hôm ạ! – Bà ta thốt lên – Ôi! Ông Hôm! Chặt cánh tay phải của tôi còn dễ hơn là để cho anh ấy đau khổ dù chỉ một phút thôi! Khắp Luân Đôn này, không thể có người đàn bà nào yêu chồng mình hơn tôi đâu. Tuy vậy, nếu nhà tôi biết rằng tôi phải làm cái điều ép buộc phải làm này, anh ấy vẫn không bao giờ tha thứ cho tôi cả. Anh ấy đặt danh dự của riêng mình cao đến mức không thể quên và tha thứ cho hành vi thiếu trong sạch của người khác. Hãy giúp tôi, ông Hôm! Đó là hạnh phúc của tôi, hạnh phúc của anh ấy. Cuộc sống của chúng tôi phiêu lưu như thế đấy!

- Nhanh lên, thưa bà, thời gian sắp hết rồi!

- Trước lúc xây dựng gia đình, ông Hôm ạ , tôi có viết một lá thư dại dột và thiếu thận trọng. Đó là thư của một cô gái đa cảm đang yêu. Trong thư không có điều gì xấu xa cả, vậy mà nhà tôi đã coi hành vi này là tội lỗi. Nếu như nhà tôi đọc lá thư đó chắc anh ấy sẽ chấm dứt lòng tin cậy đối với tôi. Kể từ khi tôi viết lá thư này, nhiều năm đã trôi qua. Tôi nghĩ rằng tất cả đã rơi vào quên lãng. Thế nhưng, đột nhiên cái con người này, Lucaxơ ấy, báo cho tôi biết là lá thư đã rơi vào tay ông và ông có ý định chuyển nó cho nhà tôi coi. Tôi van ông ta hãy buông tha cho tôi. Ông ta nói là sẽ hoàn lại lá thư cho tôi nếu tôi mang đến cho ông ta một tài liệu. Như lời ông ta nói thì tài liệu này hiện đang được nhà tôi bảo quản trong tráp đựng các công văn khẩn. Ông ta có một điệp viên nào đấy trong Chính phủ và hắn đã báo cho ông ta biết về sự tồn tại của tài liệu. Lucaxơ cam đoan với tôi là điều đó không làm tổn hại chút nào tới nhà tôi. Ông hãy thử đặt mình trong cương vị của tôi, ông Hôm! Tôi cần làm gì được nào?

- Kể tất cả cho ông nhà nghe.

- Ông Hôm, tôi không thể làm như vậy, tôi không thể làm như vậy được! Một bên, tai hoạ không tránh khỏi đe doạ tôi; bên kia tôi cảm thấy thật nguy hiểm nếu lấy tài liệu của nhà tôi. Nhưng tôi đã không hình dung thật đầy đủ điều đó sẽ có những hậu quả như thế nào trong lĩnh vực chính trị thế giới, cũng như điều đó có quan hệ như thế nào đối với tình yêu và lòng tin cậy lẫn nhau giữa chúng tôi. Tôi hình dung tất cả chuyện này hoàn toàn đơn giản.Tôi đã đánh cắp, ông Hôm ạ! Tôi lấy khuôn chìa khoá và thế là cái con người này, Lucaxơ ấy, đã có được chiếc chìa khoá thứ hai. Tôi mở tráp, lấy tài liệu và mang tới phố Gôđôlphin.

- Rồi chuyện gì đã xảy ra ở đấy thưa bà?

- Tôi gõ cửa như đã hẹn trước. Lucaxơ ra mở cửa. Tôi đi theo ông ta vào phòng. Cửa được tôi khép hờ vì e ngại ở một mình trong phòng ngủ với con người này. Tôi nhớ rằng khi tôi bước vào nhà thì ở ngoài đường có một người đàn bà nào đó đang đứng. Những   thoả thuận của chúng tôi nhanh chóng được kết thúc. Bức thư của tôi nằm trên bàn của ông ta. Tôi đưa cho ông tài liệu, ông trả lại tôi lá thư. Đúng lúc ấy tôi nghe thấy những tiếng động mạnh ở cạnh cửa và tiếng bước chân vang lên ở hành lang. Lucaxơ nhanh chóng lật tấm thảm lên nhét tài liệu vào chỗ kín, rồi lại đặt tấm thảm vào như cũ.

Điều xảy ra tiếp theo giống như một cơn ác mộng khủng khiếp. Tôi trông thấy một bộ mặt xám đen ngây dại và nghe thấy giọng đàn bà quát mắng bằng tiếng Pháp: “Sự chờ đợi của tao quả không vô ích! Thế là cuối cùng tao đã bắt gặp mày với nó”. Đã diễn ra một cảnh thật man dại. Tôi nhìn thấy ông ta túm lấy chiếc ghế, còn trong tay bà ta lấp loáng con dao găm. Tôi lao ra khỏi nhà vì khiếp  đảm. Chỉ vào sáng hôm sau nhờ báo chí tôi mới biết về vụ giết người quái đản này. Tối hôm ấy tôi rất mừng vì lá thư của tôi đã nằm gọn     trong tay mình và tôi còn chưa nhận thức điều gì sắp đến với tôi vào ngày hôm sau.

Nhưng sáng hôm sau tôi đã hiểu rằng sau khi thoát khỏi tai hoạ này thì tai hoạ khác lại đã đổ sụp xuống đầu tôi. Nỗi tuyệt vọng của nhà tôi khi phát hiện ra tài liệu bị mất đã gây chấn động mạnh trong tôi. Khó khăn lắm tôi mới kiềm chế nổi lòng mình để không quỳ lạy dưới chân anh ấy, để không kể cho anh ấy nghe cái điều tôi đã gây ra. Đáng lẽ tôi phải thú nhận điều đó sớm hơn! Sáng hôm ấy tôi đến chỗ ông và chỉ khi đó tôi mới thấy rõ được tính nghiêm trọng trong việc làm của mình. Từ giây phút này tôi luôn nghĩ là sẽ hoàn lại tài liệu cho nhà tôi bằng cách nào. Tài liệu đang nằm ở chỗ Lucaxơ cất giấu trước khi người đàn bà kia bước vào. Nếu không có sự xuất hiện của bà ta, tôi đã không bao giờ biết được nơi cất giữ tài liệu. Phải đột nhập vào căn phòng của ông ta bằng cách nào? Tôi theo dõi ngôi nhà suốt hai ngày nhưng cánh cửa không được mở lấy một lần… Mãi tới chiều hôm qua tôi mới thực hiện một mưu toan sau cùng. Và ông đã biết tôi đã đoạt được bức thư như thế nào. Tôi đem tài liệu về nhà quyết định tiêu huỷ nó và sẽ không kể cho anh ấy nghe chuyện gì đã xảy ra. Bởi vì tôi không biết làm cách nào để hoàn lại bức thư cho nhà tôi. Trời ơi! Tôi đã nghe thấy tiếng chân của anh ấy ở ngoài cầu thang rồi.

Lòng tràn đầy xúc động, viên Bộ trưởng đặt trách các công việc châu Âu chạy bổ vào phòng?

- Có gì mới không, ông Hôm? Có gì mới không? – Ông ta bắt đầu kêu lên.

- Tôi đã có ít nhiều hy vọng.

- May quá! – Nét mặt ông rạng rỡ hẳn lên – Thủ tướng đang ăn sáng cùng tôi. Có thể chia sẻ nỗi hân hoan với ngài được không? Thần kinh của ngài rất vững. Vậy mà tôi biết rằng, ngài hầu như không ngủ được từ khi có cái sự kiện kinh người đó xảy ra… Đjây Cốp xơ! Hãy mời ngài Thủ tướng lại đây. Có gì liên quan tới mình đâu, hỡi người vợ yêu quý của tôi! Chắc gì những chuyện chính trị này đã làm mình quan tâm!

Viên Thủ tướng có khả năng tự chủ khá tốt. Thế nhưng cứ theo ánh mắt của ngài, cứ theo sự chủ động dồn dập của đôi tay gầy guộc của ngài, tôi nhận thấy Thủ tướng đang chia sẽ nỗi xúc động với người cộng sự trẻ tuổi của mình.

- Ông Hôm, tôi rất hiểu là ông muốn báo cho chúng tôi biết một điều gì đấy !

- Tạm thời mới có cái phủ định thôi! – Bạn tôi trả lời – Sau khi thăm dò tất cả những  nơi tôi có điều kiện thăm dò, tôi tin rằng không có cơ sở nào khiến chúng ta phải lo ngại cả.

- Nhưng quả là không đầy đủ ông Hôm! Chúng ta không thể sống mãi trên núi lửa được. Chúng ta cần biết một cách rõ ràng.

- Tôi hi vọng sẽ tìm ra bức thư vì vậy tôi mới đến đây. Càng nghĩ về công việc này tôi càng tin rằng bức thư không bao giờ vượt ra khỏi ranh giới của ngôi nhà này được.

- Ông Hôm!

- Nếu quả thật nó đã bị mất thì cố nhiên người ta đã công bố nó từ lâu, từ rất lâu rồi!

- Nhưng vì sao có thể cho rằng bức thư được cất giấu trong ngôi nhà này?

- Nói chung tôi không tin là người ta đã lấy nó.

- Vậy nó biến mất từ tráp làm sao được?

- Tôi cũng không tin rằng nó đã biến đi từ tráp.

- Ông Hôm! Bây giờ không phải là lúc để đùa cợt. Tôi cam đoan với ông là trong đó không có lá thư.

- Ông hãy nhìn lại một lần nữa xem sao!

- Không. Điều đó là hoàn toàn vô ích!

- Có thể ông không để ý đến nó.

- Hãy nghe đây! Không đời nào có chuyện ấy cả!

- Ai mà biết được! Những chuyện tương tự như thế vẫn thường xảy ra. Vì ở đấy có lẽ còn có những tài liệu khác nữa. Bức thư có thể bị lẫn trong những tài liệu đó. Bức thư nằm ở trên cùng có thể một ai đấy sắp nó lên và bức thư đã bị chuyển dịch.

- Không, không! Tôi đã lấy tất cả ra rồi!

- Nhưng có thể dễ dàng kiểm tra lại điều đó, Kôup! – Ngài Thủ tướng nói – Hãy ra lệnh mang tráp lại đây!

Bộ trưởng đặc trách các công việc châu Âu ấn nút chuông.

- Đjây Côpxơ! Hãy mang cái tráp đựng giấy tờ của tôi ra đây! Chúng ta mất thì giờ hoàn toàn không cần thiết, nhưng nếu điều đó làm ông hài lòng thì… chúng tôi sẽ kiểm tra. Cảm ơn Đjây Côpxơ, hãy đặt nó xuống đây… Chìa khoá tôi luôn để trên giây đồng hồ. Đây, mọi giấy tờ đây! Ông coi đi! Bức thư của huân tước Merâu, báo cáo của ngài Tralizơ Kharri, bị vong lục từ Benrazơ, các tài liệu về thuế lúa mì Đức – Nga, bức thư từ Mađrit, bản báo cáo của huân tước Phlâyêxơ… Trời ơi! Cái gì thế này! Huân tước Benlinđzêrơ! Huân tước Benlinđzêrơ!

Ngài Thủ tướng giật lấy tấm phong bì màu xanh da trời từ tay ông ta.

- Đúng, nó đấy! Và bức thư còn nguyên vẹn… Xin chúc mừng ông, ông Kôup!

- Cám ơn ngài! Xin cảm ơn ngài! Một sức nặng ghê gớm đã trút khỏi vai tôi!... Thế nhưng điều này là không thể hiểu nổi… Ông Hôm, ông là người có phép lạ! Ông là bậc phù thuỷ! Do đâu ông biết được tài liệu ở đây?

- Bởi vì tôi biết rằng đối với nó không ở đâu tốt hơn ở đây cả.

- Tôi không thể tin vào đôi mắt của mình nữa rồi! – Ông ta lao vút ra khỏi phòng – Vợ tôi đâu rồi? Tôi cần nói với cô ấy rằng mọi chuyện đã được thu xếp ổn thoả. Khinđa! Khinđa! – Chúng tôi nghe rõ giọng nói của ông vang lên ở ngoài cầu thang.

 Ngài Thủ tướng nheo nheo đôi mắt rồi nhìn vào Hôm.

- Hãy nghe đây, thưa ông! – Ông ta nói – Ở đây ẩn giấu một điều gì đó. Bức thư có thể trở lại trong tráp bằng cách nào được?

 Hôm mỉm cười quay lưng lại để lẩn tránh cái nhìn từng trải của đôi mắt thấu tâm can ấy.

- Chúng ta còn có những bí mật xã giao của mình nữa! – Hôm nói, và sau khi cầm lấy mũ, anh bước ra phía cửa.

 

…………………………………………………………………………..

 (1) Perơ: người đại diện cho tầng lớp quý tộc quyền uy nhất ở Anh.

 (1) Xây Phơ: tủ hoặc hòm không cháy để giữ gìn những  đồ quý.

 

 

Comments