Sáu Napôlêông

Lextrâyđơ, điều tra viên từ Xkôtlenđơ - Iarđơ, chiều chiều thường hay đến thăm chúng tôi. Những cuộc viếng thăm của ông ta khiến Hôm thích thú. Lextrâyđơ mang đủ thứ tin tức từ Sở Cảnh binh tới, còn Hôm để tỏ ra biết ơn về điều này, đã sảng khoái lắng nghe từ đầu đến cuối các câu chuyện chi li về những công việc uỷ thác cho người điều tra viên. Đôi lúc, anh làm như vô tình rút ra từ kho kinh nghiệm và hiểu biết sâu rộng của mình để khuyên bảo ông ta.

Thế nhưng, vào buổi chiều hôm đó, Lextrâyđơ chỉ toàn nói về thời tiết và các tin tức  lượm lặt được trên báo chí. Sau đấy, đột nhiên ông ta nín thinh, rồi bắt đầu trầm ngâm thổi bay bay những tàn thuốc lá.

- Ông đang ấp ủ một chuyện kỳ lạ nào đó phải không?

- Ồ, không ông Hôm ạ! không có gì là kỳ lạ cả.

- Chuyện xảy ra như thế nào? Hãy kể đi!

Lextrâyđơ phì cười:

- Tôi không giấu diếm ông điều gì đâu, ông Hôm ạ. Quả thật có dấu hiệu một câu chuyện, chuyện tẹp nhẹp ấy mà, nên tôi không muốn làm phiền ông. Vả chăng, chuyện vặt vãnh nào đấy cho dù là hoàn toàn lạ lùng đi chăng nữa, cũng chỉ là chuyện vặt vãnh mà thôi. Tôi biết ông thường bị lôi cuốn bởi tất cả những chuyện gì phi thường kia. Mặc dầu thật lòng mà nói, nhanh hơn cả là hãy tóm lấy bác sĩ Oátxơn, chứ không phải tôi và ông đâu.

- Bệnh tật ư? - Tôi hỏi.

- Chứng điên khùng. Hơn thế nữa, đó là chứng điên khùng hoàn toàn kỳ quặc. Thật khó hình dung ra một người sống ở thời đại chúng ta mà lại căm thù Napôlêông I đến mức ấy. Hắn ta tiêu huỷ bất kỳ hình ảnh nào của ông ta nếu lọt vào mắt hắn.

Hôm ngả người ra sau ghế bành:

- Việc này quả thật không thuộc phận sự của tôi.

- Đúng, đúng đấy! Tôi đã nói như thế mà. Hơn nữa, nếu hắn ta ăn cắp có phá phách, và nếu những  tấm hình của Napôlêông bị hắn phá huỷ là của người khác chứ không phải của hắn, thì từ đôi bàn tay của người tiến sĩ hắn ta đã sa vào tay chúng tôi rồi.

Hôm lại ưỡn người ra:

- Ăn cắp có phá phách! Chuyện này còn thú vị hơn kia. Hãy kể tất cả, đến từng chi tiết nhỏ nhất cho tôi nghe đi!

Lextrâyđơ rút ra một cuốn sổ công tác, lật giở từng trang để nhớ lại.

- Trường hợp thứ nhất, người ta đã thông báo cho chúng tôi cách đây bốn ngày – Ông ta nói – Trường hợp này xảy ra trong cửa hàng của Môrz Khêđơxôn, người buôn bán tranh và tượng trên phố Kênhitôn-Rốtđơ. Người bán hàng từ trong cửa hàng bước ra tự nhiên nghe thấy những tiếng kêu tanh tách vọng lại. Anh ta vội lùi về  phía sau và nhìn thấy bức tượng Napôlêông bản thân bằng thạch  cao vốn ở trên quầy hàng cùng với những  tác phẩm nghệ thuật khác, giờ vỡ tan tành dưới nền. Người bán hàng chạy bổ ra ngoài đường. Và, mặc dầu nhiều khách qua đường cả quyết rằng có nhìn thấy một người chạy ra từ cửa hàng, anh ta vẫn không bắt được hắn. Hình như đây là một trong những hành vi càn quấy thiếu suy nghĩ thỉnh thoảng vẫn xảy ra… Người ta đã trình báo về chuyện đó như vậy. Bức tượng bán thân bằng thạch cao giá chỉ vài silinh. Tất cả công việc bé nhỏ tới mức dường như không cần để ý đến hậu quả của nó nữa.

Tuy nhiên, trường hợp vừa mới xảy ra lại nghiêm trọng hơn, mà lại kỳ quặc không kém. Nó xảy ra vào đêm hôm qua cũng trên phố Kênhitôn – Rốtđơ cách cửa hàng của Môrz Khêđơxôn chừng vài  trăm thước. Ở đó, bác sĩ, tiến sĩ danh tiếng Barnhikốt, người có phạm vi hành nghề rộng rãi nhất trên bờ phía nam của Temzơ đang sống một cách yên ổn. Bác sĩ Barnhikốt là người sùng bái Napôlêông đến mức cuồng nhiệt. Toàn bộ ngôi nhà của ông tràn ngập những quyển sách, những  bức tranh, những  kỷ vật của vị hoàng đế Pháp. Cách đây không lâu, ông có mua của Môrz Khêđơxôn hai bức tượng của Napôlêông bằng thạch cao. Hai bức tượng giống y hệt nhau, vì đều được sao lại từ bản chính của nhà điêu khắc người Pháp Đêvin. Một bức ông để lại ở phòng mình tại phố Kênhitôn - Rốtđơ. Còn bức kia thì ông đặt trên lò sưởi ở phòng mổ ở phố Layer- Brixtôn – Rốtđơ. Buổi sáng, lúc trở về nhà, bác sĩ Barnhilkốt phát hiện ra ban đêm ngôi nhà mình lâm vào tình trạng mất cắp. Có điều trong nhà không bị mất một thứ gì khác trừ bức tượng thạch cao đặt ở phòng ngoài.

Kẻ cắp đã mang bức tượng ra khỏi nhà, đập vào những chấn song sắt ngoài vườn. Một đống mảnh vỡ đã được tìm thấy vào sáng sớm ngay cạnh hàng rào.

Hôm luống cuống bỏ cả hai tay xuống.

- Trường hợp này quả là bất thường – Anh nói.

- Tôi tin  là nó sẽ làm ông thích thú. Nhưng tôi đã kết thúc đâu. Bác sĩ Barnhikốt vào lúc mười hai giờ đã đi đến phòng mổ của mình. Hãy tưởng tượng xem ông ta kinh ngạc như thế nào khi nhận ra cửa sổ phòng mổ của mình bị mở, và những  mảnh vụn từ bức tượng thứ hai tung toé khắp nền nhà. Bức tượng bị đập vỡ vụn. Chúng tôi tìm hiểu cả hai trường hợp nhưng vẫn chưa giải thích nổi hắn ta thuộc loại người nào, kẻ phạm tội hay người mất trí, mà lại lấy cắp kiểu đó. Đấy là tất cả mọi sự việc xảy ra, ông Hôm ạ!

- Thật là độc đáo, thậm chí là kỳ quặc – Hôm nói – Tôi muốn biết những bức tượng bị vỡ ở phòng bác sĩ Barnhikốp có phải là bản sao giống như bức tượng bị đập vỡ trong cửa hàng Môrz Khêđơxôn không?

- Người ta đã đúc chúng cùng một khuôn.

- Nghĩa là, không thể khẳng định rằng người đập vỡ những  bức tượng này lại hành động vì căm thù Napôlêông. Nếu trong thực tế ở Luân Đôn có tới vài ngàn bức tượng của vị hoàng đế vĩ đại, thì khó lòng ước đoán được rằng một người cuồng tín ít tiếng tăm lại bắt đầu sự hoạt động của mình bằng việc đập vỡ ba bản sao của bức tượng này hay khác một cách hoàn toàn ngẫu nhiên.

- Tôi mới chợt nảy ra ý nghĩ này – Lextrâyđơ nói – Ông nghĩ như thế nào về điều đó, bác sĩ Oátxơn?

- Chứng điên rồ, trên một điểm nào đấy, là vô cùng đa dạng – Tôi trả lời – Có hiện tượng mà tâm lý học hiện đại gọi là “tư tưởng luôn luôn ám ảnh”. Tư tưởng này có thể là hoàn toàn vặt vãnh. Và, con người bị ám ảnh bởi nó có thể lành mạnh trong tất cả các quan hệ khác nhau. Chúng tôi đoán rằng con người phát khùng này đã đọc nhiều về Napôlêông, hoặc anh ta bị sự kíchthích nào đấy do tổ tiên của mình đem lại vào thời gian xảy ra cuộc chiến tranh Napôlêông. “Tư tưởng luôn bị ám ảnh” đã hình thành ở anh ta, và dưới ảnh hưởng của nó, anh ta có khả năng hành động một cách tinh nghịch theo trí tưởng tượng phóng khoáng của mình.

- Lý luận của anh không chinh phục nỗi chúng tôi đâu, Oátxơn thân mến ạ! – Hôm lắc đầu và nói – Vì “tư tưởng luôn luôn ám ảnh” nào đó không thể mách cho kẻ điên rồ thú vị của anh là các bức tượng ấy ở chỗ nào.

- Còn anh sẽ giải thích ra sao về điều đó?

- Tôi không có ý định giải thích. Tôi chỉ nhận thấy rằng trong hành vi điên khùng của người quân tử này mang một hệ thống nào đấy.

 Các sự kiện sau đó diễn ra nhanh hơn và hoá ra trầm trọng hơn so với những  giả định của chúng tôi. Vào buổi sáng hôm sau, lúc tôi còn đang say sưa trong giấc ngủ, Hôm đã gõ cửa phòng tôi. Anh bước vào phòng tôi với một bức điện trong tay. Rồi anh đọc bức điện thành tiếng: “Hãy đến ngay Kênxintôn, phố Pitơ – 131 – Lextrâyđơ”.

- Nghĩa là thế nào vậy? – Tôi hỏi.

- Tôi không rõ. Có thể điều đó có nghĩa là bất kỳ cái gì cũng được. Tôi cảm thấy đây chỉ là sự tiếp tục câu chuyện về các bức tượng. Nếu tôi không lầm thì có thể người bạn điên khùng của chúng ta đã chuyển hoạt động của mình sang một địa điểm khác ở Luân Đôn… Cà phê ở trên bàn, còn xe thì ở ngoài cửa, Oátxơn ạ!

Nửa giờ sau chúng tôi đã ở phố Pitơ – một phố hẹp song song với một đại lộ thuộc loại sầm uất nhất ở Luân Đôn. Ngôi nhà 131 té ra là một công trình lớn, không chút gì lãng mạn cả. Đến gần, chúng tôi đã thấy nhiều kẻ vô công rồi nghề tụ tập trước song sắt khu vườn. Hôm huýt lên một tiếng:

- Đồ quỷ sứ, ở đây có vụ giết người khủng khiếp nào chăng?

Mang một vẻ mặt cau có, Lextrâyđơ bước ra đón, rồi dẫn chúng tôi vào phòng khách. Trong phòng có một người đứng tuổi, vận bộ đồ pizama xộc xệch. Ông ta chạy đi chạy lại không được bình thường lắm. Người ta giới thiệu ông với chúng tôi. Hoá ra đấy là chủ nhân của ngôi nhà tên là Khôrêxơ Kharkêxơ, nhân viên báo chí của nghiệp đoànTrung ương.

- Câu chuyện về những Napôlêông lại được tiếp diễn – Lextrâyđơ nói – Nó đã khiến chúng tôi quan tâm ngay vào tối hôm qua, ông Hôm ạ! Ý nghĩa này chợt đến với tôi: Ông sẽ rất thích thú nếu tham gia vào việc tìm hiểu nó, nhất là khi nó đưa lại một biến cố ảm đạm như bây giờ.

- Biến cố gì vậy?

- Một vụ án mạng. Ông Kharkêrơ, hãy kể cho các bậc quân tử đây nghe tất cả những  gì đã xảy ra đi. Xin mời!

Người chủ nhà trong bộ Pizama ngoảnh khuôn mặt suy nhược của mình về phía chúng tôi.

- Câu chuyện thật lạ lùng – Ông ta nói – Cả đời mình, trên báo chí, tôi đã mô tả các sự kiện xảy ra với những  người khác. Và thế là cuối cùng, một sự cố lớn như thế đã xảy ra với ngay chính bản thân tôi, khiến tôi bối rối đến mức không thể viết nổi chút gì về nó. Có điều, tên tuổi của ông rất quen thuộc với tôi, ông Sơlốc Hôm ạ! Nếu như ông làm sáng tỏ được sự việc rối rắm này, thì đối với tôi, đó là phần thưởng cho sự cần thiết đáng buồn là trình bày lại tất cả những tai họa vừa xảy ra.

Hôm ngồi xuống và bắt đầu lắng nghe.

- Vụ giết người này có liên quan tới bức tượng Napôlêông tôi mua bốn tháng trước đây. Bức tượng được tôi mua với giá rẻ tại cửa hàng anh em Kharzingơ cạnh sân ga Khai. Tôi thường viết báo vào ban đêm và mải mê với công việc của mình đến tận sáng. Hôm nay, cũng như mọi ngày, tôi đang ngồi trong phòng làm việc của mình ở tầng trên cùng, thì đột nhiên có một tiếng động từ phía dưới vọng đến tai tôi. Tiếng động không lặp lại khiến tôi cho rằng đó chỉ là tiếng ồn vọng tới từ ngoài phố. Thế nhưng chừng năm phút sau, bất thình lình tôi nghe thấy những tiếng thét kinh sợ. Ông Hôm, chưa bao giờ trong đời tôi phải nghe những âm thanh kinh hoàng đến như vậy. Tiếng la thét báo cho tôi biết chắc chắn một cái chết sẽ xảy ra. Tôi ngồi ngây người ra chừng một hai phút gì đó vì kinh hãi. Sau đấy tôi cầm chiếc gậy thông lò và đi xuống phía dưới. Lúc bước vào căn phòng này, tôi nhận thấy cửa sổ bị mở toang và bức tượng trên lò sưởi đã biến mất. Tôi không thể hiểu nổi kẻ cướp thích thú bức tượng này là vì lẽ gì. Đó chỉ là cái khuôn thạch cao tầm thường không đáng một xu. Như chính các ông đã nhìn thấy đấy, kẻ cướp chợt nghĩ là phải nhảy từ cửa sổ này rồi vọt xuống bậc thang của lối ra vào. Cho nên hiển nhiên là hắn đã tẩu thoát từ chính con  đường này. Tôi lần qua hành lang rồi mở cửa phía ngoài. Tôi vấp phải và chút nữa thì ngã đúi vào một xác chết nằm ở đó. Lát sau, tôi cầm một cây đèn tới. Vết thương ăn sâu vào cổ người bị nạn. Người chết nằm ngửa, mồm há rộng, còn đầu gối thì chống lên. Thật là khủng khiếp! Tôi rít lên một tiếng và ngay lập tức ngất xỉu đi. Sau đó, tôi không còn nhớ điều gì cả. Lúc tỉnh dậy ở phòng ngoài, người bảo vệ đã đứng cạnh tôi.

- Người bị giết là ai vậy? – Hôm hỏi.

- Không thể xác định nổi - Lextrâyđơ nói – Chính các ông đã xem xét tử thi rồi đấy. Chúng tôi đã tận mắt  thấy một cách kỹ lưỡng, thế mà cũng không nhận ra ai cả. Đấy là một người đàn ông chưa quá ba mươi tuổi, vóc dáng to lớn, lực lưỡng , da rám nắng.  Anh ta ăn mặc tồi tàn, song không hề giống một người làm thuê. Một con dao găm cán sừng nằm trong vũng máu lênh láng cạnh anh ta. Tôi không rõ con dao này của kẻ giết người hay của nạn nhân. Trong áo quần kẻ bị giết không thấy mộ thấy một chứng cớ nào để đoán biết anh ta tên là gì. Người ta chỉ tìm thấy trong túi áo nạn nhân một trái táo, một sợi dây nhỏ, tấm bản đồ Luân Đôn và một bức ảnh. Tấm ảnh ấy đây này.

Đó là một bức ảnh chụp chớp  nhoáng bằng một loại máy ảnh nhỏ. Trên ảnh là một chàng trai nét mặt gầy, lông mày rậm và xương hàm nhô về phía trước như mặt khỉ. Nhìn chung, mặt anh ta rất giống một loài khỉ nào đấy.

- Thế còn chuyện gì đã xảy ra với bức tượng? - Hôm vừa hỏi vừa chăm chú nghiên cứu bức ảnh.

- Bức tượng đã được tìm thấy ngay trước nhà xứ của các ông. Nó ở trong khu vườn nhỏ trước ngôi nhà trống rỗng thuộc Kêmzên – Khaiz – Rốt. Bức tượng bị đập vỡ tan tành. Tôi lập tức đến đó xem xét. Ông có muốn cũng đi với tôi không?

Những  mảnh vụn của bức tượng được tìm thấy cách ngôi nhà chừng vài ácđơ. Đập vào mắt chúng tôi trước tiên là hình vị hoàng đế vĩ đại  kêu gọi lòng căm thù một cách điên cuồng trong trái tim của một người không quen thuộc nào đó. Bức tượng vỡ thành từng mảnh nhỏ trên cỏ.

Hôm cầm một mảnh vỡ lên rồi chăm chú xem xét chúng. Cứ theo bộ mặt căng thẳng của anh, tôi đoán là anh đã tìm ra dấu vết.

- Thế nào? – Lextrâyđơ hỏi.

Hôm nhún vai:

- Chúng ta sẽ buộc phải mất nhiều thì giờ với công vịêc này – Anh nói – Nhưng dẫu sao…, dẫu sao chăng nữa chúng ta cũng đã có một cái gì đấy giúp cho sự khởi đầu. Bức tượng rẻ tiền trong con  mắt của kẻ phạm tội kỳ quái kia lại đắt hơn tính mạng của một con người. Đấy, vấn đề đầu tiên đặt ra trước chúng ta là thế đấy. Có một vấn đề thứ hai lạ lùng không kém là mục đích duy nhất của kẻ phạm tội là phá huỷ bức tượng, và do đâu mà y không đập nó ở trong nhà hoặc cạnh nhà?

- Y đã bị sửng sốt bởi sự gặp gỡ bất ngờ với người mà y phải giết. Bản thân y cũng không hiểu y làm gì.

- Điều đó có vẻ như là sự thật. Tuy nhiên, tôi muốn ông hãy chú ý đến ngôi nhà trong vườn nơi bức tượng đã bị đập vỡ ấy.

Lextrâyđơ bắt đầu quan sát chung quanh.

- Ngôi nhà thật vắng vẻ – Ông ta nói – kẻ phạm tội biết rằng ở đó sẽ không thể có một ai quấy nhiễu mình.

- Thật vậy à! – Hôm bác lại – Thế nhưng trên phố này còn có một ngôi nhà vắng vẻ khác, và y đã đi qua ngôi nhà đó để đến đây. Vì lẽ gì y lại không đập vỡ bức tượng ở cạnh ngôi nhà thứ nhất? Bởi lẽ y hiểu rằng mỗi bước đi không cần thiết sẽ làm tăng thêm mối nguy hiểm do việc bắt gặp một người nào đó.

- Tôi không để ý tới điều này – Lextrâyđơ nói.

Hôm chỉ lên cây đèn đường đang toả sáng trên đầu chúng tôi:

- Ở đây, người đó không thể nhận ra y làm gì, còn ở đằng kia thì không thể làm việc ấy. Đấy chính là lý do đã đẩy y đến đây.

- Ông rất có lý  - Người điều tra viên nói – Quân chó má thật! Bây giờ tôi mới sực nhớ ra là bức tượng của bác sĩ Barnhikốt cũng bị đập vỡ cách không xa ngọn đèn của ông ta. Nhưng chúng ta cần làm gì với sự kiện này, ông Hôm?

- Hãy nhớ lấy! Sau này chúng ta có thể tiếp xúc với những sự việc chúng buộc chúng ta phải quay lại với nó. Ông đã dự định sử dụng những phương pháp nào rồi ông Lextrâyđơ?

- Theo tôi, tốt hơn cả lúc này là cần làm sáng tỏ cá nhân người bị giết. Việc này không khó. Khi  biết được anh ta và những  người  bạn của anh ta là ai thì chúng ta sẽ biết được anh đã gặp người nào vào ban đêm trên phố Pitơ, và kẻ nào đã giết anh ta trên bậc    tam cấp nhà ông Khôrêxơ Kharkêrơ. Ông có tán thành với tôi không?

- Đồng ý. Nhưng tôi định giải đáp câu đố nay bằng một cách hoàn toàn khác.

- Cách nào?

- Ồ, tôi không muốn làm ảnh hưởng đến ông. Ông hãy bắt đầu công vịêc theo cách của mình. Còn tôi bắt tay vào việc theo cách riêng của tôi. Sau đấy chúng ta sẽ đối chiếu kết quả tìm kiếm, rồi chúng ta sẽ giúp lẫn nhau, được không?

- Thật tuyệt vời! – Lextrâyđơ nói.

- Còn bây giờ, ông hãy quay lại phố Pitơ đi! Tất nhiên ông sẽ gặp Khôrêxơ Kharkêrơ. Ông hãy nhận danh tôi rồi nói ông ta rằng: theo ý kiến của tôi thì vào đêm hôm qua đã có một người điên khùng bị ám ảnh bởi lòng thù ghét Napôlêông ghé thăm nhà ông ta. Điều      này có thể giúp đỡ cho những trang báo của ông ấy sẽ sớm được hoàn thành.

Lextrâyđơ sửng sốt quay về phía Hôm:

- Lẽ nào ông thực sự nghĩ như thế?

Hôm mỉm cười:

- Tôi nghĩ sao ư? Có thể không như vậy! Những giả thiết này sẽ rất đáng lưu ý cho ông Khôrêxơ Kharkêrơ và những  người bạn hàng của nghiệp đoàn in Trung ương… Này Oátxơn! Một ngày bận rộn sẽ đến với chúng ta vào hôm nay. Ông Lextrâyđơ ạ, tôi sẽ rất vui lòng nếu vào sáu giờ chiều nay ông tạt vào chỗ chúng tôi ở phố Bâycơ. Còn từ giờ đến lúc đó tôi sẽ giữ lại bức ảnh.

Chúng tôi đi bộ cùng với Hôm trở lại phố Khai, rồi sẽ vào cửa hàng anh em Kharzin nơi đã bán bức tượng. Người giúp việc trẻ tuổi báo cho chúng tôi hay là ông Kharzin chỉ có mặt ở cửa hàng vào buổi chiều. Còn bản thân anh ta thì không thể đem lại cho chúng tôi một tin tức nào cả, bởi vì anh ta mới tới bán ở đây không lâu. Hôm tỏ ra thất vọng và không hài lòng.

- Biết làm thế nào được Oát xơn – Cuối cùng anh nói – Không thể hy vọng vào sự may mắn thường xuyên được. Đành lui tới đây vào buổi chiều vậy. Trước thời điểm này ông Kharzin không có mặt ở cửa hàng đâu. Tôi cũng như anh cố nhiên đã phỏng đoán và chuẩn bị theo dõi câu chuyện về các bức tượng này từ chính sự khởi đầu nhằm lý giải rằng: trong sự nảy sinh của chúng đã không  thể có bất kỳ một lý do nào định trước số phận lạ lùng của chúng. Bây giờ chúng ta sẽ đi đến chỗ ông Môrz Khêđơxôn trên phố Kênhitôn – Rốtđơ. Dẫu sao ông ta cũng sẽ soi rọi một chút ánh sáng vào điều bí ẩn này.

Đúng một giờ sau, chúng tôi đã có mặt ở tại cửa hàng của người chuyên buôn bán các bức tượng. Hoá ra chủ nhân là một người thấp, đẫy đà, mặt đỏ và có tính ưa châm chọc.

- Vâng , thưa ngài, – Ông ta nói – chúng tôi đóng thuế để làm gì cơ chứ, nếu bất kỳ thằng vô lại nào cũng có thể đột nhập vào cửa hàng và làm hư hại hàng hoá của chúng tôi! Đúng, tôi đã bán cho bác sĩ Barnhikốt hai bức tượng. Nhục nhã thay, thưa ngài! Một vụ hoành hành vô chính phủ. Đấy, ý kiến của tôi là như thế đấy. Chỉ có những  kẻ vô chính phủ mới có ý muốn huỷ hoại các bức tượng. Do đâu mà tôi có những  bức tượng ấy ư? Tôi không rõ điều đó có can hệ gì tới câu chuyện kia chứ. Vậy đấy! Nếu sự thật các ngài cần biết thì tôi sẽ kể. Tôi đã tậu được chúng ở chỗ Ghênzêrơ và đồng bọn trên phố Trêrơ ở Xchêpnni. Đó là một công ty đứng đắn nổi tiếng, tồn tại đã hai chục năm nay. Tôi mua bao nhiêu bức tượng ư? Ba, hai với một là ba. Tôi bán cho bác sĩ Barnhikốt hai bức còn một bức bị đập vỡ tan ngay giữa ban ngày ban mặt ngay chính trong cửa hàng của tôi. Tôi có quen người trong bức ảnh này không à? Không, tôi không quen. Tuy nhiên tôi biết người trong bức ảnh đấy là  Beppơ – một thợ thủ công người Italia. Thỉnh thoảng anh ta cũng có làm một vài công việc gì  đấy ở chỗ tôi. Anh ấy có thể đẽo gỗ, mạ khung, mọi việc anh ta làm đều tàm tạm. Anh ta đi khỏi cửa hàng của tôi cách đây một tuần.Từ đó đến giờ tôi mảy may không biết gì về anh ta cả. Không, tôi không được rõ từ đâu anh ta hiện ra. Bây giờ anh ấy ở đâu tôi cũng không biết. Tôi không có gì ghét bỏ anh ta cả. Công việc của anh ta làm không đến nỗi tồi. Ba ngày sau khi anh ta đi thì ở chỗ tôi bức tượng bị phá huỷ.

- Thế đấy, Môrz Khêđơxôn đã đem lại cho chúng ta nhiều tin tức hơn so với sự mong mỏi của chúng ta – Hôm nói khi chúng tôi rời khỏi cửa hàng – Vậy là cái anh chàng Beppơ này đã tham gia vào sự cố xảy ra ở Khênhintôn và các sự cố xảy ra ở Kêxintôn. Vì sự thật này mà chúng ta  không chút luyến tiếc khi phải đi qua mười dặm đường đến đây. Còn bây giờ, Oátxơn ạ, chúng ta sẽ đi tới Xchepnhi chỗ Ghênzêrơ và đồng bọn – nơi phát sinh ra các bức tượng. Không còn nghi ngờ gì nữa, ở đó chúng ta sẽ biết thêm nhiều điều lý thú.

Chúng tôi mau chóng đi xe qua Luân Đôn thanh lịch, Luân Đôn của những  khách sạn, của những  rạp hát, Luân Đôn văn chương và thương mại, Luân Đôn biển cả và cuối cùng chúng tôi dừng lại ở một vùng ngoại ô có nhiều nhà nghỉ được xây cất ven bờ biển. Nơi đây ngập tràn những cảnh nghèo khó, chúng tôi nhận ra xưởng điêu khắc đang định tìm kiếm ở một đường phố rộng. Xưởng nằm trên một cái sân rộng rãi chất đầy những mộ chí. Đó là một phòng thênh thang đủ sức chứa chừng năm mươi người thợ đang bận rộn với  công việc nhào nặn và chạm trổ. Viên chủ xưởng vạm vỡ, tóc vàng đón tiếp chúng tôi một cách lịch thiệp. Ông ta đã trả lời rõ ràng mọi câu hỏi của Hôm. Những  ghi chép trong cuốn sổ tay của ông ta đã xác định: từ cái đầu bằng đá cẩm thạch của Napôlêông đến những công trình của Đêvin đã có nhiều bản sao, nhưng chỉ có ba bức tượng mà gần một năm  trước đây ông có chuyển đến cho Môrz Khêđơxôn là thuộc một nửa của một nhóm riêng gồm sáu bức. Ba bức khác của nhóm này đã được bán cho anh em Kharzin ở Kênxintôn. Không, những bức tượng của nhóm sáu chiếc này không hề khác biệt với tất cả những chiếc còn lại. Không, ông ta không rõ tại sao lại có một ai đấy định hủy hoại các bức tượng này. Ông ta cảm thấy một ý nghĩa tương tự như thế chỉ là một trò cười không hơn không kém. Giá buôn của những bức tượng này chỉ sáu séclinh hoặc hơn một chút. Các bức tượng được tiến hành sản xuất như sau: người ta rót thạch cao vào hai cái khuôn với hai nửa mặt người, rồi sau đó ghép chúng lại với nhau. Tất cả công việc này thường do những  người Italia ở căn phòng này đảm nhiệm. Khi bức tượng được đúc xong người ta đặt nó lên dãy bàn ngoài hành lang để nó khô lại rồi cất vào kho. Đó là tất cả những gì ông ta kể cho chúng tôi nghe.

Thế nhưng, ngay sau đấy Hôm đã cho viên chủ xưởng coi bức ảnh. Ông ta bị chấn động mãnh liệt. Mặt ông bừng đỏ lên vì giận dữ. Đôi lông mày ở ông cụp xuống trên đôi mắt Ghecmanh xanh da trời.

- A! Đồ vô lại! – Ông ta chợt kêu lên – Phải rồi, tôi biết hắn rất rõ. Xưởng của tôi được mọi người kính nể. Suốt thời gian tồn tại của nó cảnh binh đến đây có một lần… Do tôi chủ quan như thế đấy! Chuyện này xảy ra đã hơn một năm. Hắn ta đâm người ngay   giữa đường phố bằng dao của một người Italia khác. Và sau khi thoát khỏi tay cảnh binh, hắn đã chạy đến xưởng của tôi. Tại đây hắn đã bị bắt. Hắn tên là Beppơ. Tôi không biết họ của hắn. Tôi đã bị trừng phạt một cách công bằng vì đã để cho con người với bộ mặt như thế này vào làm việc. Cũng xin nói thêm, hắn là một tay thợ giỏi, một trong những tay thợ cừ khôi nhất.

- Hắn bị xử như thế nào?

- Người bị hắn đâm còn sống do vậy hắn chỉ bị phạt một năm tù. Không còn nghi ngờ gì nữa, hắn đã được trả tự do. Nhưng hắn không dám ló mặt ra đâu. Hiện có người anh họ của hắn đang làm việc ở chỗ tôi. Có thể anh ta sẽ biết chỗ trú chân của Beppơ chăng!

- Đừng, đừng – Hôm kêu lên – Xin đừng nói với anh hắn một lời nào cả… Tôi van ông đấy! Việc này rất nghiêm trọng. Càng đi sâu vào công việc, tôi càng cảm thấy nó nghiêm trọng hơn. Trong cuốn sổ của ông có ghi rõ là ông đã bán những  bức tượng ấy vào ngàyba tháng sáu năm ngoái. Vậy ông có thể cho tôi biết  Beppơ bị bắt vào ngày nào được không?

- Tôi có thể ang áng xác định được theo giấy trả lương – Viên chủ xưởng trả lời – Đúng rồi! – Ông tiếp tục sau khi đã lục lọi đống giấy tờ của mình – Số tiền công cuối cùng của hắn ta được lĩnh là vào ngày hai mươi tháng năm.

- Cám ơn ông ! – Hôm nói – Tôi sẽ không làm phiền và sẽ không lạm dụng lòng kiên nhẫn của ông thêm nữa.

Sau khi đề nghị ông ta đừng kể cho bất cứ ai nghe về câu chuyện vừa rồi, chúng tôi từ biệt viên chủ xưởng và quay trở về hướng tây.

Nửa ngày trôi qua. Cuối cùng chúng tôi vội vàng ăn sáng tại một khách sạn. Trước cửa  ra vào người ta có bán các loại báo hằng ngày. Trên bức tranh cổ động đặc biệt có thông báo tin tức cuối cùng trong ngày bằng dòng chữ lớn: “TỘI ÁC Ở PHỐ KENXINTÔN, TÊN GIẾT NGƯỜI RỒ DẠI”. Liếc nhìn tờ báo, chúng tôi tin rằng ông Khôrêxơ  Kharkêrơ cuối cùng đã bằng một cách nào đấy in được bài báo của mình. Kín đầy hai cột báo là những  mô tả bay bướm, giật gân các sự kiện xảy ra tại nhà ông ta. Hôm trải rộng tờ  báo lên bàn con, vừa ăn vừa đọc. Thỉnh thoảng lại anh lại bật cười hềnh hệch.

- Mọi chuyện đều đâu vào đấy cả, Oát xơn ạ! – Anh  nói – Hãy nghe này: “Thật thoải mái khi cho rằng không thể tồn tại những  quan niệm khác nhau về sự kiện đó. Bởi vì ông Lextrâyđơ, một trong những  điều tra viên cảnh binh giàu kinh nghiệm nhất và ông Sơlốc Hôm, người tư vấn đồng thời là một chuyên viên danh tiếng đã thống nhất với nhau: chuỗi sự cố kỳ quặc được kết thúc một cách bi thảm như thế chỉ là sự xác nhận về chứng điên khùng chứ không phải là sự xác nhận về tội ác. Những  sự việc vừa kể ra cho chúng ta nghe không thể giải thích bằng cách nào khác hơn là bệnh hoạn thần kinh”. In ấn, Oátxơn ạ, sẽ  là một báu vật thực sự nếu biết sử dụng nó. Còn bây giờ, nếu bạn đã ăn xong rồi thì chúng ta sẽ cùng quay trở lại Kênxintôn và chắc chắn sẽ nghe câu chuyện của chủ nhân “Anh em Kharzin” nói với chúng ta.

Người gây dựng nên toà nhà buôn đồ sộ này là một người lanh lẹn và hiếu động. Ông ta luôn tay luôn mồm. Nhưng phải công nhận đấy là một người sáng dạ.

- Đúng, thưa ông, nhờ những  bài báo chiều nay tôi đã biết tất cả. Ông Khôrêxơ Kharkêrơ chính là khách hàng thường xuyên của chúng tôi. Ông ấy mua bức tượng cách đây vài tháng. Chúng tôi đã lấy ba bức tượng  như thế ở chỗ Ghênzêrơ và công ty của ông tại Xchêpnhi. Chúng đã được bán cho ai đấy à? Tôi sẽ xem lại sổ buôn của mình và sẽ trả lời các ông. Đúng rồi, tất cả đã được ghi lại ở đây. Một bức bán cho ông Khôrêxơ Kharkêrơ – bức khác bán cho ông Đjôzai Braiun sống tại Trizik trên Laburnun – Venli, Laburnun – Lotgi. Bức còn lại cho ông Xenđphôrđơ sống ở Rêzin trên Laiêrơ – Grốprốt.

Trong lúc ông Kharzin nói, Hôm ghi lại một điều gì đấy vào sổ tay. Anh tỏ ra vô cùng hài lòng. Tuy vậy anh không hề giải thích gì cả. Anh chỉ bảo là hãy khẩn trương lên một chút vì Lextrâyđơ đang chờ chúng tôi. Quả vậy, khi chúng tôi trở về nhà thì người điều tra viên đã ở đây. Nhìn dáng vẻ quan trọng của ông ta rất dễ đoán ra rằng đối với ông ta ngày hôm ấy trôi đi quả không vô vị.

- Công việc ra sao, ông Hôm ? – Ông ta hỏi.

- Chúng tôi buộc phải bắt tay vào công việc như là phận sự của chính mình – Bạn tôi nói  - Hơn thế nữa, chúng tôi  đã tìm hiểu. Chúng tôi đã lui tới thăm các chủ tiệm và viên chủ xưởng điêu khắc. Tôi đã lần ra số phận của từng bức tượng từ nơi phát sinh ra chúng.

- Số phận của từng bức tượng!  - Lextrâyđơ kêu lên – Được đấy, ông Hôm ạ! Tôi không có ý định tranh luận với ông, nhưng tôi cảm thấy hình như sau một ngày làm việc theo phương pháp của mình, tôi đã thu được nhiều kết quả hơn ông. Tôi đã xác minh cá nhân người bị giết.

- Ông nói gì thế?

- Vâng, tôi đã xác định được nguyên nhân của tội ác.

- Thật tuyệt vời!

- Chúng tôi có một thanh tra viên chuyên theo dõi khu phố người Italia sinh sống. Cây thánh giá thiên chúa giáo đeo trên cổ nạn nhân, nước da ngăm đen của người bị giết chứng tỏ anh ta là người sinh trưởng ở phương nam. Viên thanh tra Khilơ lập tức nhận ra anh ta. Tên anh ấy là Pêtrô Vênutrơ, thuộc dòng họ Nhêapôlơ. Anh ta là một trong những  kẻ liều mạng nhất Luân Đôn. Như các ông thấy đấy, tất cả đã bắt đầu được sáng tỏ. Kẻ giết anh ta có lẽ là người Italia. Pêtrô đã truy tìm hắn. Anh ta mang theo ảnh của hắn trong người để không lầm với người khác. Và cuối cùng, anh ta tìm ra kẻ thù của mình, nhìn thấy hắn đi vào trong nhà. Anh ta chờ đợi. Khi hắn bước ra khỏi nhà, anh ta lao vào hắn. Trong trận giao chiến, anh ta đã bị tử thương… Ông nghĩ thế nào về điều này, ông Sơlốc Hôm?

Hôm xiết chặt tay Lextrâyđơ một cách nồng nhiệt.

- Tuyệt vời! Lextrâyđơ ạ, thật là tuyệt vời! – Anh reo lên – Có điều tôi chưa thật hiểu ông lý giải việc đập phá các bức tượng như thế nào?

- Lại các bức tượng! Không thể đẩy các bức tượng này ra khỏi đầu ông được hay sao? Suy cho cùng, câu chuyện về các bức tượng ấy chỉ là trò vớ vẩn. Một vụ ăn cắp tẹp nhẹp. Nhiều lắm chỉ có thể phạt sáu tháng tù là cùng. Việc giết người mới là đáng kể. Và, như các ông thấy đấy, tôi nắm trong tay mình tất cả mọi bằng chứng.

- Ông định hành động tiếp theo ra sao?

- Rất đơn giản. Tôi sẽ cùng với Khinlơ tới khu phố Italia. Chúng tôi sẽ truy tìm người trong ảnh này, rồi bắt hắn ta vì tội giết người. Ông có muốn cùng đi với chúng tôi không?

- Chưa chắc. Mà thôi! Tôi cảm thấy chúng tôi đạt được mục đích rõ ràng đơn giản hơn. Nhưng tôi chưa thể bảo đảm được, vì điều đó tuỳ thuộc vào… à, nói chung, vào một điều kiện không thuộc quyền hạn của chúng tôi. Có hai triển vọng, và một điều bất lợi. Vậy đó, tôi hy vọng nếu ông cùng đi với chúng tôi ngay đêm nay thì chúng ta sẽ bắt được hắn.

- Ở khu phố Italia chứ?

-  Không, theo tôi, đúng hơn là cần tìm hắn ta ở Trizik. Nếu đêm nay ông cùng đi với tôi tới Trizik, thì tôi xin hứa rằng sáng mai tôi sẽ cùng ông đi đến khu phố Italia. Sẽ chẳng có gì tai hại do sự trì hoãn này cả. Còn bây giờ, thì hãy ngủ một chút, vì chúng ta không cần ra đi trước mười một giờ. Chúng ta sẽ trở về có lẽ cũng chỉ vào sáng ngày mai. Cùng ăn cơm chiều với chúng tôi đi ông Lextrâyđơ! Rồi sau đó hãy nắm tay vào đivăng kia! Còn bạn, Oátxơn , hãy têlêphôn gọi người giúp việc lại đây. Tôi cần chuyển gấp một bức thư ngay bây giờ.

Cả buổi tối, Hôm phân loại đủ thứ báo cũ chất đầy trong kho sách báo của chúng tôi. Cuối cùng, khi anh từ kho bước ra, tôi nhận thấy một nỗi hân hoan bừng sáng trong đôi mắt anh. Tuy nhiên anh không hề nói gì với chúng tôi về kết quả tìm kiếm của mình cả. Tôi hiểu các phương pháp nghiên cứu của bạn tôi tới mức thậm chí không hoàn toàn biết ý đồ của anh nhưng cũng đoán ra anh dự tính tóm kẻ gây tội ác bằng cách nào. Đến lúc này hắn sẽ mưu toan phá huỷ hai bức tượng còn lại. Thế mà theo trí nhớ của tôi thì một trong số hai bức tượng đang ở Trizik. Cố nhiên, mục đích chuyến đi đêm nay của chúng tôi là sẽ tóm cổ kẻ phá phách ngay nơi gây tội ác của hắn. Tôi không thể không ca ngợi sự khôn ngoan của bạn tôi khi cố tình cho báo chí buổi chiều biết một lời giải đáp hoàn toàn bịa đặt nhằm làm cho kẻ gây tội ác tin rằng hắn có thể hành động mà không gặp bất kỳ mối đe doạ nào. Tôi không lấy làm ngạc nhiên khi Hôm khuyên tôi mang súng lục theo người. Chính anh cũng cầm theo vũ khí thân thuộc của mình – chiếc roi da có tay nắm bằng chì dùng để  đi săn.

Đúng mười một giờ, cỗ xe ngựa dừng lại ở trước cửa chúng tôi. Theo yêu cầu Khamêrxơnutxki, chúng tôi đi ngược chiều  bờ sông Temzơ. Người xà ích nhận được lệnh chờ đợi. Chúng tôi bắt đầu đi bộ và chẳng bao lâu chúng tôi bước vào một con đường hoang vắng, có nhiều ngôi nhà xinh xắn giữa những chiếc vườn nho nhỏ. Dưới ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn phố, chúng tôi đọc được trên cổng của một trong số những  ngôi nhà duyên dáng ấy hàng chữ  “Vila - Laburnun”. Có lẽ những  người trong nhà đã ngủ vì toàn bộ ngôi nhà chìm trong bóng tối. Chỉ có một ngọn đèn đỏ đòng đọc trước cửa ra vào là đang hắt những vệt sáng mờ đục xuống con đường mòn ngoài vườn. Chúng tôi vượt qua cổng rồi ẩn mình trong bóng tối dày đặc của hàng rào bằng gỗ ngăn cách khu vườn với con đường.

Mặc dầu vậy, sự chờ đợi của chúng tôi hoá ra không lâu và đã kết thúc bằng một cách kỳ lạ và bất ngờ nhất. Ngoài bất cứ sự phỏng đoán nào, cửa vườn đột ngột bị mở toang ra. Một bóng đen uyển chuyển, nhanh nhẹn và linh hoạt như một con khỉ lao vụt vào con đường nhỏ trong vườn. Chúng tôi loáng thoáng nhìn thấy nó trong những tia sáng hắt ra từ cửa sổ rồi vụt biến mất trong bóng tối. Sự im ắng bắt đầu. Trong thời gian ấy, chúng tôi ngồi nín lặng. Cuối cùng, một âm thanh yếu ớt vọng đến tai chúng tôi. Đấy là tiếng cửa sổ bị mở. Sau đó lại im ắng. Kẻ phạm tội lượn lờ quanh nhà. Bất chợt chúng tôi nhìn thấy ngọn đèn pin của hắn loé sáng trong phòng. Vật mà hắn định tìm kiếm có lẽ không thấy, bởi vì sau chừng một phút làn ánh sáng của cây đèn lại được chuyển sang phòng khác.

- Hãy tiến đến cửa sổ đang mở, chúng ta sẽ tóm lấy hắn khi hắn nhảy bổ ra – Lextrâyđơ thì thào.

Thế nhưng, khi chúng tôi chưa rời khỏi chỗ mình thì kẻ phạm tội đã nhảy ra khỏi cửa sổ. Hắn dừng lại dưới ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn. Bên nách hắn cặp một vật gì trăng trắng. Sau đó hắn đảo mắt nhìn quanh một cách gian giảo. Cảnh yên lặng của đường phố vắng khiến hắn yên tâm. Lưng hắn quay về phía chúng tôi. Vật mang theo được hắn bỏ xuống đất. Lập tức chúng tôi bắt đầu nghe thấy những  tiếng đập mạnh. Và sau đấy là những  tiếng kêu răng rắc. Hắn mải mê với công việc của mình đến mức không nghe thấy tiếng những  bước chân dè dặt của chúng tôi. Giống như một con cọp, Hôm nhảy bổ vào lưng hắn, còn tôi và Lextrâyđơ thì nắm chặt lấy hai tay hắn xích lại. Lúc hắn ngoảnh cổ lại, tôi nhìn thấy một bộ  mặt tái xám, hung dữ. Ngay lúc ấy, tôi nhận ra  đây đúng là con người trong bức ảnh nọ.

Thế nhưng, Hôm lại hướng tất cả sự chú ý của mình không phải vào kẻ bị bắt. Anh nghiên cứu vật hắn mang ra từ nhà rất tỉ mỉ. Đó là bức tượng Napôlêông vỡ vụn, hoàn toàn giống những  mảnh vỡ mà vào buổi sáng hôm nay mà chúng tôi đã nhìn thấy. Hôm lần lượt soi vào ánh sáng từng mảnh một, không bỏ sót một mảnh nào. Rõ ràng tất cả những cái được anh xem xét hoàn toàn giống với bất cứ mảnh vỡ thạch cao nào khác. Anh kịp kết thúc công việc nghiên cứu của mình khi cánh cửa ngôi nhà mở rộng, và người chủ nhà – một người đàn ông đẫy đà, phúc hậu vận áo sơ mi quần tây – xuất hiện trước chúng tôi.

- Nếu tôi không lầm, ông là Đjôzai Braiun phải không? - Hôm hỏi.

- Vâng, thưa ông. Còn ông chắc là Sơlốc Hôm. Người đưa tin đã mang đến cho tôi lá thư của ông. Và tôi đã xử xự đúng như sự khuyên bảo của ông. Chúng tôi đã đóng tất cả cửa lại và chờ đợi cái sẽ xảy ra. Rất mừng là tên vô lại đã không thoát khỏi tay ông. Vào nhà đi! Hỡi các bậc quân tử, xin mời! Chúng ta sẽ uống rượu ăn mừng!

Thế nhưng, Lextrâyđơ lại muốn mau chóng đưa tội nhân đến một chiêc hầm chắc chắn nào đó. Thế là vài phút sau, chúng tôi và phạm nhân đã trở về Luân Đôn. Kẻ phạm tội không hé răng nói lấy một lời. Hắn chỉ nhìn chúng tôi một cách hằn học.

Ở Sở cảnh binh , hắn đã bị khám xét rất kỹ lưỡng. Có điều, không tìm thấy được gì khác ngoài vài đồng seclinh và một con dao găm dài, cán có dính máu.

- Thế là xong! – Lúc tiễn chân chúng tôi, Lextrâyđơ nói – Khinlơ biết người này và có thể xác nhận đặc điểm của hắn ta không khó khăn lắm. Các ông sẽ thấy lý thuyết của tôi được khẳng định đầy đủ. Tuy nhiên, tôi rất cảm ơn ông, ông Hôm ạ! Ông đã giăng bẫy kẻ phạm tội bằng một tài nghệ phi thường. Cho đến giờ, tôi vẫn hoàn toàn không hiểu ông đã nghĩ ra như thế nào?

- Tôi e rằng cho tới giờ phút cuối cùng của công việc thì sự giải thích nó sẽ chẳng  có chút gì khó khăn cả – Hôm nói – Ngoài một vài chi tiết chưa được hoàn toàn xác minh thì công việc đến lúc này cần được kết thúc. Nếu ngày mai ông ghé thăm tôi vào lúc sáu giờ, chúng ta vẫn chưa thật hiểu ý nghĩa đích thực của câu chuyện độc nhất vô nhị này.

Bước vào nhà chúng tôi vào chiều ngày hôm sau, Lextrâyđơ thông báo cho chúng tôi hay tất cả những  gì được xác minh về cá nhân kẻ bị bắt. Họ hắn thì chưa được rõ, nhưng tên hắn là Beppơ. Đó là một tên vô công rồi nghề tuyệt vọng nhất trong đám kiều dân Italia. Có một thời hắn là người nặn tượng khéo léo. Nhưng sau đấy hắn bị lầm đường và phải ngồi tù hai lần: một lần vì ăn cắp vặt và một lần khác vì đánh bị thương một người đồng hương của mình. Hắn nói tiếng Anh rất giỏi. Cho đến bây giờ vẫn chưa biết vì lẽ gì mà hắn lại đi phá huỷ các bức tượng, và hắn ta vẫn khăng khăng cự tuyệt việc trả lời các câu hỏi quanh vấn đề này. Thế nhưng, cảnh binh đã xác minh được rằng chính hắn biết làm các bức tượng và hắn đã làm chúng khi hắn còn phục vụ trong xưởng của Ghênêrơ và công ty của ông ta.

Hôm lịch sự lắng nghe nhữngbtin tức mà đa phần chúng tôi đã biết. Song, là một người hiểu anh rất rõ, tôi nhận ra tư duy của anh đang bận bịu bởi một lẽ khác. Xuyên qua chiếc mặt nạ anh tự khoác cho mình, tôi nhìn thấy rất rõ anh đang chờ đợi cái gì và đang lo ngại điều gì. Cuối cùng, anh bật dậy khỏi ghế, cặp mắt anh bừng sáng lên. Tiếng chuông rung mạnh. Chừng một phút sau, chúng tôi nghe rõ tiếng những bước chân đang tới gần. Một người đàn ông đứng tuổi, mặt đỏ bừng và bộ râu quai nón bạc phơ bước vào phòng, tay phải ông xách một chiếc valy kiểu cũ. Vừa bước vào phòng, ông đã đặt valy lên bàn.

- Tôi có thể biết ông Sơlốc Hôm là ai không?

Bạn tôi cúi chào, và một nụ cười xuất hiện trên  gương mặt của anh.

- Nếu tôi không lầm thì ông là Xenđphôrđơ từ Rêzin tới?- Hôm nói.

- Vâng, thưa ông. Hình như tôi đến hơi trễ. Giờ tàu chạy có hơi bất tiện… Ông đã viết thư cho tôi về bức tượng đang thuộc quyền sở hữu của chúng tôi.

- Vâng, hoàn toàn đúng như vậy!

- Tôi có mang theo bức thư của ông. Ông viết: «Khi muốn mua mẫu từ bức tượng thạch cao Napôlêông của Đêvin, tôi có ý định trả mười bảng Anh dành cho mẫu hiện đang thuộc quyền sở hữu của ông”. Có đúng thế không?

- Đúng vậy!

 Thư của ông khiến tôi rất kinh  ngạc. Tôi không thể đoán nổi bằng cách nào ông đã biết tôi có bức tượng ấy?

Trong khi đó, tất cả mọi chuyện lại được giải thích cực kỳ đơn giản. Ông Kharzin, chủ nhân cửa hàng «Anh em Kharzin” đã bán cho ông bản sao cuối cùng của bức tượng, đồng thời đã báo cho tôi rõ địa chỉ của ông.

- Tôi hiểu. Vậy ông ta có nói tôi đã trả bao nhiêu tiền cho bức tượng ấy không?

- Không. Ông ta không nói.

- Tôi là một người trung thực, mặc dầu không thật giàu có lắm. Tôi đã trả mười lăm seclinh để có bức tượng. Tôi muốn báo cho ông về điều này trước khi tôi nhận ở ông mười bảng Anh.

- Sự tế nhị này đã làm vinh dự cho tôi, ông Xenđphôr-đơ ạ! Nhưng chính tôi đã giao giá và tôi không có ý định thay đổi.

- Ông thật là người hào hiệp, ông Hôm! Chấp nhận yêu cầu của ông, tôi có mang theo bức tượng đây.

 Ông ta mở valy và cuối cùng chúng tôi nhìn thấy ngay trên bàn mình bức tượng hoàn chỉnh mà trước đó chúng tôi chỉ được nhìn những mảnh thạch cao vỡ vụn.

Hôm rút trong túi ra một tờ giấy và đặt ngân phiếu mười bảng Anh lên bàn.

- Ông Xenđphôrđơ! Xin ông làm ơn ký vào mảnh giấy này trong sự hiện diện của các nhân chứng ngồi đây. Cần biết rằng ông nhường cho tôi mọi quyền hành sử dụng bức tượng. Như ông thấy đấy, tôi là người hay lo xa. Không thể biết trước sau này hoàn cảnh sẽ xoay chuyển như thế nào… Cảm ơn ông, ông Xenđphôrđơ! Còn đây là tiền của ông. Xin chúc mọi sự tốt lành.

Khi vị khách của chúng tôi đi khỏi, lại một lần nữa Hôm làm chúng tôi kinh ngạc. Anh rút từ ngăn tủ ra một chiếc khăn trải bàn sạch sẽ màu trắng, trải nó lên trên mặt bàn. Thế rồi anh đặt bức tượng vừa mua vào ngay chính giữa chiếc khăn. Sau cùng anh rút chiếc roi với nắm tay cầm nặng trịch của mình ra, rồi anh cứ nhè vào đỉnh bức tượng quật liên hồi. Tượng vỡ vụn. Hôm chăm chú xem xét từng mẩu một. Cuối cùng bằng một tiếng reo đắc thắng anh chìa cho chúng tôi xem một mảnh thạch cao bọc lấy một vật gì đó tròn thẫm trông tựa như quả nho khô được nướng làm nhân bánh ngọt.

- Này các bậc quân tử! – Anh reo lên – Xin được phép giới thiệu với các ngài viên ngọc trai đen tuyền danh tiếng của dòng họ Bôrđjia (1).

Chúng tôi và Lextrâyđơ đều im lặng, sau đó đột nhiên cùng vỗ tay sôi nổi như người ta thường làm trong rạp hát trước sự kết thúc của một vở kịch thành công nào đấy. Đôi má xanh xao của Hôm tự nhiên ửng hồng. Anh cúi chào chúng tôi tựa như người diễn viên được những  tràng vỗ tay mời ra sân khấu cúi chào khán giả của mình. 

- Đúng vậy, các ngài ạ! – Anh nói – Đây là viên ngọc trai nổi tiếng nhất thế giới. Thật

là sung sướng vì bằng con đường tư duy tôi đã thành công trong việc tìm ra số phận của viên ngọc từ  phòng ngủ của Công tước Kôlông ở khách sạn “Đakrơ” nơi nó bị mất đến   bên trong bức tượng cuối cùng trong sáu bức tượng Napôlêông được nặn ở xưởng điêu khắc của Ghễnêrơ và công ty ông ta tại Xchêpnhi.

Ông Lextrâyđơ, chắc  ông còn nhớ về việc thất lạc gây chấn động mạnh của viên ngọc quý giá này và sự tìm tòi không đi đến kết quả của Sở Cảnh binh Luân Đôn. Sở Cảnh binh có nhờ tôi trợ giúp nhưng khi ấy tôi không đủ sức. Người ta đã nghi ngờ nữ hầu phòng của Công tước phu nhân – một cô gái Italia. Mọi người đều biết rằng ở Luân Đôn cô ta có một người anh trai, thế nhưng không thể xác định được mối liên hệ giữa họ ra sao. Cô ta tên là Lukrêxia Vênutri. Tôi cả quyết là Pêtrô, người bị giết cách đây hai ngày đêm là anh trai của cô. Tôi đã coi lại báo cũ và đã biết rằng việc mất viên ngọc trai xảy ra hai ngày trước khi Beppơ bị giam giữ. Còn Beppơ bị bắt ở xưởng Ghênzêrơ và công ty của ông ta vào đúng thời gian các bức tượng thạch cao được hoàn thành.

Bây giờ chắc ông đã biết các sự việc tiếp theo ra sao rồi… Beppơ giữ viên ngọc trai. Có thể hắn để viên ngọc ở chỗ Pêtrô. Cũng có thể chính hắn là kẻ tòng phạm với Pêtrô. Cũng rất có thể hắn chỉ là người môi giới giữa Pêtrô và em gái của anh ta. Thật ra trong các giả định trên cái nào đúng, cái nào sai đều không đáng để chúng tôi lưu tâm. Quan trọng đối với chúng tôi là: hắn  giữ viên ngọc trai đúng vào thời gian cảnh binh săn lùng hắn. Chạy tới xưởng điêu khắc, nơi hắn đang làm việc, hắn biết còn đủ thời gian để cất giấu báu vật mà chắc chắn thế nào người ta cũng tìm kiếm  nếu khám xét hắn. Sáu bức tượng thạch cao Napôlêông lúc đó đang phơi ở ngoài hành lang. Một trong số các bức tượng ấy còn    chưa khô. Vốn là một tay thợ lành nghề, trong khoảnh khắc hắn đã đục một lỗ nhỏ vào bên trong bức tượng còn ướt nhét viên ngọc trai vào rồi phết bức tượng lại như cũ. Đấy là nơi bảo quản tuyệt vời: hầu như không có khả năng tìm ra viên ngọc ở một nơi như vậy. Có điều, Beppơ bị kết án một năm tù. Trong thời gian đó, cả sáu bức tượng lần lượt được bán cho nhiều người ở những địa điểm  khác nhau. Hắn không thể biết vật báu nằm ở bức tượng   nào trong sáu  bức tượng ấy. Chỉ sau khi đập vỡ cả sáu bức tượng hắn mới có thể tìm thấy viên ngọc trai.

Tuy nhiên Beppơ chưa hết hy vọng. Hắn bắt tay vào việc tìm kiếm một cách liên tục và say mê. Nhờ sự giúp đỡ của người anh họ làm ở chỗ Ghênzêrơ, hắn biết được những  hãng buôn nào đã mua các bức tượng này. Hắn rất mừng khi được nhận vào làm ở chỗ Môrz Khêđơxôn. Thế là hắn đã đi tìm ra ba bức tượng. Nhưng trong cả ba bức tượng ấy đều không có viên ngọc trai. Với sự giúp đỡ của những  người đồng hương hắn dò ra được ba bức tượng còn lại đã bán cho những  ai. Cái đầu tiên trong số đó có ở chỗ ông Khôrêxơ Kharkêrơ. Chính ở đây hắn đã nhận ra kẻ đồng mưu với chính mình. Anh ta coi hắn là kẻ có lỗi trong việc làm thất lạc viên ngọc. Và thế là nổ ra cuộc giao chiến giữa hai người.

- Nếu Pêtrô là kẻ đồng mưu với hắn, thì vì lẽ gì anh ta lại mang theo tấm hình của hắn?

- Để có thể trả lời cho cặn kẽ câu hỏi này cần hỏi thêm những người có liên quan. Đó là giả thuyết có lẽ là đúng nhất. Còn nhìn chung, tôi tin rằng sau việc giết người, Beppơ không những  không đình lại mà ngược lại càng gia tăng sự tìm kiếm của mình. Hắn gắng vượt lên trước cảnh binh vì lo sợ cảnh binh khám phá ra bí mật của mình. Cố nhiên, tôi không thể khẳng định được là hắn không tìm thấy viên ngọc trong bức tượng thuộc quyền sở hữu của Kharkêrơ. Thậm chí, tôi không biết đích xác đấy chính là viên ngọc quý giá nọ. Song đối với tôi, rõ ràng là hắn đang săn lùng một cái gì đấy. Bởi vì hắn đập vỡ các bức tượng lấy cắp được chỉ ở những nơi sáng sủa. Bức tượng ở chỗ Kharkêrơ là một trong những ba bức còn lại. Và quả thật, thời cơ được phân ra thành “hai triển vọng và  một điều bất lợi” như tôi đã nói với các ngài. Trong hai bức tượng chưa được tìm thấy, rõ ràng hắn phải bắt đầu từ  bức ở Luân Đôn. Tôi đã báo trước cho những  người cư  trú ở ngôi nhà để phòng ngừa bi kịch thứ hai có thể xảy ra. Và chúng tôi đã thu được kết quả mỹ mãn. Tới thời điểm này, tôi biết chắc rằng chúng ta sẽ tìm lại được viên ngọc trai của dòng họ Bôrđjia. Tên tuổi kẻ bị giết đã liên kết tất cả sự kiện rời rạc thành một khối. Chỉ còn bức tượng ở Rêzin – Viên ngọc chắc chắn ở trong đó. Tôi đã mua bức tượng trong sự chứng kiến của các ngài. Và viên ngọc đây!

Chúng tôi im lặng hồi lâu.

- Vâng, – Lextrâyđơ nói – Không phải mới một lần tôi thấy rõ khả năng phi thường của ông, ông Hôm ạ, nhưng quả chưa lần nào tôi chứng kiến biểu hiện của một tài nghệ tuyệt vời như lúc này!

- Cám ơn! – Hôm nói – Xin cám ơn!

………………………………………………………………………………………

(1)      (1) Bôrđjia: một dòng họ quý tộc giàu có đã từng giữ vai trò đáng kể trong lịch sử Italia.

 

Comments