Pitơ hung bạo

 Chưa bao giờ tôi nhận thấy bạn tôi sức lực dồi dào và tinh thần sảng khoái như vào năm 1895. Anh càng ngày càng nổi tiếng và phạm vi hoạt động của anh càng ngày càng được mở rộng thêm ra. Do sự tôn trọng những bí mật của người khác, tôi xin không đề cập tới những nhân vật nổi tiếng có dịp tới thăm ngồi nhà giản dị của chúng tôi ở phố Bâykơ. Cần nói rằng, như tất cả những nghệ sĩ vĩ đại, Hôm làm việc chỉ xuất phát từ tình yêu đối với nghệ thuật. Tôi chưa thấy anh đòi hỏi sự đền bù lớn cho những công việc vất vả của mình bao giờ (trừ một trường hợp duy nhất đối với công tước Khôlzernhexơ). Anh thật vô tư hoặc thật thoải mái khi cự tuyệt việc giúp đỡ những người giàu có và những nhà quyền quý, nếu không tìm ra một điều gì thú vị trong sự điều tra bí mật của họ. Trong khi đó, hàng tuần liền anh sốt sắng với công việc của bất kỳ người nghèo nào, nếu công việc đó có thể làm bùng cháy trí tưởng tượng của anh, đem lại cho anh cơ hội để vận dụng tài nghệ của mình.

Năm 1895 là một năm đáng ghi nhớ. Hôm đã tiến hành nhiều cuộc điều tra đa dạng và thú vị. Khởi đầu là việc tìm ra những nguyên do khiến Hồng y giáo chủ Taxk đột ngột qua đời (theo nguyện vọng khẩn thiết của Vaticăng) và kết thúc là việc bắt tên tội phạm Minxôn, huấn luyện viên danh tiếng đồng thời là một ung nhọt thực sự ở Luân Đôn. Tấm thảm kịch đã nảy sinh theo sau những việc tai tiếng đó. Thuyền trưởng Pitơ Kêri đã chết trong tình cảnh bí ẩn và khủng khiếp nhất. Những trang ghi chép của tôi về hoạt động của Sơlốc Hôm sẽ khiếm khuyết lớn, nếu trong đó không có câu chuyện nào kể về sự cố phi thường này.

Trong khoảng tuần lễ đầu tiên của tháng bảy, như thường lệ, người bạn tôi ra đi và tôi hiểu rằng anh đang bận rộn bởi một công việc nào đó. Vào những  ngày này, nhiều người có dáng vẻ kệch cỡm và thô bạo, một vài lần rẽ vào chỗ chúng tôi. Họ hỏi thăm thuyền trưởng Bezin. Tôi biết chắc chắn Hôm đang che dấu cái tên đầy hăm doạ của mình bằng một thứ mặt nạ và một cái họ hư cấu này để tiến hành một vụ điều tra mới nào đây. Trong những vùng ngoại ô khác nhau của Luân Đôn, anh có ít nhất là năm chỗ kín đáo có thể thay đổi bộ mặt của mình. Hôm không kể gì với tôi về công việc mới, còn tôi thì không có thói quen khơi gợi sự cởi mở của anh. Lần đầu tiên Hôm cho tôi hiểu khuynh hướng hoạt động của mình bằng một kiểu thật lạnh lùng.

Một lần anh vội vã ra đi đến mức không kịp ăn sáng. Tôi vừa ngồi vào bàn ăn, thì đột nhiên anh bước vào, mũ vẫn đội ở trên đầu, còn bên nách thì cắp một cái xiên đâm cá to tướng từa tựa như cái ô.

 - Trời ơi, Hôm! – Tôi vừa kêu lên – Phải chăng anh muốn nói rằng anh đi khắp Luân Đôn với một vật khủng khiếp như thế?

- Không, tôi chỉ  đến chỗ lão hàng thịt rồi về.

- Đến lão hàng thịt à?

- Thế đấy, tôi trở về nhà với một cảm giác tuyệt vời. Anh biết không, luyện tập cơ bắp trước bữa ăn sáng thật ích lợi biết dường nào! Nhưng tôi đánh cuộc là anh sẽ không đoán được tôi tiến hành luyện tập như thế nào đâu.

- Tôi không có ý định dự đoán.

Hôm vừa cười vừa rót cho mình một cốc cà phê đầy:

- Giá anh có ghé thăm căn phòng phía sau tiệm buôn Allarzay, anh sẽ thấy cảnh tượng này: một súc thịt lợn còn nguyên cả con treo lơ lửng trên trần nhà và một anh chàng nào đấy sau khi cởi áo khoác ngoài, rõ ràng là đang gắng sức chọc thủng nó bằng cái vũ khí này. Anh chàng ấy chính là tôi đây. Than ôi! Thì ra tôi không thể đâm thủng được nó chỉ bằng một phát. Anh có muốn tự mình làm thử một lần không?

- Nhưng để chứng minh điều gì? Và vì sao anh hành động như thế?

- Tôi cảm thấy điều đó có can hệ gián tiếp tới câu chuyện bí ẩn xảy ra ở Uđmenx Li… A, Gốpkinx! Tôi nhận được điện của anh vào chiều hôm qua và tôi đã chờ anh. Hãy ngồi xuống đi! Bây giờ chúng ta sẽ bắt đầu ăn sáng.

Một người hơi gầy, lanh lợi, chừng ba mươi tuổi, bước vào chỗ chúng tôi. Anh ta trông khiêm tốn trong bộ complê bằng len. Có điều, phong cách của anh ta chứng tỏ anh luôn mặc quân phục. Tôi lập tức nhận ra ngay Xtenli Gốpkinx, một điều tra viên cảnh binh trẻ tuổi. Theo ý kiến của Hôm, anh ta đã đem lại những niềm hy vọng lớn lao. Đến lượt mình, Gốpkinx tự coi mình là người học trò của thám tử danh tiếng và hết lời ca ngợi phương pháp khoa học của Hôm.

Nét mặt của anh có vẻ cau có. Anh buông mình xuống ghế bành với một nỗi buồn sâu sắc.

- Không, xin cảm ơn các ông! Tôi đã ăn sáng rồi. Tôi nghỉ đêm ở ngay ngoài phố vì tôi đến đây để báo cáo mà!

- Ông cần báo cáo về chuyện gì vậy?

- Về sự thất bại. Đúng, về một sự thất bại hoàn toàn.

- Ông ỳ ra không làm gì à?

- Không.

- Vậy thì sao? Hình như tôi sẽ phải tham gia vào công việc này thì phải?

- Lạy trời, tôi khẩn khoản yêu cầu ông đấy, ông Hôm ạ. Lần đầu tiên người ta giao cho ông một việc quan trọng, mà tôi lại không đủ sức để hoàn thành nó. Tôi van ông, hãy giúp tôi nhé!

- Được, được. Tôi đã tìm hiểu tất cả những tài liệu điều tra. Nhân thể xin hỏi: ông nghĩ gì về việc chiếc túi thuốc lá được tìm thấy ở nơi diễn ra tội ác. Trong đó, lẽ nào không chứa lời giải đáp cho công việc này hay sao?

Gốpkinx hình như ngạc nhiên:

- Túi thuốc lá của người bị giết, thưa ông. Riêng trong chiếc túi có chữ đầu của tên anh ta. Nó được làm bằng da hải cẩu, bởi vì người quá cố trong nhiều năm liền làm nghề săn hải cẩu.

- Song ở trong túi không có tẩu thuốc.

- Vâng, thưa ông, chúng tôi không tìm thấy tẩu thuốc. Thật ra, ông ta hút thuốc ít thôi. Hơn nữa, ông ta có thể cầm thuốc cho bạn bè.

- Tất nhiên. Tôi chỉ muốn nói rằng: nếu bản thân tôi điều tra vụ này thì tôi sẽ biến chính cái túi thuốc thành điểm xuất phát cho công việc tìm kiếm của mình. Tuy vậy, bạn của tôi, bác sỹ Oát xơn, còn chưa hiểu câu chuyện này. Tôi không phản đối việc nghe lại câu chuyện đó đâu. Nào, hãy kể cho chúng tôi nghe điều chủ yếu nhất, ngắn gọn trong một đôi lời đi!

Xtenli Gôpkinx rút từ túi ra mảnh giấy có kẻ sọc hẹp:

- Trong lệnh của tôi có ít tư liệu về cuộc đời của viên thuyền trưởng đã mất: Pitơ Kêri. Ông sinh năm 1845 – nghĩa là ông đã năm mươi tuổi. Ông được coi là một trong những  người thợ săn hải cẩu và cá voi quả cảm và sành sỏi nhất. Vào năm 1883 ông điều khiển chiếc tàu đánh cá chạy bằng hơi nước Sừng biển xuất phát từ Đanzi. Trong năm đó, ông thực hiện được nhiều chuyến đi biển thành công và năm sau ông xin từ chức. Rồi ông tậu một dinh cơ không lớn lắm, dinh cơ Uđmenx Li, cạnh Phôrêxt Râu ở Xaxxêkx. Ông đã sống sáu năm tại đây. Và cũng tại đấy, ông chết cách đây vừa đúng một tuần.

Ông ta khác người bởi tính kỳ quặc quá đáng của mình. Trong cuộc sống hàng ngày, ông là một người trầm lặng, âu sầu và nghiêm nghị. Ông có vợ và một cô con gái hai mươi tuổi. Trông coi ngôi nhà của ông là hai cô gái trẻ trung. Đầy tớ gái thường xuyên thay đổi vì ở đó thật khó sống, thậm chí không thể chịu đựng nổi.

Kêri thường uống rượu. Khi nào cơn nghiện ở ông hoành hành, ông ta biến thành một con quỷ thực sự. Có khi giữa đêm khuya, ông đuổi vợ và con gái của mình ra khỏi nhà. Ông còn rượt theo họ khắp công viên với những quả đấm tối mắt tối mũi. Đôi khi họ kêu to đến nỗi những người sống bên cạnh cũng phải thức giấc.

Một lần ông phải ra toà vì đã đánh một vị linh mục già khi người linh mục này toan mở mắt cho ông. Nói tóm lại, ông Hôm ạ, thật khó lòng tìm thấy một người nào nguy hiểm hơn Pitơ Kêri. Tôi nghe nói ông ta đã như thế ngay khi còn chỉ huy tàu biển. Thuỷ thủ gọi ông là Pitơ hung bạo, không phải chỉ vì ông có khuôn mặt sạm nắng, chòm râu đen và rậm mà còn vì thói man rợ của ông – Nó đã đem lại những nỗi bất hạnh cho những người quanh ông. Chẳng cần phải nói cũng biết mọi người chung quanh thù ghét, xa lánh ông như thế nào. Tôi không thể nghe thấy một lời thương hại từ sự kết thúc bi thảm của đời ông.

Ông Hôm ạ! Chắc ông đã đọc biên bản điều tra về Ca bin tàu của con người này rồi. Nhưng bạn ông có lẽ vẫn chưa được nghe chút gì về nó. Cách ngôi nhà ở không xa, viên thuyền trưởng dựng cho mình một túp lều bằng gỗ và luôn gọi nó là Ca bin tàu. Đêm đêm ông ta ở đó. Đấy là túp lều đơn sơ một phòng nhỏ bé, bề ngang chừng ba mét và chiều dài chừng bốn mét. Chìa khoá túp lều ông thường để trong túi. Chính ông sửa soạn giường và quét dọn căn phòng của mình và không cho phép một ai bén mảng tới đó. Trên hai bức tường của túp lều, ông đục hai ô cửa sổ nho nhỏ và thường xuyên buông rèm. Một ô cửa sổ quay ra phía con đường làng. Có khi trong căn lều đèn sáng thâu đêm. Khách qua đường băn khoăn tự hỏi: không biết Pitơ hung bạo làm gì trong đó. Chính chiếc cửa sổ này, ông Hôm ạ, đã cho phép chúng ta xác minh một vài chi tiết thú vị vào thời gian điều tra.

Ông chắc chắn còn nhớ người thợ nề có tên là Xlêtêrô. Ông ta đã đi từ phố Rêxt Kên Râu vào khoảng gần một giờ sáng trước vụ giết người xảy ra chừng hai ngày đêm. Ông dừng lại cạnh dinh cơ viên thuyền trưởng và nhìn thấy ô vuông cửa sổ sáng lên rất rõ. Ông ta thề thốt là trên bức màn che hiện lên rất rõ một bóng người đàn ông trông nghiêng. Có điều, đấy không phải là Pitơ Kêri, người mà ông biết khá rõ. Người đàn ông này cũng có râu, nhưng râu của hắn ngắn. Nói một cách khác, râu của hắn xù hơn râu của viên thuyền trưởng. Người thợ nề khẳng định như vậy. Cần nói thêm rằng trước đó ông ta ngồi ở quán suốt hai giờ liền và khoảng cách từ đường đến ô cửa sổ lại quá xa. Ngoài ra, lời khai của ông ta liên quan đến ngày thứ hai, còn vụ giết người lại xảy ra vào đêm thứ tư.

Hôm thứ ba, Pitơ Kêri lâm vào tình cảnh khủng khiếp nhất. Rượu đã biến ông thành con thú dữ hung hăng và nguy hiểm. Ông lượn lờ quanh ngôi nhà. Còn những người đàn bà sau khi nghe giọng nói của ông thì đã bị khoá lại trong nhà. Buổi tối, ông trở về túp lều của mình muộn hơn thường ngày. Con gái ông ngủ cửa sổ mở toang. Gần hai giờ sáng có một tiếng kêu khủng khiếp vọng lại từ phía Ca bin tàu. Cô gái không để ý đến âm thanh đó, vì viên thuyền trưởng trong cơn say thường hay kêu la và chửi rủa ầm ĩ. Lúc bảy giờ sáng, một gia nhân nhìn thấy cánh cửa của túp lều mở toang hoác. Người này làm mọi người khiếp đảm tới mức nửa ngày sau đó người trong nhà không ai dám ghé tới chỗ ông ta. Sau khi nhìn qua cánh cửa mở, họ thấy một cảnh tưởng thật kinh khủng. Tái mặt lại vì sợ hãi, họ bắt đầu chạy vào làng. Một giờ sau, tôi  có mặt tại đó và bắt tay vào điều tra.

Ông Hôm, như ông biết đấy, thần kinh của tôi không đến nỗi tồi. Vậy mà, có trời chứng giám, tôi run lên khi tới túp lều. Khắp nơi đám ruồi nhặng bu vào thi thể kẻ bị giết kêu vù vù, còn nền và tường của túp lều thì hao hao giống lò sát sinh. Viên thuyền trưởng gọi chỗ ở của mình là Ca bin tàu. Quả thật, nó giống một khoang tàu. Anh hãy đi đến đó và anh sẽ cảm thấy như ở trên thành ca bin vậy. Ở một góc phòng có chiếc giường treo, bên cạnh là cái hòm tàu. Trên các bức tường treo các bản đồ đi biển và bức ảnh con tàu Sừng biển. Một chồng nhật ký đi biển trên nền – Tất cả đúng như một ca bin thuyền trưởng. Còn viên thuyền trưởng nằm ngay ở giữa những thứ ấy. Bộ mặt ông ta méo xệch như người phạm tội bị dày vò bởi nỗi thống khổ của địa ngục. Còn bộ râu rậm đen của ông dựng ngược lên trong cơn hấp hối. Bộ ngực nở nang của ông bị bằm nát bởi chiếc lao xiên cá  bằng thép. Chiếc lao cắm sâu vào bức tường gỗ. Viên thuyền trưởng bị ghim chặt vào tường tựa như con bọ dừa bị ghim chặt vào bìa các tông. Tất nhiên, ông đã chết đúng vào lúc ông la lên trong đêm.

Tôi đã làm quen với các phương pháp tìm hiểu của ông và đồng thời bắt đầu vận dụng chúng. Sau khi không cho phép đụng đến bất kỳ vật nào trong phòng, tôi xem xét rất tỉ mỉ trên mặt đất và trên nền nhà. Tuy nhiên không hề thấy dấu vết nào cả.

- Ông muốn nói là ông không nhận ra dấu tích nào chứ gì?

- Tôi xin cam đoan với ông là không có một dấu vết nào.

- Gốpkinx thân mến ạ, tôi đã tiến hành điều tra nhiều vụ, nhưng chưa một lần bắt gặp kẻ phạm tội nào có cánh cả. Tội nhân đứng bằng cả hai chân của mình và tất nhiên hắn sẽ lưu lại dấu vết nào đó, chạm phải hoặc làm xê dịch một cái gì đó. Hễ người nào có phương pháp truy tìm khoa học cố nhiên sẽ tìm ra sự chuyển đổi nhỏ nhặt nhất trong sự sắp đặt các sự vật chung quanh. Không thể tin rằng trong căn phòng đổ máu ấy lại không giữ lại những  vết tích có thể giúp chúng ta truy lùng kẻ phạm tội. Hơn nữa, từ biên bản điều tra, tôi dễ dàng nhận ra ông cần lưu tâm tới một vài hiện vật.

Người điều tra viên trẻ tuổi trở nên nghiêm nghị. Lời nhận xét cay độc của Hôm đã chạm vào vết đau thầm kín của anh ta.

- Ông Hôm ạ, tôi đã hành động một cách ngu ngốc khi không kịp thời mời ông. Tuy nhiên, trong phòng vẫn còn một vài đồ vật đáng được chú ý. Trước tiên là cái lao xiên cá mà kẻ sát nhân đã dùng để giết viên thuyền trưởng. Một người nào đấy đã gỡ nó ra khỏi bức tường. Hai cái lao xiên cá hiện còn treo ở móc của mình. Còn cái móc thứ ba thì trống không. Trên tay cầm có dòng chữ: Tàu Sừng biển Đanzi. Điều này rõ ràng chứng tỏ tội ác được tiến hành trong cơn thịnh nộ và kẻ giết người đã túm lấy vũ khí bất chợt rơi vào tay mình trước tiên. Việc ông Kêri ăn mặc tề chỉnh mặc dầu vụ giết người này xảy ra vào hai giờ sáng, dẫn tới ý nghĩ cho rằng ông ta có hẹn hò trước với kẻ sát nhân. Ngay việc trên bàn có một chai rượu Rum và hai chiếc cốc bẩn cũng nói về điều đó.

- Được – Hôm nói – có thể chấp nhận cả hai kết luận của ông. Nhưng, trong căn phòng còn tìm ra đồ nhậu nào khác không?

- Có, trên bàn còn có một cái mâm, ở đó có một chai rượu Cô nhắc. Song điều này không mang ý nghĩa gì đâu bởi chai rượu còn đầy, nghĩa là họ không đụng gì tới nó.

- Sự hiện diện của chúng có một vài ý nghĩa – Hôm nói – Còn những vật nào nữa theo ông có liên quan đến vụ án?

- Trên bàn còn có chiếc túi thuốc này.

- Ngay trên bàn này à?

- Vâng, ngay chính giữa bàn. Nó được làm bằng da hải cẩu thô cứng và được thắt bằng dây da. Bên trong túi thuốc có hai chữ cái P.K và có chừng nửa bao thuốc lá loại nặng mà các thuỷ thủ thường hút.

- Thật tuyệt vời! Còn gì nữa không?

Xtenli Gốpkinx rút trong túi ra một cuốn sổ tay bìa xám vàng. Tấm bìa của nó đã sần sùi và sờn rách, còn những trang giấy phía trong thì đã úa vàng. Các chữ cái đầu của tên họ “Đ. Kh. H và năm 1883 được ghi ở trang đầu tiên.

Hôm đặt cuốn sổ lên bàn và bắt đầu xem xét bằng tính tỉ mỉ vốn có của anh. Trong lúc đó, cũng như Gốpkinx, tôi nhìn cuốn sổ qua vai anh. Trên trang thứ hai, chúng tôi thấy các chữ cái C. T. C. Tiếp theo chừng hai, ba trang là những con số dày đặc. Trên những trang khác có các từ Argentina, Côxta Rica, Xao Paolô, rồi lại những tư liệu cũ bằng số và các ký hiệu gì đấy.

- Ông suy nghĩ như thế nào về những trang ghi chép này? – Hôm hỏi.

- Rõ ràng đây là sự kiểm kê cổ phần chứng khoán. Theo tôi Đ. Kh. Nh là chữ cái đầu tiên của tên người môi giới. Còn C. T. C có lẽ là khách hàng của ông ta.

- Hay là con đường sắt Thái bình dương – Canađa – Hôm nói.

Xtenli Gốpkinx lẩm bẩm chửi rủa rồi phát vào chân mình một cái.

- Tôi thật là một thằng ngu – Anh ta kêu lên – Hiển nhiên là ông hoàn toàn có lý. Bây giờ chúng ta chỉ còn phải đoán ý nghĩa các chữa cái Đ. Kh. H nữa thôi. Tôi đã xem bảng kiểm kê chứng khoán trong năm 1883 mà không tìm được người trung gian có cái tên bằng chữ cái đầu tiên như thế. Tôi đang có một hướng đi đúng đắn. Bởi vì hoàn toàn có thể đây là chữ cái đầu tiên của tên người đi đến chỗ viên thuyền trưởng vào đêm hôm ấy. Nói cách khác, đó chính là kẻ sát nhân. Cuốn sổ này chứa đựng nhiều tư liệu giá trị có thể giúp chúng ta tìm ra nguyên do của tội ác.

Cứ theo nét mặt của Hôm mà đoán thì anh hoàn toàn bị cuốn hút một cách bất ngờ bởi những phát hiện mới mẻ này.

- Tôi cần thừa nhận sự chính xác của những kết luận ở ông – Hôm nói – Cuốn sổ này chưa hề được nói tới trong biên bản điều tra. Nó làm thay đổi một vài phán đoán của tôi. Nhận định được tôi đưa ra để làm sáng tỏ tội ác này đã không có cơ sở trong cuốn sổ. Ông có ý định tìm kiếm chủ nhân của những tư liệu được nhắc tới ở đây không?

- Có. Tôi đã yêu cầu một số văn phòng khác nhau, nhưng đây lại là những cổ phần Nam Mỹ. Tôi sợ rằng phải vài tuần nữa mới nhận được điện trả lời.

Hôm tiếp tục xem xét tờ bìa cuốn sổ bằng kính lúp:

- Ồ, đây cố nhiên là vết bẩn – Hôm nói.

- Đúng, thưa ông, đây là những vết máu. Tôi đã nói là tôi nhặt cuốn sổ từ dưới nền nhà.

- Vết máu ở phía trên hay phía dưới?

- Ở phần tiếp giáp với nền nhà.

- Thế có nghĩa là cuốn sổ rơi xuống nền sau vụ giết người.

- Đúng như vậy, ông Hôm ạ! Tên sát nhân đã làm rơi xuống trong lúc vội vàng tẩu thoát. Cuốn sổ nằm ngay cánh cửa ra vào.

- Chắc có lẽ không tìm ra một tư liệu giá trị nào trong sổ gia tài của người quá cố?

- Không, thưa ông!

- Anh có lý do nào để  phán đoán đây là vụ ăn cướp tài sản không?

- Không. Rõ ràng không mất mát một thứ gì cả.

- Quỷ thật! Trường hợp này quả là kỳ lạ. Ơ đấy có dao không?

- Có. Con dao vẫn nằm nguyên trong bao, người ta chưa kịp rút ra. Nó nằm cạnh chân người bị giết. Bà Kêri nói đây là con dao của chồng bà ta.

Hôm trầm ngâm suy nghĩ một lát.

- Thôi được – Anh nói – chắc có lẽ tôi sẽ phải đến đó để quan sát thêm vậy!

Xtenli Gốpkinx vui sướng kêu lên:

- Cám ơn ông! Gánh nặng của tôi sẽ được giảm bớt nhiều lần.

Hôm giơ ngón tay lên doạ viên thanh tra:

- Mọi chuyện rõ ràng đơn giản hơn một tuần trước đây – Anh nói – nhưng hiện giờ chuyến đi của tôi có thể vẫn bổ ích. Oatxơn ạ! Anh không bận gì thì tôi sẽ rất vui nếu được anh đi cùng. Gốpkinx, hãy gọi xe ngựa đến đi. Sau bốn giờ nữa chúng ta sẽ khởi hành đến Phôrêxt Râu.

Từ tàu hỏa chúng tôi bước xuống một sân ga nhỏ bé, rồi đi chừng vài dặm nữa qua khu rừng thông rậm rạp còn nguyên vẹn. Vùng núi hiểm trở này trong suốt sáu mươi năm đã là pháo đài của Britanhi. Một khoảng rộng lớn được san bằng để lập những phân xưởng luyện gang đầu tiên của nước Anh. Hiện nay nền công nghiệp này đã được dời đến các vùng giàu có hơn ở phương Bắc. Gợi nhớ tới quá khứ chỉ còn những cánh rừng thưa thớt và những rãnh cày sâu trên mặt đất. Ở một khoảng trống trên sườn đồi màu xanh có một ngôi nhà dài xây bằng đá tự nhiên. Dẫn tới ngôi nhà là một con đường nhỏ ngoằn ngoèo thấp thoáng ẩn hiện giữa cánh đồng cỏ. Cạnh con đường có một túp lều nho nhỏ. Những  bụi cây bao bọc ba phía túp lều, còn cửa chính và cửa sổ thì hướng thẳng về phía chúng tôi. Có lẽ vụ án mạng đã diễn ra ngay tại đây.

Trước tiên Xtenli Gốpkinx đưa chúng tôi vào nhà. Anh ta giới thiệu chúng tôi với một người đàn bà mái tóc bạc phơ, mặt mày luôn cau có. Đó chính là vợ người bị giết. Những  nếp nhăn hằn sâu trên khuôn mặt bơ phờ, đôi mắt sâu hoắm lộ vẻ hoảng sợ. Tất cả những  cái đó chứng tỏ bà ta đã phải gánh chịu những năm tháng đau khổ và cay đắng đến mức nào. Cô con gái có mái tóc vàng, nước da xanh mét, mắt rực lên một cái nhìn ngỗ ngược. Cô ta nói thẳng là cô ta vui sướng bởi cái chết của cha. Cô sẵn lòng cảm tạ bàn tay đã giết chết ông. Pitơ Kêri đã tạo nên một không khí thật nặng nề và khủng khiếp trong ngôi nhà này. Chúng tôi cảm thấy dễ thở hơn khi bước ra ngoài trời và đi theo lối mòn do người thuyền trưởng quá cố đi lại nhiều lần tạo ra.

Túp lều hoá ra là một công trình xây dựng bằng gỗ đơn giản nhất trên đời. Nó có mái che mỏng manh và hai ô cửa sổ. Một ở ngay sát cửa ra vào, cái kia ở trên bức tường đối diện. Xtenli Gốpkinx rút chìa khoá từ túi quần ra, cúi xuống ổ khoá. Bỗng nhiên anh ta ngừng tay lại. Sự chăm chú lẫn kinh ngạc hiện trên nét mặt của anh.

- Có lẽ một ai đó muốn bẻ khoá – Anh ta nói.

 Không còn nghi ngờ gì nữa. Cánh cửa bị sây sát, những vết sướt trăng trắng nổi rõ trên màu sơn, hình như một ai đó vừa cạy cửa xong.

Hôm quan sát kỹ cửa sổ. Rõ ràng có người định mở cửa sổ mà không được. Có lẽ đây là kẻ phá phách thiếu kinh nghiệm.

- Thật lạ lùng! – Viên thanh tra nói – Tôi xin thề rằng chiều hôm qua chưa có những   vết sướt này.

- Cũng có thể một kẻ ngờ nghệch, hiếu kỳ nào từ trong làng đến chăng? - Tôi phán đoán.

- Không. Không thể như thế được. Ít người dân bén mảng tới đây để phá phách Ca bin này – không một ai có gan làm chuyện đó đâu! Ông nghĩ sao, ông Hôm?

- Tôi cho rằng chúng ta không gặp may rồi!

- Vậy, theo ông, hắn ta rồi sẽ lẻn đến nữa chăng?

- Rất có thể. Hắn thử cạy cửa bằng con dao nhíp bé tí. Việc đó không đem lại kết quả. Hắn đành phải làm gì bây giờ?

- Đêm nay hắn sẽ trở lại với một công cụ thích hợp hơn.

- Đúng. Sẽ thật là ngu ngốc nếu như chúng ta không rình bắt hắn. Còn bây giờ hãy cho phép tôi quan sát phía trong Ca bin này vậy.

Các vết tích của tấm thảm kịch đã mất, nhưng trong căn phòng, đồ đạc vẫn được giữ nguyên như đêm xảy ra vụ giết người. Khoảng hai giờ liền, Hôm chăm chú xem xét lần lượt từng đồ đạc. Nhưng cứ nhìn nét mặt của anh thì hình như sự tìm kiếm chưa đem lại kết quả đáng kể. Chỉ có một lần anh tạm ngừng sự nghiên cứu tỉ mỉ của mình và hỏi:

- Ông có lấy cái gì từ giá này xuống không, Gốpkinx?

- Không. Tôi không hề đụng đến một thứ nào cả.

- Ở đây có một cái gì đó đã được lấy ra: trong góc này của giá sach ít bụi hơn, có thể một cuốn sách đã nằm ở đây, cũng có thể là một cái hộp nhỏ…Thôi, ở đây tôi không thể làm cái gì hơn được nữa. Nào, chúng ta cùng dạo chơi trong cánh rừng tuyệt đẹp này đi, Oatxơn! Chúng ta sẽ ngắm nghía chim và hoa rừng vậy! Gốpkinx này, chúng tôi sẽ gặp lại ông ở đây muộn hơn. Không hiểu rồi chúng ta có chạm trán với anh chàng đã vào đây sáng hôm nay không nhỉ?

Khoảng mười hai giờ đêm chúng tôi đã bố trí mai phục xong. Gốpkinx muốn để cửa ngỏ, nhưng Hôm lo điều đó sẽ làm người lạ sợ hãi. Ổ khoá được cài sơ sài đến mức có thể mở nó bằng con dao cưng cứng nào đó cũng được. Hôm bố trí chúng tôi ngồi không phải ở phía trong túp lều mà ở phía bên ngoài, ẩn dưới những bụi cây nhỏ mọc dưới ổ cửa sổ thứ hai. Như vậy chúng tôi có thể theo dõi được người đó nếu như hắn thắp đèn và sẽ biết rõ được mục đích của việc hắn đến đây.

Sự chờ đợi dài lâu và nóng ruột bắt đầu. Chúng tôi run lên vì xúc động. Người thợ săn chắc cũng xúc động như vậy khi rình con thú rừng khổ sở vì chết khát ngay cạnh nơi uống nước của nó. Kẻ nào sẽ lén đến đây trong bóng tối dày đặc này? Đó là con hổ hung dữ, chỉ có thể chiến thắng nó bằng một cuộc đọ sức ác liệt với những nanh vuốt sáng loáng của nó hay đó là con chó núi nhát gan, chỉ nguy hiểm đối với những kẻ yếu đuối và không được tự vệ?

Chúng tôi ẩn mình trong bụi cây với sự im ắng tuyệt đối. Đầu tiên vọng đến chỗ chúng tôi là những  bước chân của khách đi đường về muộn cùng với những  giọng nói từ phía làng. Rồi mọi âm thanh ấy dần dần lắng đi. Cuối cùng, cảnh vật hoàn toàn yên tĩnh. Chỉ có tiếng chuông đồng hồ trên thánh đương xa báo cho chúng tôi hay là thời gian đang trôi đi. Những hạt mưa li ti thầm thì trên lá cây như mái nhà che chở cho chúng tôi .

Hai giờ ba mươi phút: giờ phút tối tăm nhất trước rạng đông đã đến. Chúng tôi đột nhiên giật mình: có tiếng cót két của chiếc cửa hang rào. Tiếng động rất nhỏ nhưng nghe rõ mồn một. Có người nào đó đi theo con đường ngoằn ngoèo dẫn đến túp lều. Lại im lặng hồi lâu. Tôi nghĩ đó chỉ là mối lo âu giả tạo. Đột nhiên chúng tôi nghe thấy những bước chân thận trọng đến từ phía sau túp lều. Rồi một lát sau là những tiếng loảng xoảng đanh sắc của thép. Hắn ta toan phá khóa chăng? Lần này, do hắn hành động khéo léo hơn hoặc do công cụ của hắn tốt hơn nên chẳng bao lâu bản lề của cánh cửa bắt đầu kêu cọt kẹt. Hộp quẹt được bật lên và khoảnh khắc sau ánh sáng dịu của ngọn nến đã dọi sáng phía trong căn phòng. Qua bức màn che mỏng, chúng tôi nhận ra tất cả những gì diễn ra ở phía bên trong.

Hắn là một người gầy ngẳng, còn trẻ nhưng có vẻ bệnh tật. Bộ ria mép màu đen làm nổi rõ khuôn mặt nhợt nhạt chết chóc của hắn. Có lẽ hắn chưa quá hai mươi tuổi. Tôi chưa lần nào nhìn thấy một người rơi vào một thảm trạng như vậy cả: răng hắn va vào nhau và cả cơ thể hắn run rẩy vì sợ hãi. Hắn ăn vận như một tên phong đãng: áo bludông có túi bên rộng thùng thình, chiếc quần thể thao cũn cỡn, trên đầu là chiếc mũ cát két bằng da. Hắn len lén nhìn quanh một cách lo ngại. Sau đó, hắn đặt cây nến lên bàn, lẩn mình vào trong góc phòng. Hắn trở lại với cuốn sổ lớn trong tay. Đó là một trong những cuốn nhật ký đi biển nằm trên giá sách. Rồi hắn khom mình trước bàn, lật lật từng trang mà vẫn chưa bắt gặp bản ghi chép mà hắn đang tìm kiếm. Lúc đó, hắn giận dữ xiết tay đập vào tập nhật ký, đặt nó xuống bàn và thổi tắt ngọn lửa.

Hắn chưa kịp trở ra thì Gốpkinx đã túm lấy cổ áo hắn. Tôi nghe tiếng thét vang lên man dại. Kẻ gian hiểu rằng hắn đã sa lưới. Ngọn nến lại được thắp sáng, hắn run rẩy quằn quại trong tay viên thanh tra.

- Này anh bạn yêu quý – Gốpkinx nói – Anh là ai và anh cần gì ở đây?

Gã thanh niên đã làm chủ được mình và gắng tỏ ra điềm tĩnh.

- Các ông có lẽ là những  thám tử? Hẳn các ông nghĩ rằng tôi có liên quan tới cái chết của thuyền trưởng Pitơ Kêri? Xin thề với các ông là tôi không hề can dự vào chuyện đó.

- Điều ấy rồi sẽ rõ sau – Gốpkinx nói – Trước tiên, hãy cho biết tên anh là gì?

- Đjôn Khốpli Nhêligan.

 Tôi nhận ra Hôm và Gốpkinx nhìn nhau.

- Anh làm gì ở đây?

- Tôi có thể hy vọng các ông không tiếc lộ bí mật của tôi được chứ?

- Tất nhiên, chúng tôi sẽ phát giác anh. Biết làm sao được.

- Trong trường hợp như thế tôi có quyền chối từ được không?

- Nếu không nói, anh buộc phải ra tòa.

Gã thanh niên giật mình.

- Vậy thì tôi sẽ nói. Tại sao tôi không có ý định  nói? Ý nghĩ cho rằng cái việc nhục nhã xưa cũ này lại lộ ra làm tôi kinh tởm. Có khi nào ông nghe nói về Đau Xôn và Nhêligan không?

Theo nét mặt của Gốpkinx, tôi biết anh ta không hề biết gì về những cái tên này. Nhưng Hôm đột nhiên giật mình và bảo :

- Anh muốn nói về các chủ nhà băng phương Tây? Họ đã bị vỡ nợ một triệu đồng và làm phá sản một nửa ngân sách Cornuen, rồi Nhêligan biến mất phải không?

- Hoàn toàn đúng. Nhêligan là cha của tôi.

Rốt cuộc, một cái gì đó thật sự xác định đã làm được làm sáng tỏ. Thế nhưng, toàn bộ vấn đề còn nằm giữa chủ nhà băng đã tẩu thoát với viên thuyền trưởng Pitơ Kêri. Chính chiếc lao xiên cá của ông ta đã găm viên thuyền trưởng vào tường.

Chúng tôi chăm chú lắng nghe câu chuyện của người trai trẻ.

- Sự vỡ nợ này thực tế chỉ đụng đến cha tôi, Đau Xôn đã chuồn từ trước. Vào thời gian ấy, tôi vừa tròn mười tuổi, song tôi đã đủ hiểu và cảm thấy tất cả sự ô nhục và nỗi khủng khiếp của những gì đã xảy ra. Mọi người nói là cha tôi đánh cắp tất cả giấy tờ quan trọng và bỏ chạy. Điều đó là không đúng. Cha tôi cả quyết là nếu có thời gian thực hiện thì mọi chuyện chắc sẽ êm thấm. Ông sẽ thanh toán đủ tiền cho mọi khách hàng. Cha tôi khởi hành tới Nôvergia trên một chiếc thuyền buồm nhỏ trước khi có lệnh bắt ông. Tôi nhớ, đêm cuối cùng khi từ biệt mẹ tôi, ông để lại ở chỗ chúng tôi bảng kê khai các giấy tờ quan trọng mà ông mang theo mình. Ông thề là sẽ khôi phục tên tuổi lương thiện của mình và không một ai được sự uỷ nhiệm lại của ông phải chịu đau khổ cả. Từ đấy, chúng tôi bặt tin tức về ông. Cả con thuyền lẫn cha tôi đều mất tích. Tôi và mẹ tôi đều tin rằng ông đã yên nghỉ trên biển cả. Trong quan hệ gia đình, chúng tôi có một người bạn thân tín. Gần đây anh cho biết là có một số tài liệu quan trọng của cha tôi lại xuất hiện ở Luân Đôn. Các ông thử tưởng tượng xem chúng tôi ngạc nhiên đến mức nào? Tôi bỏ ra hàng tháng trời để tìm kiếm. Tôi đã trải qua nhiều thất bại và trắc trở. Cuối cùng xác định được viên thuyền trưởng Pitơ Kêri, chủ nhân của túp lều tồi tàn này bán chúng.

Tôi bắt đầu hỏi dò về ông ta. Tôi biết ông từng chỉ huy con tàu đánh cá voi trở về từ Bắc Cực đúng vào thời gian cha tôi đi tới Nôvergia. Mùa thu năm ấy tiết trời xấu, trên biển thường có giông bão. Con thuyền nhỏ bé của cha tôi có lẽ bị trôi dạt về phía Bắc. Ở đó, tàu của thuyền trưởng Pitơ Kêri có thể sẽ gặp nó. Nếu thật sự đúng như vậy thì cha tôi thất lạc ở đâu? Trong bất kỳ trường hợp nào, nếu Pitơ Kêri giúp tôi giải thích được các giấy tờ đó rơi vào thị trường như thế nào thì tôi cũng sẽ xác định rõ ràng là cha tôi không bán chúng, rằng ông cầm chúng theo người không vì bất cứ tính toán vụ lợi nào cả.

Tôi đi tới Xaxxêkx để thăm viên thuyền trưởng nhưng đúng vào thời gian này ông đã chết một cách đau đớn. Tôi được đọc những trang mô tả Ca bin tàu của ông trong biên bản điều tra. Giữa bao điều khác biệt, tôi nhận ra điều này: những  tập nhật  ký đi biển xưa kia của con tàu ông ta nằm ở đó. Tôi cho rằng tôi sẽ mãn nguyện nếu đọc được trong tập nhật ký này chuyện gì đã xảy ra vào tháng tám năm 1883 trên con tàu Sừng biển. Bởi nếu được như thế, tôi sẽ biết rõ số phận còn bí ẩn của cha tôi. Đêm hôm qua, tôi gắng đoạt lấy tập nhật ký nhưng không thể mở được cửa. Hôm nay mong muốn của tôi thành công hơn, song tôi phát hiện ra là những trang có liên quan đến ngày tháng ấy đã bị xé, và đúng lúc ấy các ông đã túm lấy tôi…

- Tất cả chỉ có vậy thôi sao? – Gốpkinx hỏi.

- Vâng, đó là tất cả sự thật – Mắt chàng trai đảo quanh khi nói những từ này.

-  Anh không nhớ gì thêm nữa chứ?

Hắn lưỡng lự:

 - Không ạ!

 -  Trước đêm hôm qua, anh không ở đây sao?

 - Không.

 -  Anh giải thích  như thế nào về điều này?

Gốpkinx nhấn giọng khi chìa cho hắn coi cuốn sổ tay rủi ro với những hàng chữ đầu tiên của hắn trên trang thứ nhất và những vết máu ở ngoài bìa.

Người thanh niên hoàn toàn bị nhụt chí. Hắn đưa tay ôm lấy mặt, cả người hắn run lên:

-  Các ông lấy được từ đâu thế – Hắn rên rỉ – Tôi…, tôi không biết. Tôi nghĩ là tôi đánh mất nó ở khách sạn.

-  Đúng vậy! – Gốpkinx lạnh lùng nói – Nếu anh chưa nói thì bây giờ sẽ phải nói với tòa án. Hãy cùng đi với chúng tôi đến Sở Cảnh binh … Ông Hôm ạ, tôi rất biết ơn ông cùng bạn ông, vì các ông đã đến đây giúp tôi. Thì ra, không cần đến sự có mặt của các ông mà tôi vẫn dễ dàng đưa công việc đến kết thúc. Nhưng dẫu sao tôi vẫn rất cảm ơn các ông. Những căn phòng ở khách sạn Bremblitai đã dành sẵn chờ các ông, bởi vậy chúng ta có thể cùng đi với nhau chứ?

Sáng hôm sau, chúng tôi quay trở về Luân Đôn.

- Này! Oatxơn! Ý kiến của anh về tất cả những chuyện đó  ra sao? – Hôm hỏi.

- Tôi thấy anh không thật hài lòng.

- Ồ không, Oatxơn thân mến ạ, tôi hoàn toàn thoả mãn. Có điều đến lúc này tôi chưa thể tán tụng Xtenli Gốpkinx được. Tôi thất vọng bởi anh ta đấy. Tôi chờ đợi anh ta một cái gì hơn thế kia. Luôn luôn có phương án thứ hai giải quyết các nhiệm vụ đặt ra. Cần phải tìm kiếm nó. Đó là nguyên tắc trước tiên của công việc điều tra hình sự.

- Ở  đây có cách giải quyết thứ hai nào vậy?

- Cái đó làm cơ sở cho sự điều tra của bản thân tôi. Rất có thể nó sẽ không đem lại kết quả. Tôi chưa thể nói trước được điều gì, song tôi sẽ theo đuổi con đường đó đến cùng.

Một vài bức thư đang chờ Hôm ở phố Bâykơ. Anh vội cầm lấy một lá, bóc ra xem rồi bật cười đắc thắng.

- Thật tuyệt vời, Oatxơn ạ, phương án thứ hai đã chín muồi. Anh có giấy mẫu điện tín không? Hãy thảo cho tôi đi: “Xamnher, phái viên tàu thuỷ Retkliph – khaybây. Hãy đến ba người vào 10 giờ sáng mai. Bezin”. Đấy là tên tôi trong giấy đó. Và bức điện thứ hai: “Điều tra viên Xtenli Gốpkinx , Phố Lôrơ 46, Brinkxtôn, hãy tới ăn sáng vào ngày mai lúc 9 giờ 30. Rất quan trọng. Hãy điện nếu không thể đến được. Sơlốc Hôm”. Thế đấy, Oatxơn ạ! Con quỷ này đã săn đuổi tôi suốt mười ngày nay. Giờ đây tôi muốn thoát khỏi nó. Ngày mai tôi hy vọng sẽ kết thúc công việc này, kết thúc vĩnh viễn.

Đúng giờ hẹn, thanh tra Xtenli Gốpkinx có mặt. Tất cả chúng tôi cùng ngồi ăn bữa sáng ngon lành mà bà Hơtxơn đã dọn sẵn. Gốpkinx rất sảng khoái bởi sự thành công của mình.

- Ngay trong công việc này ông có tin là sự giải thích của ông đúng đắn không? – Hôm quay về phía người thanh tra hỏi.

- Còn thế nào nữa! Câu chuyện đã hoàn toàn rõ ràng.

- Thế mà theo tôi công việc lại chưa được kết thúc đâu.

- Ông khiến tôi ngạc nhiên đấy, ông Hôm ạ! Còn có thể đòi hỏi thêm gì nữa nào?

- Phải chăng cách giải thích của ông đã bao quát mọi phương diện của công việc?

- Hiển nhiên là như vậy! Tôi biết chàng trai Nhêligan đến khách sạn Bremblitai vào đúng ngày xảy ra sự cố. Tôi đến đây làm ra vẻ như để chơi Gôliph (1). Phòng hắn ở tầng một. Tôi đi khỏi rồi hắn mới sực nghĩ ra. Vào đêm đó, hắn đi đến Uđmerxli gặp Pitơ Kêri tại túp lều, hục hặc với ông ta và dùng lao xiên cá giết ông ta. Khiếp đảm vì bàn tay giết người của mình, hắn chạy ra khỏi túp lều đánh rơi cuốn sổ xuống nền nhà. Hắn mang cuốn sổ đến vì hắn muốn lục vấn Pitơ Kêri về các giấy tờ quan trọng này. Chắc ông cũng nhận thấy rằng một vài giấy tờ có giá trị được đánh dấu bằng các chữ thập trong danh sách. Đó là những giấy tờ được bán ở thị trường Luân Đôn. Nhưng rõ ràng phần lớn giấy tờ còn nằm ở chỗ Pitơ Kêri. Anh chàng Nhêligan muốn chiếm lấy những giấy tờ này để trả các món nợ của cha mình. Sau khi tháo chạy, hắn không dám đến gần túp lều nữa. Thế nhưng cuối cùng hắn kiên quyết đoạt lấy bằng được những  tin tức cần thiết. Thật đơn giản và sáng tỏ, chẳng lẽ không đúng vậy sao?

Hôm mỉm cười lắc đầu:

- Tôi thấy trong kiến giải của ông có một chỗ khiếm khuyết, Gốpkinx ạ! Giả thuyết của ông chưa phải là hoàn toàn sự thật. Ông đã thử chọc thủng thi thể bằng chiếc lao xiên cá chưa? Chưa hả? Thế đấy, ông phải đặc biệt lưu ý tới chi tiết này. Anh bạn Oatxơn của tôi có thể kể cho ông nghe là tôi đã mất cả buổi sáng để tập làm công việc đó như thế nào. Thật không chút dễ dàng như ta tưởng đâu. Phải cần một đôi tay mạnh mẽ và được rèn luyện. Như đâm vào viên thuyền trưởng mạnh đến nỗi chiếc lao xuyên qua thân thể ông lại cắm sâu vào tường gỗ. Có thể giả định là một chàng trai ốm yếu lại làm chuyện đó được chăng? Anh ta có phải là người uống rượu với Pitơ hung bạo vào đêm khuya? Có phải bóng trông nghiêng của anh ta có thể nhìn thấy qua rèm cửa sổ hai ngày trước đó? Không, không phải Gốpkinx ạ! Chúng ta buộc phải tìm một kẻ nào đó đáng sợ hơn kia.

Trong khi Hôm nói, bộ mặt của người thanh tra trông như càng dài ra. Mọi tính toán và hy vọng của anh ta gần như bị sụp đổ. Nhưng anh ta không dễ dàng quy hàng.

- Ông Hôm ạ! Ông không thể phủ định việc Nhêligan có mặt ở túp lều vào đêm đó được. Cuốn sổ, đấy là bằng chứng hùng hồn của việc này. Theo tôi, đối với toà án, các tư liệu vậy là đã đầy đủ. Ông cho rằng trong đó còn có chỗ chưa thuyết phục, nhưng điều chủ yếu nhất là anh ta đã bị giam giữ. Còn con người “đáng sợ hơn” của anh ta thì tôi lại chưa trông thấy, ông Hôm ạ!

- Tôi có xu hướng cho rằng con người ấy hiện đang leo trên cái thang của chúng ta – Hôm điềm tĩnh trả lời – Oatxơn ạ! Tôi cảm thấy tốt hơn cả là anh cầm khẩu súng lục này trong tay – Hôm đứng lên và đặt mảnh giấy chi chít những  dòng chữ lên bàn con rồi đứng vào bên cạnh – Bây giờ chúng ta hãy sẵn sàng! - Anh nói thêm.

Có nhiều giọng nói thô tục đập vào tai chúng tôi. Sau đó bà Hơtxơn đẩy cửa bước vào. Bà cho biết có ba người đàn ông hỏi viên thuyền trưởng Bezin.

- Hãy cho họ vào từng người một – Hôm nói.

- Đầu tiên một người thấp, mập, má đỏ hồng, bộ râu quai nón rậm rạp bước vào. Hôm rút trong túi ra một bức thư.

- Tên anh là gì? – Hôm hỏi.

- Đgiaimx Lankaxtêr.

…………………………………………………………………………………

(1) Một kiểu chơi bóng ở Anh.

 

- Lankaxtêr ạ! Tôi không muốn, nhưng hết cả rồi. Hãy yên tâm đi vào phòng bên và chờ một lát vậy!

Người thứ hai là một anh chàng đầu trọc, cao ngẳng và gầy đét. Nước da của hắn có vẻ bệnh hoạn. Hắn tên là Khui Pêttinô. Hắn cũng bị từ chối và nhận lệnh chờ đợi.

Người khách thứ ba có vẻ bên ngoài thật đáng chú ý. Bộ mặt hung dữ của hắn phủ đầy tóc và râu rậm rạp. Từ dưới đôi lông mày sâu róm rậm rì, hai con mắt u ám của hắn sáng lên can đảm. Hắn chào mọi người rồi cọ cọ chiếc mũ cát két vào tay trong tư thế đứng của người đi biển .

- Anh tên là gì? – Hôm hỏi.

- Patrich Kêrxi.

- Thợ phóng lao phải không?

- Đúng vậy, thưa ông. Hai mươi sáu chuyến biển.

- Hình như từ Đanzi?

- Đúng vậy.

- Anh có đồng ý đi với tàu thám hiểm không?

- Được. Tiền công bao nhiêu?

- Sáu bảng Anh một tháng. Anh có thể khởi hành ngay được chưa?

- Chỉ cần nhận trang thiết bị.

- Anh đã có giấy tờ chưa?

- Có. Thưa ông.

Hắn rút ra một bó giấy má lem luốc và sờn nát. Hôm lướt nhìn rồi trả lại cho hắn.

- Tôi đang cần một người như thế – Hôm nói – Bản hợp đồng ở trên bàn bên kia. Hãy ký đi! Mọi việc thế là xong.

Tên thuỷ thủ khệnh khạng đi qua căn phòng cầm lấy bút.

- Ký vào đây hả? - Hắn hỏi sau khi cúi khom lưng xuống bàn.

Hôm cúi xuống ngang vai hắn rồi dùng tay thít chặt lấy cổ hắn.

- Giờ đây thì mọi chuyện đã đâu vào đấy! – Hôm nói.

Tôi nghe thấy tiếng loảng choảng của thép và tiếng rống giận dữ của con bò đực. Giữa lúc đó, Hôm cùng tên thuỷ thủ sau khi ẩu đả nhau đều lăn lóc trên nền nhà. Tên thuỷ thủ có sức mạnh thật ghê gớm. Hôm khéo léo đeo vào tay hắn chiếc còng sắt. Thế mà hắn vẫn làm tình làm tội người bạn tôi. Nhưng tôi đã cùng Gốpkinx nhảy bổ vào giúp anh. Chỉ khi nòng súng lục lạnh ngắt dí sát vào thái dương, hắn mới nhận ra mọi sự kháng cự đều đã vô hiệu. Chúng tôi dùng dây trói chặt hắn, dựng hắn lên, thở hổn hển vì cuộc đọ sức quyết liệt.

- Tôi cần phải xin lỗi ông, Gốpkinx ạ! – Sơlốc Hôm nói – Trứng lacoóc tôi  e đã nguội mất rồi. Nhưng tôi nghĩ rằng sự kết thúc thành công cuộc điều tra như vậy sẽ khiến ông ăn ngon miệng. Có đúng thế không?

Xtenli Gốpkin lặng người đi vì kinh ngạc.

- Cái gì sẽ được chứng minh ở đây vậy, ông Hôm? Cuối cùng anh ta buột miệng nói trong khi mặt đỏ bừng lên một cách khổ sở – Hình như ngay từ đầu tôi đã làm một điều ngu ngốc. Không nên có một giây phút nào quên rằng: ông là người thầy, còn tôi luôn chỉ là người học trò. Thậm chí cho đến bây giờ khi chứng kiến công việc của ông, tôi vẫn chưa nắm bắt được ông đã tiến hành như thế nào? Và điều đó có nghĩa ra sao?

- Thôi được! – Hôm từ tốn nói – Tất cả chúng ta đều được trưởng thành trong những  sơ sót của mình. Từ bây giờ anh hãy luôn nhớ điều này: không nên bỏ qua phương án thứ hai trong khi tìm hiểu sự việc. Anh bị cuốn hút bởi chàng Nhêligan tới mức quên mất Patrich Kêrxi. Vì đây chính là kẻ giết Pitơ Kêri .

Giọng khàn khàn của tên thuỷ thủ ngắt lời anh:

- Hãy nghe đây, các ông! Tôi không hề phàn nàn là các ông đã đối xử thô lỗ với tôi. Thế nhưng dẫu sao cũng cần gọi sự vật bằng chính cái tên của nó. “Kẻ giết Pitơ Kêri”. Tôi tuyên bố thế này: Tôi buộc phải giết ông ta. Đây là hai việc hoàn toàn khác nhau. Có thể các ông không tin? Có thể các ông cho rằng tôi là kẻ đặt điều?

- Hoàn toàn không - Hôm trả lời - Chúng tôi sẵn lòng nghe tất cả những gì anh muốn thổ lộ.

- Tôi sẽ nói ít thôi? Xin thề có trời chứng giám, mỗi lời nói của tôi đều là sự thật. Tôi biết Pitơ hung bạo. Và khi ông ta cầm dao thì tôi túm lấy chiếc lao xiên cá bởi tôi hiểu rằng chỉ có một trong hai chúng tôi được sống thôi. Và thế là ông ấy chết. Có thể điều đó được gọi là sự giết người cũng nên. Với tôi tất cả đều như nhau. Chỉ có điều tôi thích tắt thở bởi sợi dây thít lấy cổ hơn là bởi con dao của Pitơ hung bạo thọc vào tim.

- Vì sao anh có mặt trong ngôi nhà của ông ta? - Hôm hỏi.

- Tôi sẽ kể mọi chuyện theo trình tự của chúng. Chỉ có điều hãy để tôi ngồi xuống vì như vậy sẽ dễ nói hơn. Chuyện này bắt đầu vào tháng tám năm 1883. Pitơ Kêri là chủ con tàu Sừng biển. Còn tôi là thợ phóng lao dự phòng. Chúng tôi len lỏi qua những  tảng băng và trở về nhà. Gió ngược chiều tạt vào chúng tôi, còn cơn bão biển thì suốt một tuần liền không hề dịu đi một chút nào. Đột nhiên chúng tôi đụng phải một chiếc thuyền nhỏ. Nó  đang trôi dạt về phương Bắc. Cả tàu chỉ còn một người sống sót, nhưng người đó không phải là thuỷ thủ. Có lẽ những người trên thuyền quyết định xuống ca nô tạt vào bờ biển Nauy và đã chết đuối hết rồi.

Thế là chúng tôi dìu người đó lên thuyền mình. Ông ta trò chuyện hồi lâu với người thuyền trưởng trong ca bin. Tất cả đồ đạc của ông được nhận vào thuyền chúng tôi chỉ gồm có một hộp sắt tây. Theo chỗ tôi biết thì không một ai gọi tên người đó lấy một lần. Song đêm thứ hai ông ta biến mất. Hình như ông biệt tăm biệt tích. Người ta kháo nhau rằng có lẽ chính ông ta nhảy xuống nước, cũng có thể ông ta ngã ra khỏi mạn tàu – Vào đêm ấy một cơn giông rất mạnh nổi lên. Chỉ có một người biết được điều gì đã xảy ra với ông ta – Đó là tôi. Bởi vì vào một đêm tối vắng vẻ, cách hai ngày khi chúng tôi đi qua những ngọn đèn biển của các hòn đảo Xcốtlen, thì chính mắt tôi đã trông thấy viên thuyền trưởng túm lấy chân ông ta quăng xuống biển.

Tôi không mở mồm nói với ai một lời nào cả. Tôi nghĩ để xem cái gì sẽ tiếp tục xảy ra. Đến Xcốtlen không một ai trong chúng tôi nhớ và hỏi chuyện này nữa. Người ấy chết một cách tình cờ. Không ai quan tâm đến việc này làm gì. Chẳng bao lâu Pitơ Kêri xin nghỉ hưu. Phải nhiều năm sau tôi mới biết chỗ ông ta cư trú. Tôi đoán là ông ta nhúng tay vào tội ác chỉ vì chiếc hộp sắt tây ấy mà thôi. Tôi nghĩ là ông ta sẽ đền đáp tôi như là một nghĩa vụ để khiến tôi không để lộ ta chuyện đó.

Qua một người thuỷ thủ gặp ông ta ở Luân Đôn, tôi biết ông hiện đang sống ở đây. Tôi đi đến nhằm bón rút ông ta một thứ gì đó. Đêm đầu tiên ông ta xử sự một cách biết điều. Ông hứa sẽ cho tôi một khoản tiền để tôi suốt đời được giải thoát khỏi biển cả. Hai đêm sau chúng tôi sẽ thoả thuận dứt khoát. Tôi đến và thấy ông ta trong cơn say. Ông ở trong một trạng thái đốn mạt nhất. Chúng tôi ngồi uống rượu và bắt đầu nói về thời gian trước kia. Ông ta càng uống nhiều, tôi càng ít ưa nhìn vẻ mặt của ông. Tôi để ý đến chiếc lao xiên cá trên tường. Có thể nó sẽ rất cần thiết cho tôi – tôi nghĩ vậy. Và cuối cùng điều đó đã đến: ông ta giật lấy con dao xếp lớn, sấn đến tôi, miệng phun ra cả nước miếng và những lời chửi rủa. Tôi nhận ra là ông ta sẵn sàng lao mình vào tội lỗi. Nhưng ông ta chưa kịp mở dao thì tôi đã dùng chiếc lao xiên cá đâm ông dính vào tường. Trời ơi, ông ta rú lên thê thảm! Từ đó, bộ mặt của ông ám ảnh tôi, không cho tôi được ngon giấc … Máu tuôn trào, còn tôi thì đứng và chờ. Thế nhưng chung quanh vẫn yên ắng. Tôi lấy lại bình tĩnh. Nhìn quanh, tôi thấy chiếc hộp sắt tây đang nằm trên giá sách. Tôi có quyền sử dụng nó chẳng khác gì Pitơ Kêri. Do vậy, tôi lấy nó và lủi khỏi căn lều. Thật là ngu ngốc, tôi lại để quên chiếc túi đựng thuốc lá trên bàn.

Còn bây giờ tôi sẽ kể đến phần ly kỳ nhất của câu chuyện này. Tôi vừa thoát ra ngoài thì đột nhiên nghe thấy tiếng bước chân của một ai đó. Tôi lẩn mình vào bụi cây. Có một người đang lẻn tới gần túp lều. Hắn vào trong phòng rồi la lên như một kẻ phát khùng. Sau đó, hắn ba chân bốn cẳng chạy ra ngoài. Tôi ranh mãnh hơn, đi bộ vượt qua mười dặm tới Tanbrit Jneux, nhảy lên tàu và đi đến Luân Đôn .

Tôi mở chiếc hộp ra. Té ra trong đó không có lấy một đồng chinh. Trong hộp chỉ có giấy tờ. Tôi không có ý định bán nó. Lúc ấy, tôi không còn quyền hạn gì với Pitơ hung bạo nữa. Tôi lâm vào thế bí. Ở Luân Đôn tôi không có lấy một đồng dính túi. Tôi chỉ còn lại nghề nghiệp của mình. Thấy niêm yết thu nhận thợ phóng lao với khoản tiền công lớn, tôi liền đi tới chỉ nhánh đường biển và họ chuyển tôi đến đây. Đấy là tất cả những  gì tôi biết được. Tôi đã kết liễu Pitơ hung bạo. Thế nhưng tòa án cần biết ơn tôi là đã tiết kiệm cho Nhà nước khoản chi phí một sợi dây gai.

- Những lời khai rất đáng tin cậy! – Hôm nói trong khi anh đứng dậy và bắt đầu hút thuốc – Gốpkinx ạ! Tôi cho rằng ông đừng mất thời giờ mà cần áp giải ngay kẻ phạm tội tới một nơi chắc chắn hơn. Căn phòng này không hoàn toàn thích hợp với việc giam giữ. Còn ông Patrich Kêrxi, ông chiếm quá nhiều chỗ trên chiếc thảm của chúng tôi đấy!

- Tôi chưa biết nên cảm tạ ông như thế nào, ông Hôm ạ! – Gốpkinx nói – Đến bây giờ tôi vẫn chưa hiểu ông đạt kết quả như thế bằng cách nào?

Đơn giản thôi! Tôi đã nắm lấy mối liên hệ vững chắc ngay từ đầu. Tôi sớm biết về cuốn sổ. Nó rất có thể sẽ khiến tôi quẫn trí như anh. Nhưng tất cả những gì tôi nghe được về công việc này chỉ đưa tới một khuynh hướng: sức mạnh đáng gờm, kỹ năng sử dụng lao xiên cá, chai rượu Rum, túi thuốc được làm từ da hải cẩu với thứ thuốc nặng – tất cả những  thứ ấy nói về người thuỷ thủ, hơn nữa nói về người đánh cá voi. Tôi đã tin vào chữ cái đầu tiên của tên người P. K chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Túi thuốc lá không phải là của Pitơ Kêri bởi ông ta ít hút thuốc và trong ca bin tàu của ông không tìm thấy tẩu thuốc. Ông còn nhớ tôi có hỏi là trong “ca bin tàu” có Uýchky và Cônhắc không? Ông trả lời rằng có. Thế mà có ai ngoài những thuỷ thủ lại uống Rum, khi trong tay lại là Cônhắc và Uýchky? Quả tôi đã tin là người ấy chắc phải là thuỷ thủ.

- Còn ông truy tìm hắn như thế nào?

- Ông bạn ạ, thật vô cùng đơn giản. Người thuỷ thủ này chỉ có thể là một trong những  người cùng đi biển với Kêri trên con tàu Sừng biển. Theo chỗ tôi biết thì viên thuyền trưởng chưa bao giờ đi biển trên một con tàu nào khác. Tôi đã mất ba ngày cho các bức điện đến Đanzi để xác minh những tên người trong đội thuỷ thủ trên tàu Sừng biển vào năm 1883. Khi tôi biết là trong danh sách thợ phóng lao có Patrich Kêrxi thì hầu như sự điều tra của tôi đã kết  thúc. Tôi cho rằng chắc có lẽ người này hiện đang ở Luân Đôn và có ý định rời khỏi Anh quốc trong thời gian tới. Cho nên tôi dừng vài ngày ở Ixt Enze, bịa ra cái gọi là đoàn thám hiểm Bắc cực, đề xuất những điều kiện cám dỗ đối với những người thợ phóng lao, những người sẽ phục vụ dưới sự điều khiển của thuyền trưởng Bezin. Và đây chính là kết quả.

- Thật là tuyệt vời! – Gốpkinx thốt lên – Đơn giản đến tuyệt vời!

- Ông cần nhanh chóng thả anh chàng Nhêligan ra – Hôm nói – Tôi nghĩ, ông nên xin lỗi anh ta. Cần trả lại anh ấy chiếc hộp sắt tây. Nhưng cố nhiên những giấy tờ quan trọng bị Pitơ Kêri bán đi thì vĩnh viễn không bao giờ hoàn lại được nữa. Xe đến rồi kìa! Gốpkinx, ông có thể dẫn người này đi được rồi! Nếu cần sự có mặt của tôi ở toà án thì hãy báo đến Nôvergia cho tôi biết. Địa chỉ chính xác tôi sẽ thông báo cụ thể cho ông sau.