Những hình nhân nhảy nhót

Sơlốc Hôm ngồi gập người suốt mấy giờ liền trước ống nghiệm bằng thủy tinh có một chất gì đó được nấu một cách đặc biệt để biến thành một chất khác có mùi khăn khẳn hơn. Đầu anh cúi xuống sát ngực, và tôi cảm thấy anh giống một con chim gầy guộc lạ lùng với bộ lông màu xám và cái mào màu đen.

- Thế đấy, Oátxơn ạ! – Đột nhiên anh cất tiếng nói – Chắc anh không có ý định bảo quản những chứng khoán Nam Phi chứ?

Tôi giật mình vì kinh ngạc. Mặc dầu những  khả năng phi thường của Hôm đã quen với tôi, sự xâm nhập đường đột này vào ý tưởng kín đáo nhất của tôi vẫn hoàn toàn không thể giải thích được.

- Đồ quỷ sứ! Sao anh biết được điều đó? - Tôi hỏi.

Anh quay lại, ngồi lên ghế, trên tay cầm chiếc ống nghiệm bốc hơi nghi ngút. Đôi mắt của anh sáng lên sung sướng.

- Hãy thú nhận đi, Oátxơn! Anh hoàn toàn bị quẫn trí rồi phải không? - Hôm hỏi.

- Xin thú nhận.

- Đáng lẽ tôi ép anh viết về điều đó lên giấy và kí tên vào đấy.

- Vì sao?

- Bởi sau năm phút nữa, anh sẽ nói rằng tất cả chuyện đó thật cực kỳ đơn giản.

- Tôi cho rằng sẽ không bao giờ tôi làm như vậy.

- Rồi sẽ rõ, Oátxơn  yêu quý của tôi ạ… - Anh đặt ống nghiệm vào giá đỡ và chuyển sang giảng cho tôi nghe với dáng vẻ của một giáo sư trên giảng đường  - Thật khó xây dựng phần kết luận mà ở đấy cái tiếp theo sau xuất phát từ cái trước đó. Nếu loại bỏ mọi khâu trung gian và chỉ thông báo cho người nghe khâu đầu tiên và khâu sau cùng thì có thể khiến người nghe ngặc nhiên đấy, song đó chỉ là ấn tượng giả tạo. Sau khi tôi để ý tới chỗ trũng giữa ngón trỏ của bàn tay trái anh, tôi dễ dàng đi đến kết luận rằng anh chưa dự định đặt vốn không lấy gì làm lớn của mình vào Sa khóang vàng.

- Nhưng tôi chưa hề biết giữa hai điểm này có mối liên hệ với nhau như thế nào?

- Tôi sẵn sàng tin anh. Tuy nhiên, ngay lập tức tôi sẽ chứng minh cho anh thấy rằng có tồn tại một mối liên hệ như thế. Đây là những  mắt xích của nó. Thứ nhất, vào các buổi chiều khi chúng ta từ câu lạc bộ trở về, chỗ trũng của ngón tay cái và ngón trỏ dính đầy phấn. Thứ hai, bất cứ chơi bia lúc nào anh cũng thoa bóp phấn mỏng vào chỗ trũng này để gậy bia khỏi tuột từ tay mình. Thứ ba, anh chỉ chơi bia với Xêr Xtôn. Thứ tư, một tháng trước đây anh nói với tôi là Xêr Xtôn có ý định cùng anh mua những chứng khoán được đưa ra bán sau một tháng. Thứ năm, tập séc của anh để trong hộp ở bàn làm việc của tôi, thế mà anh không hỏi để lấy chìa khoá ở chỗ tôi. Thứ sáu, anh có dự định góp tiền của mình vào chứng khoán Nam Phi.

- Đơn giản đến thế ư! -Tôi kêu lên.

- Cố nhiên – Anh nói như bị va chạm vào lòng tự ái - Bất cứ câu đố nào thật ra cũng đều rất đơn giản sau khi người ta giải đáp nó cho ta nghe. Còn đây lại là câu đố chưa được giải đáp. Oátxơn ạ, thử xem anh sẽ cáng đáng nhiệm vụ đó như thế nào!

Anh cầm mảnh giấy trên bàn đưa cho tôi, rồi quay lại với việc phân tích hoá học say mê của mình.

Tôi ngạc nhiên thấy tờ giấy được vẽ những chữ tượng hình thật vô nghĩa.

- Hôm! Xin lỗi nhé! Thằng nhãi ranh nào đã vẽ cái của khỉ này thế? – Tôi hỏi.

- Ý kiến của anh vậy à?

- Cái này là cái gì?

- Ông Khintôn Kiubit tại Riđlin – Tôrpơ –Mênôrơ ở Xôiphôncơ cũng muốn biết cái đó là cái gì. Ông đã chuyển các điều bí ẩn nhỏ nhoi này cho chúng ta ngay từ chuyến đầu tiên, còn bản thân ông thì đã vội vàng lên đường đến đây bằng tàu hoả. Anh có nghe thấy chuông reo rồi không, Oátxơn? Có lẽ ông ta đến đấy!

Tiếng những bước chân thình thịch vang lên ở đầu cầu thang. Lát sau, một người cao lớn, bảnh bao, má ửng hồng bước vào phòng. Cứ theo đôi mắt sáng sủa và đôi má đầy sinh lực của ông ta, có thể lập tức thấy ngay rằng cuộc sống của ông ta diễn ra khá xa so với sương mù của thành phố Bâycơ này. Có cảm giác như  ông mang theo hơi thở của làn gió trong lành ấm áp từ bờ phía đông tới đây. Sau khi bắt tay chúng tôi, ông định ngồi xuống ghế. Đột nhiên ông chú ý ngay đến mảnh giấy có những ký hiệu ngộ nghĩnh mà tôi mới xem xong và đặt lên bàn.

- Ông nghĩ sao về cái này, ông Hôm – Ông ta hỏi – Người ta kể cho tôi hay ông là người ưa thích bất cứ chuyện bí ẩn nào. Thế rồi tôi nghĩ sẽ không có gì thú vị với ông hơn việc phát hiện ra bí mật này. Tôi nhanh chóng chuyển mảnh giấy cho ông để ông có đủ thời giờ tìm hiểu nó trước khi tôi đến.

- Đây thực sự là những hình vẽ bí ẩn – Hôm nói – Thoạt nhìn có thể coi nó là trò nghịch ngợm của trẻ con. Ai khác trừ trẻ con có thể vẽ những hình người nhảy múa rời rạc như vậy không? Sao ông lại đem một ý nghĩ cực kỳ quan trọng gán cho một vật nhảm nhí quái đản như thế?

- Tôi sẽ không gán cho nó một ý nghĩa nào cả nếu không có chuyện vợ tôi… Nàng đã chết khiếp đi được. Mặc dầu nàng không nói gì với tôi nhưng đôi mắt của nàng tỏ ra rất hoảng sợ. Đấy là lý do vì sao tôi quan tâm đến nó.

Hôm khẽ nâng tờ giấy lên. Những  tia nắng mặt trời rọi sáng vào nó. Đó là một mảnh giấy được xé ra từ một cuốn sổ tay. Những  hình ảnh như thế này được vẽ bằng bút chì trên mặt giấy: 

Hôm chăm chú xem tờ giấy rồi thận trọng gập lại và cất vào trong ví.

- Câu chuyện hứa hẹn nhiều bí ẩn khác thường! - Anh nói - Trong thư ông đã kể cho tôi nghe. Song, ông Khintôn Kiubít này, tôi sẽ rất cám ơn ông nếu ông vui lòng kể lại chuyện ấy cho người bạn của tôi, bác sỹ Oátxơn đây nghe.

- Tôi là một người thuật chuyện kém cỏi – Vị khách của chúng tôi nói trong khi cáu kỉnh nắm chặt tay mình rồi buông tay ra, đôi tay ông ta to phồng và nặng trịch - Nếu trong câu chuyện của tôi có gì không rõ thì xin các ông hãy hỏi lại. Tôi sẽ bắt đầu từ lúc tôi lấy vợ vào năm ngoái. Thế nhưng tôi cần nói trước rằng, dòng họ của tôi ở Ríđlin - Tôrpơ hàng trăm năm nay được coi là dòng quý tộc danh tiếng nhất Nôrphôncơ. Năm ngoái, khi đi dự hội ở Luân Đôn, tôi có lưu lại trong một ngôi nhà bầy đồ gỗ ở Rêxêlơ – Xkvêrơ và do vậy vị linh mục của địa phương chúng tôi, ông Parkerơ, cũng dừng chân tại đó. Một cô gái quý tộc trẻ trung người Mỹ, họ là Patrikơ, Ilxi Patrikơ, sống trong ngôi nhà này. Chúng tôi nhanh chóng trở nên thân thiết với cô  gái. Chưa đầy một tháng sau tôi đã yêu nàng bằng tình yêu nồng cháy nhất. Chúng tôi chịu phép cưới ở nhà thờ rồi cùng rời đến chỗ tôi ở Nôr – Phôncơ.

Ông Hôm ạ, có lẽ ông sẽ cảm thấy kỳ quặc khi một người thuộc dòng họ trâm anh thế phiệt lâu đời như tôi lại kết hôn cùng người đàn bà mà không hề biết quá khứ cũng như gia đình của người ấy. Nhưng giá như ông nhìn thấy nàng, ông sẽ có điều kiện hiểu tôi hơn. Với tôi, nàng rất thành tâm và thẳng thắng. Ilxi đã trao cho tôi quyền từ chối lễ cưới nếu tôi muốn: “Cuộc đời trước đây của em có nhiều chuyện thật không vui – Nàng nói – Em muốn quên đi tất cả. Em không muốn trở lại quá khứ của mình vì bất cứ một hồi tưởng nào cũng gợi lên nỗi buồn trong em. Nếu anh lấy em, Khintôn ạ, anh sẽ lấy một người đàn bà đã không làm điều gì đáng hổ thẹn cả. Anh hãy tin vào lời em nói, và cần cho phép em không đả động tới những chuyện đã xảy ra với mình trước khi em chính thức là vợ anh. Nếu anh cảm thấy điều kiện này thực sự nặng nề thì hãy trở về Nôrphôncơ đi! Hãy cho phép em được tiếp tục cuộc sống cô độc của mình như trước khi gặp anh”.

Nàng đã nói với tôi những lời ấy vào hôm trước lễ cưới. Tôi trả lời nàng rằng, sẵn lòng tuân theo ý muốn của nàng và xin giữ lời hứa đến cùng. Chúng tôi thành vợ chồng đã một năm nay. Thời gian trôi đi thật êm ả. Thế nhưng cách đây một tháng, vào cuối tháng 6, tôi đã nhận ra những dấu hiệu đầu tiên của một tai họa đang đến gần. Vợ tôi nhận được một lá thư từ Mỹ (chả là trên phong bì có dán tem Mỹ mà!). Mặt nàng tái xanh đi. Nàng đọc lá thư xong rồi ném vào lửa. Nàng không nhắc lại chuyện đó, và tôi cũng không hỏi, vì lời hứa là lời hứa mà. Có điều, từ đấy trở đi nàng không bình tâm được lấy một phút. Mặt nàng luôn tỏ ra khiếp đảm. Từ mọi biểu hiện của nàng có thể thấy rõ rằng nàng đang mong đợi một cái gì đó.

Bây giờ tôi xin đi đến phần kỳ quặc nhất của câu chuyện. Cách đây gần một tuần, hình như chiều thứ ba thì phải, tôi đã nhìn thấy trên bậu cửa sổ những hình người nhảy múa như  trên mảnh giấy này. Chúng được vẽ bằng phấn. Tôi nghĩ cậu bé làm ở tàu ngựa đã vẽ chúng. Nhưng cậu ta đã thề thốt rằng không biết gì cả. Chúng xuất hiện vào ban đêm. Tôi lau sạch đi, và vô tình nhắc tới chúng trong một lần nói chuyện với Ilxi. Tôi rất ngạc nhiên  vì lời nói của tôi đã làm nàng thật sự lo ngại. Nàng yêu cầu tôi chỉ cho nàng coi nếu tôi lại trông thấy những  hình nhân như thế. Suốt một tuần liền không thấy chúng xuất hiện. Thế rồi buổi sáng hôm qua tôi nhặt được mảnh giấy này trên chiếc đồng hồ mặt trời ngoài vườn. Tôi chỉ cho nàng coi và lập tức nàng ngất xỉu đi. Từ giờ phút ấy, nàng sống chập chờn như trong mơ. Đôi mắt nàng tràn đầy nỗi khiếp sợ. Tôi không thể nhờ đến cảnh binh vì lẽ tất nhiên ở đấy họ sẽ cười cợt tôi. Còn ông thì khác, ông sẽ nói cho tôi biết tôi cần phải làm    gì. Tôi là một người không thật giàu có. Thế nhưng nếu có mối nguy hiểm nào đe doạ vợ tôi, tôi sẽ sẵn sàng tiêu đến đồng xu cuối cùng để bảo vệ nàng.

Ông ta là một người đàn ông to lớn, chất phác, dễ thương. Đôi mắt màu xanh da trời của ông luôn mở rộng. Tình yêu thương và lòng chung thuỷ với vợ được ghi lại trên từng nét nhỏ nhất của khuôn mặt ông. Hôm nghe hết câu chuyện với sự chăm chú sâu sắc. Sau đó anh trầm ngâm im lặng hồi lâu. Cuối cùng, anh nói:

- Ông Khiubít, ông không nghĩ rằng tốt hơn cả là hãy thẳng thắn yều cầu vợ ông chia sẻ với mình điều bí ẩn ấy hay sao?

Khintôn Kiubít lắc lắc cái đầu đồ sộ của mình:

- Lời hứa là lời hứa, ông Hôm ạ! Nếu Ilxi muốn thì tự nàng đã kể cho tôi nghe tất cả rồi. Còn nếu nàng không muốn, tôi sẽ không ép nàng thú nhận đâu. Thế nhưng, tôi có  quyền làm sáng tỏ tất cả, và tôi quyết định sẽ sử dụng quyền này.

- Nếu vậy, tôi sẽ bắt tay vào giúp ông hết lòng. Hãy nói cho tôi biết có người nào ở nơi khác đến ở cạnh gia đình ông không?

- Không.

- Tôi biết ông sống ở một nơi rất hẻo lánh. Sự xuất hiện của bất kỳ người lạ nào không thể không để lại dấu vết.

- Nếu có người lạ mặt nào ở ngay cạnh nhà tôi, tất nhiên tôi đã biết. Có điều, cách không xa từ chỗ chúng tôi có vài làng ven biển với những  bãi tắm lớn. Các điền chủ đã cho những người từ xa đến thuê những phòng nghỉ khang trang.

- Trong những hình vẽ kỳ quái này chắc chắn ẩn chứa một ý nghĩa nào đấy. Nhưng dòng chữ mà ông gửi đến cho tôi ngắn đến mức không thể làm gì được với nó. Còn các sự kiện ông đem tới cho chúng tôi lại chưa được xác định, thật khó rút ra một kết luận nào từ chúng. Theo ý tôi, ông cần trở lại Nôrphôncơ chú ý theo dõi tất cả những gì diễn ra chung quanh. Còn khi ông phát hiện ra ở nơi nào đó những hình nhân nhảy múa mới thì ông cần sao lại một cách tỉ mỉ nhất. Đáng tiếc là ông đã không sao lại những hình người được vẽ bằng phấn trên bậu cửa!  Hãy dò xét tất cả những người không quen biết xuất hiện ở cạnh nhà. Và khi nhận ra một chút gì mới ông hãy lập tức đến ngay chỗ tôi. Đấy là những lời khuyên nhủ tốt nhất tôi có thể nói với ông, ông Khintôn Kiubít ạ! Nếu thấy cần thiết, tôi sẵn sàng đến chỗ ông, ghé thăm ngôi nhà ở Nôrphôncơ của ông.

Sau cuộc gặp gỡ nói trên, Hôm thường hay trầm ngâm suy nghĩ. Nhiều lần tôi trông thấy anh rút mảnh giấy từ ví ra, chăm chắm xem xét hồi lâu những hình người ngộ nghĩnh được vẽ trên đó. Tuy nhiên, chỉ sau hai tuần, anh lại bắt đầu nói chuyện với tôi về việc này. Lúc tôi sửa soạn bước ra khỏi nhà, anh đột nhiên ngăn tôi lại:

- Tốt hơn cả là anh hãy ở nhà, Oátxơn ạ!

- Tại sao?

- Sáng nay tôi nhận được điện của Khintôn Kiubít. Anh còn nhớ Khintôn Kiubít với những hình người nhảy múa của ông ta chứ? Ông ta có ý định đi Luân Đôn vào lúc 20 giờ. Chỉ vài phút sau ông ta có thể sẽ đến đây. Theo bức điện, tôi hiểu rằng ông đã có những tin tức cực kỳ quan trọng nào đó.

Chúng tôi chờ đợi không lâu vì viên điền chủ ở Nôrphôncơ đã vội vàng từ sân ga phóng thẳng đến chỗ chúng tôi. Mặt ông ta rõ vẻ lo âu, buồn bã. Ông nhìn chúng tôi bằng cặp mắt mệt mỏi với những vết nhăn hằn sâu trên trán.

- Câu chuyện khiến tôi bực mình, ông Hôm ạ! – Ông buông mình xuống ghế bành và nói – Thật là kinh khủng nếu cảm thấy ta bị bao vây từ mọi phía bởi những  người xa lạ vô hình toan đẩy ta vào một hiểm họa nào đấy,  nhưng còn khủng khiếp hơn nữa khi ta nhận ra từ ngày này qua ngày khác những con người này dần dần hủy diệt người thân của ta! Nàng đã giấu diếm ngay trước mặt tôi.

- Bà ấy nói với ông điều gì phải không?

- Không, ông Hôm ạ, không nói điều gì cả. Có lúc nàng như một người khốn khổ, muốn kể cho tôi nghe hết thảy, nhưng rồi không đủ cương quyết. Tôi toan giúp nàng thì điều đó xảy ra vụng về đến mức chỉ làm nàng sợ hãi thêm. Nàng bắt đầu hay nói về chuyện chúng tôi thuộc một dòng họ lâu đời như thế nào, mọi người trong dòng họ kính trọng chúng tôi ra sao, rồi chúng tôi tự hào về lương tâm trong sạch của mình như thế nào nữa. Lần nào cũng vậy, tôi cảm thấy nàng muốn nói thêm một điều gì, nhưng rồi nàng đang định nói thì lại bắt đầu yên lặng.

- Còn bản thân ông có phát hiện ra cái gì không?

- Tôi nhận ra nhiều thứ, ông Hôm ạ! Tôi đưa đến cho ông nghiên cứu hàng đống hình nhân nhảy múa mới đây. Nhưng quan trọng nhất là cái này…

- Ai vẽ chúng thế?

- Tôi nhìn thấy sau giờ làm việc. Nhưng hãy cho phép tôi kể theo trình tự. Sau khi từ chỗ ông trở về ngay sáng ngày hôm sau, tôi đã tìm thấy những  hình người nhảy múa mới. Chúng được vẽ bằng phấn trên cánh cửa sổ màu đen của kho chứa củi nằm cạnh bãi cỏ. Từ cửa sổ của ngôi nhà chúng tôi nhìn rất rõ kho này. Tôi sao chép lại tất cả. Đây, chúng đây!

Ông ta rút tờ giấy, mở ra và đặt lên bàn. Những chữ tượng hình như thế này được vẽ trên mặt  giấy:

- Tuyệt vời! – Hôm nói – Thật tuyệt vời! Hãy tiếp tục đi, xin mời!

 Khi vẽ lại xong, tôi xoá chúng. Thế mà hai ngày sau trên cánh cửa ấy lại xuất hiện hàng chữ mới. Chúng đây: 



Hôm bật cười vì vui sướng.

- Tài liệu của chúng ta được tăng lên mau chóng – Anh nói.

- Sau ba ngày trên chiếc đồng hồ mặt trời tôi lại tìm thấy một lá thư được viết vào một mảnh giấy nhỏ chặn viên đá lên trên. Chúng đây! Ông thấy không, những hình vẽ ở trên đó chính là hình vẽ ở lá thư  trước.Thế là tôi quyết định rình người đã vẽ nên những  hình nhân này. Tôi   cầm súng lục và ngồi ở phòng mình. Từ cửa sổ phòng tôi nhìn thấy rất rõ cả khu vườn lẫn bãi cỏ. Suốt từ một đến hai giờ đêm tôi ngồi ở cạnh cửa sổ và trông ra khu vườn tràn ngập ánh trăng. Tôi nghe thấy tiếng  những bước chân sau lưng mình. Ngoái cổ lại, tôi nhận ra vợ tôi trong bộ quần áo dài mặc ở nhà. Nàng năn nỉ yêu cầu tôi trở vào giường nằm. Tôi thành thực nói với nàng rằng tôi muốn xem ai là người bày ra cái trò tinh nghịch ngu xuẩn ấy. Nàng trả lời tôi rằng tất cả những chuyện này chỉ là những trò đùa vớ vẩn không đáng quan tâm đến. “Nếu chuyện đó làm anh bực bội như thế, Khintôn ạ, chúng ta hãy cùng ra đi. Khi ấy không một ai quấy rầy cả anh lẫn em nữa”. “ Sao kỳ vậy, ai cho phép kẻ ưa bông đùa nào đấy có thể đẩy chúng ta khỏi ngôi nhà thuộc quyền sở hữu của mình? – Tôi nói – Nếu làm vậy, cả dòng họ sẽ chế nhạo chúng ta”. “ Hãy đi nghỉ thôi! – Nàng nói –Đến sáng chúng ta sẽ bàn tiếp chuyện đó vậy!”.

Tự nhiên khuôn mặt nàng tái xám đi (Tôi nhận ra điều này thậm chí ngay cả dưới ánh sáng trăng). Còn năm ngón tay của nàng thì bám chặt vào vai tôi. Có một cái gì đấy động đậy trong bóng tối của kho chứa củi. Một bóng đen gập người từ góc trườn ra rồi ngồi lại trước cửa. Tôi giật lấy khẩu súng lục, chạy lao người về phía trước. Nhưng vợ tôi đột nhiên ôm chầm lấy tôi, giữ tôi đứng lại. Tôi càng cố giãy ra, nàng bám lấy tôi càng táo tợn hơn. Cuối cùng, tôi dứt được ra. Song lúc đẩy cửa chạy tới kho chứa củi thì bóng đen đã biến mất. Tôi lùng sục khắp vườn vẫn không tìm ra hắn ta. Tuy nhiên, điều này mới thật đáng kinh ngạc: chắc chắn hắn nằm quanh quẩn đâu đó, bởi vì sáng hôm sau tôi lại xem xét cửa kho củi thì dưới hàng chữ tôi đã có dịp nhìn thấy lại xuất hiện thêm vài hình người mới.

- Ông có sao lại không ?

- Có chứ! Không nhiều, đây này!

Ông ta lại cho chúng tôi coi mảnh giấy khác. Những hình người nhảy múa mới có dáng vẻ như sau: 



- Hãy nói cho biết những  hình người này được vẽ thêm vào hàng chữ trước đây hay được vẽ riêng ra? – Hôm yêu cầu. Nhìn đôi mắt của anh, tôi nhận thấy anh rất xúc động.

- Chúng được vẽ trên thang gỗ ép phía dưới cánh cửa.

- Thật tuyệt! Điều này đối với chúng ta hệ trọng hơn tất cả. Nó gieo niềm hy vọng trong tôi. Ông  Khintôn Kiubít, yêu cầu ông hãy tiếp tục câu chuyện lý thú của mình đi!

- Ông Hôm ạ! Tôi sẽ không nói gì thêm ngoài điều này: tôi rất giận vợ tôi vì nàng đã ngăn không cho tôi lùng bắt tên vô lại lẩn lút khốn kiếp ấy. Nàng sợ tôi. Ban đầu tôi ngờ rằng: hình như  không phải nàng sợ tôi, mà nàng sợ hắn ta. Bởi lẽ, không còn hoài nghi gì nữa nàng biết rõ hắn ta là ai, và các tín hiệu kỳ quặc của hắn hàm nghĩa gì. Nhưng ông Hôm ạ, giọng nói và cái nhìn của vợ tôi có thể xua tan bất kỳ nỗi hoài nghi nào. Và giờ đây, tôi tin rằng nàng sợ tôi thật sự. Đó là tất cả những gì đã xảy ra. Còn bây giờ tôi chờ đợi sự khuyên bảo của ông xem tôi cần tiếp tục làm gì. Năm sáu chàng trai thôn quê ở chỗ chúng tôi định giấu tôi vào những bụi cây nhỏ. Họ muốn cho hắn một bài học là hãy vĩnh viễn để chúng tôi sống trong yên ổn.

- Tôi e căn bệnh quá trầm trọng sẽ không được chữa khỏi bằng thứ thuốc thông thường được đâu – Hôm nói – Ông có thể lưu lại Luân Đôn bao lâu?

- Tôi phải trở về ngay hôm nay. Tôi không thể để vợ tôi ở nhà một mình vào ban đêm được. Nàng rất lo ngại và đã yêu cầu tôi quay về càng sớm càng tốt.

- Ông hoàn toàn có lý. Song, giá như ông có thể ở lại sau một hoặc hai ngày gì đó, tôi sẽ cùng đi với ông. Dầu sao cũng phải để những mảnh giấy này lại cho tôi. Chẳng bao lâu nữa tôi sẽ đến chỗ ông, và rất có thể rọi được một chút ánh sáng vào công việc này.

Theo thói quen nghề nghiệp, anh gắng tỏ ra thật bình tĩnh. Nhưng là người hiểu rõ anh, tôi nhận thấy anh đang rất xúc động. Đôi vai rộng của Khintôn Kiubít vừa khuất sau cánh cửa, anh bạn tôi đã chạy bổ đến bàn trải các mảnh giấy có những hình người nhảy nhót ra, mải mê với công việc tính toán của mình. Trong vòng hai tiếng, anh đã viết đè lên từ tờ giấy đến tờ giấy khác là liệt những con số và chữ cái. Công việc này cuốn hút anh tới mức hình như anh quên mất sự có mặt của tôi trong phòng. Khi công việc đi vào nề nếp, anh bắt đầu cất tiếng hát và huýt sáo khe khẽ. Còn khi công việc rơi vào thế bí thì anh ngồi đăm chiêu, đôi mắt lơ láo, vầng trán nhăn nhó. Cuối cùng, anh hài lòng kêu lên, nhổm phắt dậy, vừa xoa xoa hai tay vừa chạy khắp phòng. Sau đó anh chuyển một bức điện dài đi.

- Nếu người ta hỏi là tôi hiện đang có ý định gì – Anh nói – Có lẽ sáng mai tôi và anh sẽ cùng đi Nôrphôncơ. Chắc chắn sẽ khám phá ra bí mật từng làm phiền lòng người bạn của chúng ta. Rồi cuốn sách của anh sẽ giàu có thêm bởi các trang mô tả những câu chuyện trinh thám mới.

Phải thú nhận rằng óc tò mò hành hạ tôi. Có điều tôi biết Hôm chỉ làm sáng tỏ khi nào cảm thấy cần thiết. Thế là tôi nén lòng chờ đợi cái phút anh hạ cố chia sẻ cùng tôi những  khám phá của mình.

Thế nhưng không có điện trả lời. Suốt hai ngày liền Hôm phấp phỏng lắng nghe từng tiếng chuông reo. Sang ngày thứ hai vào buổi chiều, chúng tôi nhận được thư của Khintôn Kiubít. Ông ta cho biết ở chỗ ông tất cả đều yên tĩnh. Chỉ vào sáng nay trên giá đỡ của chiếc đồng hồ mặt trời đã xuất hiện hàng chữ dài nhất.  Bản sao chính xác dòng chữ này  được đính kèm lá thư. Hàng chữ được kẻ như thế này:



Hôm gập người trước bản vẽ kỳ  quái. Bất thình lình anh nhổm phắt dậy, kêu lên ngạc nhiên và giận dữ. Khuôn mặt lo âu của anh trở nên cau có.

- Chúng ta đã để cho công việc đi quá xa mất rồi! - Anh nói - Vào buổi chiều những  chuyến tàu nào sẽ khởi hành tới Nôrtơ – Uensemơ?

Tôi liếc nhìn vào bảng giờ tàu chạy. Chuyến tàu cuối cùng đã khởi hành.

- Sáng mai buộc phải ăn cơm sớm hơn để kịp đi chuyến tàu đầu tiên vậy – Hôm nói – Sự có mặt của chúng ta ở đó là rất cần thiết. A! Đây là bức điện tôi đang đợi. Có lẽ bà Hơđxơn đang cần chuyển câu trả lời đi. Không, tất cả đã diễn ra đúng như tôi chờ đợi. Bức điện hoàn toàn chứng tỏ ta không có quyền để cho ông Khintôn Kiubít rơi vào tình trạng không biết gì về diễn biến của công việc, bởi vì người bạn cởi mở của chúng ta ở Nôrphôncơ đang sa vào mạng lưới cực kỳ nguy hiểm.

Để đi đến kết thúc câu chuyện ảm đạm mà ngay từ đầu lại hiện ra thật ngộ nghĩnh và nhảm nhí này, tôi xin được sống lại mọi nỗi khiếp đảm tôi buộc phải trải qua khi đó. Tôi muốn báo trước cho bạn đọc biết là ở đây mọi chuyện sẽ được kết thúc yên ả. Nhưng quyển sách của tôi là cuốn sử biên niên chính xác của các sự kiện. Và tôi buộc phải dõi theo mọi sự kiện kỳ lạ cho đến kết thúc buồn rầu của nó. Tôi biết qua chuỗi sự kiện này, chỉ vài ngày sau, cả nước Anh sẽ quay lại nói về điền trang Riđlin Tôrpơ – Mênôrơ.

Chúng tôi vừa mới xuống Nôrtơ – Uensemơ thì người xếp ga đã chạy đến gần chúng tôi hỏi:

- Có lẽ các ông là những thám tử từ Luân Đôn tới.

- Sao ông nghĩ như vậy?

- Bởi vì viên thanh tra Martin cũng từ Nôrvitrơ vừa qua đây. Hay có lẽ các ông là bác sĩ? Bà ta vẫn còn sống, có thể các ông sẽ còn kịp để cứu bà ta… khỏi giá treo cổ. Hôm cau có và lo ngại:

- Chúng tôi đi đến Riđlin Tôrpơ – Mênôrơ – Anh nói – Nhưng chúng tôi đã không nghe nói về chuyện gì xảy ra ở đó.

- Thật là một chuyện khủng khiếp – Người xếp ga thốt lên – cả hai, Khintôn Kiubít lẫn vợ của ông ta đều bị giết. Ban đầu bà ta bắn ông ấy, rồi sau đó tự bắn mình. Những  người hầu gái kể như vậy. Ông ta đã chết và bà vợ của ông cũng sẽ bị chết. Trời! Một dòng họ lâu đời nhất ở Nôrphôncơ! Ở chỗ chúng tôi mọi người đều kính trọng ông ta.

Hôm nhảy lên xe ngựa không nói lấy một lời. Anh hoàn toàn im lặng trong suốt cuộc  hành trình. Tôi ít có dịp thấy anh rơi vào tâm trạng âu sầu đến thế. Trong thời gian tiếp tục chuyến đi của chúng tôi từ Luân Đôn, anh là người cảm thấy sớm hơn một nỗi lo âu nào đó. Ngay từ đầu, tôi đã thấy anh lo ngại như thế nào lúc xem qua những tờ báo buổi sáng. Thế nhưng lúc này, khi những nỗi lo sợ tồi tệ nhất của anh đã được đột nhiên xác nhận thì anh như hoá đá vì buồn đau. Anh ngồi ngả người về phía sau, đắm mình trong những ý tưởng buồn bã.

Trong khi đấy, chúng tôi đi qua một trong những  nơi kỳ thú nhất của nước Anh. Cư dân trong vùng sống chen chúc dưới những ngôi nhà nhỏ thưa thớt. Nhưng theo mỗi bước chân đi, nổi bật lên trên cánh đồng xanh mướt là những chiếc tháp tứ giác cao to của nhà thờ thiên chúa xác nhận niềm vinh quang và sự phồn thịnh đã qua của miền Đông nước Anh xưa kia.

Cuối cùng, sau những vách đứng màu xanh xa xa là đường viền màu tím nhạt của Biển Đức. Bác xà ích dùng roi chỉ cho chúng tôi coi hai mái nhà nhọn đầu giữa thôn quê và nói:

- Riđlin Tôrpơ – Mênôrơ  đấy!

Đến gần ngôi nhà, tôi để ý thấy phía trước có một chiếc kho chứa củi màu đen nằm sau cái sân um tùm và chiếc đồng hồ mặt trời đặt trên bệ. Một người lanh lợi với bộ ria tỉa tót cẩn thận vừa mới nhanh nhẹn nhảy từ xe hai bánh xuống. Đó là viên thanh tra Martin từ sở Cảnh binh Nôrphôcơ tới. Ông ta cực kỳ kinh ngạc khi nghe thấy tên bạn tôi.

- Lỗi phép ông Hôm, tội ác đã được thực hiện vào lúc 3 giờ sáng! Bằng cách nào mà ở Luân Đôn ông biết được và đã đến đây cùng một lúc với tôi?

- Tôi đoán ra và đi đến để ngăn chặn tội ác.

- Thực ra ông có những tài liệu mà chúng tôi không có. Bởi vì theo ý kiến của mọi người, họ sống với nhau thật đầm ấm.

- Tôi chỉ có những tin tức nhận được từ những hình người nhảy múa – Hôm nói – Về điều này tôi sẽ kể cho ông nghe sau. Tôi đã đến muộn: tấm thảm kịch đã xảy ra, tôi đã không ngăn chặn được nó… Dẫu sao, trong trường hợp này, những hiểu biết của chúng tôi sẽ giúp cho việc xét xử được dễ dàng. Ông có cần tiến hành điều tra cùng với tôi không? Hay ông thích để tôi tự tìm hiểu lấy?

- Được tiến hành cùng với ông là một vinh dự lớn đối với tôi, ông Hôm ạ! – Viên thanh tra thành thật trả lời.

- Trong trường hợp này tôi muốn lắng nghe ngay tuần tự những lời khai của các nhân chứng và tận mắt xem xét hiện trường.

Thanh tra viên Martin thông minh đến mức cho phép bạn tôi xử sự theo cách riêng của mình. Ông tự hạn chế trong việc chăm chú theo dõi công việc của Hôm. Bác sĩ địa phương, một ông già có bộ râu bạc phơ, vừa ở phòng bà Khintôn Kiubít  bước ra. Ông thông báo rằng tình trạng sức khỏe của bà ta thật nghiêm trọng nhưng chưa hết hy vọng. Tuy nhiên, có lẽ không lâu nữa bà ta sẽ tỉnh dậy, vì viên đạn chỉ mới sượt qua não. Về câu hỏi chính, bà ta bắn vào mình hay một người nào khác bắn, thì ông không dám quyết đoán.

- Ở bất kỳ trường hợp nào phát súng cũng được bắn từ một cự ly rất gần. Người ta chỉ tìm thấy trong phòng một khẩu súng ngắn và hai viên đạn rỗng không… Ông Khintôn Kiubít  bị bắn thẳng vào tim. Có thể giả định rằng trước tiên ông ta bắn vợ và sau đấy bắn mình. Cũng có thể giả định chính bà vợ của ông ta là người gây ra tội ác đầu tiên vì khẩu súng ngắn nằm trên vạt áo của bà.

- Ông khám xét người bị giết chưa? – Hôm hỏi.

- Chưa. Chúng tôi chỉ mới nâng bà lên và chuyển bà đi. Không thể để một người bị thương như bà ta nằm trên nền nhà.

- Ông ở đây lâu chưa, bác sĩ?

- Từ bốn giờ sáng.

- Có ai khác ngoài ông ở đây không?

- Có. Kiểm tra viên.

- Ông không chuyển dịch cái gì ở đây chứ?

- Không.

- Ông đã hành động một cách thận trọng. Ai gọi ông đến?

- Chị hầu  phòng Xônzêrxơ.

- Chị ta là người đầu tiên báo động phải không?

- Chị ấy và bà Kin – một người nấu bếp.

- Bây giờ họ ở đâu?

- Có lẽ ở trong bếp

- Với  trường hợp như thế này, chúng ta sẽ bắt đầu bằng việc nghe hết những  lời kể của họ.

Gian phòng cũ kỹ được ghép bằng gỗ sồi với những cánh cửa cao biến thành phòng tra hỏi. Hôm ngồi xuống chiếc ghế bành to bè theo mốt cũ. Mặt anh lạnh lùng với cái nhìn kiên định. Tôi đọc trong ánh mắt của anh ý chí kiên quyết nếu cần có thể hiến cả cuộc đời  mình để con người mà anh không thể cứu được kia sẽ được phục thù. Sự tụ họp kỳ lạ ngoài tôi ra còn có thanh tra Martin, bác sĩ già địa phương và một cảnh sát viên nông thôn.

Lời khai của hai  người đàn bà chính xác ở mức độ cao. Tiếng súng đã đánh thức họ dậy. Sau chừng một phút họ nghe thấy tiếng hai phát súng thứ sau. Họ ngủ ngay phòng bên cạnh. Bà Kin đã chạy bổ tới chỗ Xônzêrxơ. Họ cùng đi xuống cầu thang. Cửa phòng bị mở toang, cây nến chiếu sáng trên bàn. Ông chủ của họ nằm úp mặt xuống nền nhà ở giữa phòng. Ông đã tắt thở. Vợ ông ta đang quằn quại cạnh cửa sổ, đầu tựa vào tường. Vết thương trong người bà rất nguy hiểm – máu ngập đỏ khắp nửa mặt. Bà ta vẫn thở, nhưng không thể nói được lấy một lời. Ngoài hành lang cũng như trong phòng có khói và phảng phất mùi thuốc  súng. Cửa sổ bị đóng lại bằng chốt phía trong – cả hai người đàn bà đều khẳng định điều này. Ngay lập tức họ đi gọi bác sĩ và cảnh sát. Sau đó, nhờ sự giúp đỡ của người coi ngựa và chú bé làm ở chuồng ngựa, họ đưa bà chủ bị thương sang phòng bà ta. Bà vận bộ quần áo dài. Còn người chồng thì mặc bộ đồ trong nhà, phía ngoài có choàng áo ngủ. Vợ chồng họ không bao giờ to tiếng với nhau. Mọi người coi họ là cặp vợ chồng thân   ái nhất.

Đấy là lời khai chủ yếu nhất của người hầu gái. Trả lời thanh tra viên Martin, hai người phụ nữ nói rõ rằng tất cả song cửa đều bị khoá lại từ phía bên trong, rằng không một ai có thể thoát ra khỏi nhà. Khi trả lời Hôm, hai người đều nhớ lại rằng họ ngửi thấy mùi thuốc súng ngay sau khi chạy ra từ phòng mình ở lầu hai.

- Tôi khuyên ông hãy hướng sự chú ý nghiêm ngặt nhất tới sự vịêc này – Hôm nói với thanh tra viên Martin – Còn bây giờ, theo tôi, cần xem xét căn phòng nơi tội ác đã diễn ra.

Té ra đấy là một căn phòng rất nhỏ hẹp. Các giá sách choán hết ba phía tường, bàn làm việc  đặt cạnh cửa sổ quay ra vườn. Chúng tôi để ý trước hết đến thi thể đẫy đà của kẻ bất hạnh nắm sóng soài trên nền nhà. Ao quần ông xộc xệch – chứng tỏ ông bị dựng dậy từ giường một cách vội vã. Viên đạn xuyên qua trái tim ông kẹt lại trong người. Ông chết đột ngột và vô bệnh tật. Trên bộ quần áo cũng như hai bàn tay ông không phát hiện thấy dấu tích của thuốc súng. Viên bác sĩ nông thôn cho rằng ông Kiubít chỉ có dấu vết của thuốc súng ở mặt, chứ không có trên bàn tay.

- Việc không có dấu vết ở bàn tay chẳng chứng tỏ điều gì, nhưng sự hiện diện của nó trên mặt lại chứng minh tất cả –Hôm nói – Miễn là hơi thuốc súng không vô tình tràn ra từ một viên đạn lắp rồi. Anh sẽ  không làm vấy bẩn bàn tay chừng nào anh bắn… Bây giờ có thể đưa thi thể ông Kuibít ra được rồi. Bác sĩ có lẽ ông sẽ không tìm được viên đạn, mà chính viên đạn này đã làm bị thương vợ ông ta chăng?

- Muốn vậy buộc phải tiến hành một ca mổ nghiêm túc. Thế nhưng trong khẩu súng có 4 viên đạn, 2 phát súng và 2 vết thương. Thật ra không khó khăn gì khi cần xác định số phận của từng viên đạn.

- Điều này chỉ có vẻ như thế thôi! – Hôm nói – Xin làm ơn xác định giùm số phận của viên đạn xuyên qua rìa khung cửa sổ kia kìa!

- Anh đột nhiên quay người lại và dùng ngón tay dài, thanh mảnh của mình chỉ vào lỗ thủng ở thanh nối phía dưới của khung cửa sổ.

- Quỷ thật! – Viên thanh tra  kêu lên – Ông phát hiện ra cái đó bằng cách nào vậy?

- Tôi tìm ra vì tôi có ý định đi tìm.

- Đáng kinh ngạc thật! – Người bác sĩ nông thôn nói – Ông hoàn toàn có lý, thưa ông, nghĩa là đã có phát súng thứ ba, và thực ra đã có người thứ ba. Nhưng hắn là ai? Hắn đã biến đâu?

- Giờ chúng ta thử trả lời câu hỏi ấy! – Hôm nói – Ông thanh tra Martin, ông hãy nhớ lại các nữ hầu nói rõ rằng lúc chạy ra từ phòng mình họ đã lập tức ngửi thấy mùi thuốc súng và tôi đã nói với ông là cần lưu ý đến điều đó.

- Tôi nhớ, thưa ông, nhưng phải thú nhận là tôi không thật nắm được ý tưởng của ông.

- Điều đó chứng tỏ cả cửa ra vào lẫn cửa sổ đều bị mở toang. Trong trường hợp ngựơc lại, mùi thuốc súng không thể lan toả khắp nhà với một tốc độ nhanh như thế. Chỉ có gió lùa mới thổi mùi thuốc bay xa đến như vậy. Trong phòng này, cả cửa ra vào lẫn cửa sổ được mở ra trong khoảnh khắc.

- Tại sao?

- Bởi vì ngọn nến này hãy còn sáng.

- Đúng! Đúng như vậy! – Viên thanh tra kêu lên.

- Khi biết chắc cửa sổ vào thời gian xảy ra tấm thảm kịch bị mở ra, tôi đã đi đến kết luận rõ ràng có người thứ ba tham dự vào câu chuyện.  Người đó đứng ở phía ngoài và bắn qua cửa sổ. Phát súng hướng vào người thứ ba có thể rơi vào khung cửa sổ. Tôi đã nhìn thấy và thực tế đã tìm ra dấu tích của viên đạn.

- Nhưng cửa sổ được đóng lại bằng cách nào?

- Chắc chắn người đàn bà đã đóng lại, đóng lại một cách vô ý thức… Nhưng cái gì thế này?

Trên bàn có một chiếc ví phụ nữ. Chiếc ví nhỏ nhắn làm bằng da cá sấu được ngăn bằng một lớp bạc lộng lẫy. Hôm mở ví, rũ các thứ bên trong của nó lên bàn. Trong đó có tất cả 20 phiếu tín dụng, 50 bảng Anh được thắt cẩn thận bằng nơ.

- Hãy cầm lấy!Những thứ này sẽ được nói tới tại phiên toà - Hôm nói và chuyển cho viên thanh tra chiếc ví cùng những thứ trong đó - Bây giờ cần làm sáng tỏ viên đạn thứ ba hướng tới ai? Xét theo lỗ thủng ở khung cửa sổ chứng tỏ người ta đã bắn tới từ phòng này. Tôi muốn thảo luận lại với bà Kin… Bà nói rằng phát súng nổ lớn đã đánh thức bà dậy. Ý bà muốn nói rằng phát đầu nổ to hơn phát thứ hai phải không?

- Tôi ngủ, thưa ông, cho nên tôi khó mà bàn luận được. Tôi chỉ cảm thấy tiếng nổ rất to.

- Bà không cho rằng cả hai phát súng hầu như nổ cùng một lúc chứ?

- Tôi không thể phân tích được điều đó, thưa ông!

- Tôi tin là đúng  như vậy! Ông thanh tra Martin, tôi cho rằng trong căn phòng này chúng ta không biết gì hơn được nữa đâu. Nếu các ông đồng ý, theo tôi, chúng ta cùng ra vườn và sẽ cùng xem xét ở đấy có điều gì thú vị nữa hay không.

Ngay phía dưới cửa sổ căn phòng có một bồn hoa, khi đến gần bồn hoa chúng tôi cùng kêu to lên. Hoa bị héo nát. Những  vết chân in hắn lên trên mảnh đất xốp rất rõ. Đó là những  vết chân đàn ông to bè với lốt tất dài và sắc. Hôm sải bước chân lướt trên cỏ, trên lá như chó săn lùng sục chim bị thương. Đột nhiên anh kêu lên sung sướng. Anh cúi xuống và nhặt lên một khối trụ nhỏ bằng đồng.

- Tôi biết mà! – Anh nói - Đây chính là viên đạn thứ ba. Tôi có cảm giác đó hầu như là dấu vết cuối cùng.

 Vẻ sửng sốt in hằn trên nét mặt của người thanh tra quê mùa: rõ ràng ông thán phục tốc độ và tài nghệ của Hôm. Lúc đầu ông ta thử bảo vệ ý kiến của mình, thế nhưng chẳng bao lâu ông thực sự thích thú vì đã bị Hôm chinh phục hoàn toàn.

- Ông nghi ai? – Viên thanh tra hỏi.

- Tôi sẽ nói với ông sau. Ở đây còn vài điểm tôi chưa đủ sức làm cho ông rõ. Trong những  khám phá của mình, tôi đã vào sâu đến mức cần phải thận trọng hơn. Còn một lát chờ đợi nữa thôi, sau đấy tôi sẽ lập tức giải thích cho ông rõ mọi chuyện.

- Ông muốn gì, ông Hôm ? Chỉ cốt làm sao kẻ giết người không thoát khỏi tay chúng ta thôi mà!

- Tôi không mảy may có ý giấu diếm điều gì. Có điều, chúng ta không có quyền tiêu phí thời gian vào việc lý giải chi li dài dòng giữa lúc công việc bận bịu nhất. Mọi mối liên hệ của tội ác này đã nằm gọn trong tay tôi. Thậm chí nếu bà quý tộc không bao giờ tỉnh lại nữa chúng ta vẫn khôi phục lại được tất cả những gì đã xảy ra vào đêm hôm qua và giành được công lý. Trước hết, tôi muốn biết cạnh đây có khách sạn nào tên là Elriđgi không?

Người ta đã lấy khẩu cung chéo gia nhân trong nhà, nhưng không một ai nghe thấy tên một khách sạn như vậy. Chỉ có chú bé làm ở tàu ngựa đột nhiên nhớ tới một người có họ là “ Elriđgi” ở gần Ixtơ – Rêxtôn, cách đây vài dặm.

- Trang trại của ông ta ở xứ khác à?

- Rất xa.

- Có lẽ ở đó người ta chưa biết chuyện xảy ra đêm qua ở đây?

- Có lẽ chưa biết, thưa ông!

Hôm ngẫm nghĩ, và trên khuôn mặt của anh bỗng xuất hiện một nụ cười gắn tinh quái.

- Thắng yên ngựa đi, chú bé của tôi! – Anh nói –Tôi muốn chú chuyển thư đến điền trang Elriđgi.

Anh rút từ túi ra vài mảnh giấy có những  hình người nhảy múa. Anh ngồi xuống bàn làm việc ở trong phòng, trải rộng chúng ra trước mặt, rồi mải miết với công việc. Cuối cùng, anh trao bức thư cho cậu bé, yêu cầu cậu chuyển đến tận tay người có tên trong địa chỉ, và không được phép trả lời bất kỳ một câu hỏi nào. Tôi liếc nhìn địa chỉ – nó được viết bằng những nét chữ cong queo, thiếu chính xác, không giống chút nào với nét chữ rõ ràng lúc bình thường của Hôm. Bức thư chuyển cho ông Ab Xleni trang trại Elriđgi, Ixtrêxtôn ở Nôrphôncơ.

- Ông thanh tra – Anh lưu ý – Tôi thấy ông cần chuyển điện cho đoàn hộ tống. Bởi, nếu giả thiết của tôi được chấp nhận, ông sẽ phải áp tải một tên tội phạm cực kỳ nguy hiểm đến nhà tù. Chú bé tôi vừa phái đi nhân tiện có thể chuyển luôn bức điện của ông. Còn chúng ta, Oátxơn ạ, chúng ta sẽ trở lại thành phố bằng chuyến tàu sau bữa ăn trưa, vì vào chiều hôm nay tôi phải kết thúc một sự phân tích hoá học kỳ thú. Công việc hiện đang đi nhanh tới kết thúc.

Khi cậu bé đưa thư phi ngựa đi khỏi. Sơlốc Hôm cho triệu tập gia nhân lại. Anh ra lệnh bất cứ ai trở về nhà mà muốn viếng thăm bà Khintôn Kiubít thì mau chóng rời khỏi phòng khách và không được báo cho bà ta biết những gì đã xảy ra ở đây. Anh khẩn khoản đòi hỏi thi hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh. Sau đấy, anh trở về phòng khách và nói thêm rằng, lúc này mọi chuyện sẽ được tiến hành không có sự tham gia của chúng tôi – chúng tôi chỉ ngồi và chờ xem con thú săn nào sẽ sa vào bẫy mà thôi. Người bác sĩ lui tới chỗ bệnh nhân của mình. Chỉ có tôi và viên thanh tra ở lại với Hôm.

- Tôi sẽ giúp các ông dùng một tờ giấy này một cách lý thú và bổ ích – Hôm vừa nói vừa trải rộng ra trước mặt nhiều mảnh giấy với những  hình người nhảy múa khác nhau – Oátxơn ạ, tôi cần phải chuộc lỗi lầm của mình trước anh. Tôi đã gợi trí tò mò của anh lâu đến thế. Còn đối với ông, ông thanh tra ạ, tất cả công việc này sẽ là một bài học nghề nghiệp tuyệt vời. Trước hết, tôi cần kể  cho ông nghe cuộc gặp gỡ của tôi với ông Khintôn Kiubít ở phố Bâycơ.

Thế rồi anh kể vắn tắt cho viên thanh tra nghe những điều mà chúng tôi đã biết.

- Trước mắt tôi là những bức vẽ ngộ nghĩnh. Có thể chúng sẽ gợi nên những nụ cười nếu chúng đã không là dấu hiệu báo trước một tấm thảm kịch khủng khiếp. Tôi quen thuộc với mọi hình thức mật tự này đến mức tuyệt diệu, và chính tôi đã là tác giả của một công trình khoa học trong đó có tới 160 mã số được phân tích. Tuy nhiên, tôi buộc phải thú nhận rằng những mã số này đối với tôi là hoàn toàn mới mẻ. Rõ ràng , mục đích của kẻ sáng chế ra hệ thống này ở chỗ: các ký hiệu thật ra là những chữ viết nhằm che giấu ý nghĩa của chúng dưới những hình vẽ tinh nghịch. Bất kỳ ai khi phỏng đoán được các ký hiệu này tương ứng với những chữ cái nào cũng đều dễ dàng đoán nhận ra chúng nếu ứng dụng các công thức bình thường của việc suy xét mật mã. Mẩu đầu tiên ngắn đến mức đã cho tôi khả năng tạo ra một giả định giống như sự thật mà sau này đã là sự thật. Tôi muốn nói về những lá cờ. Chúng được dùng để làm dấu kết thúc các từ riêng biệt. Theo mẩu thư đầu tiên tôi không thể xác định được điều gì hơn thế. Lúc đó, tôi cần thêm những tư liệu mới mẻ. Đến thăm tôi vào lần thứ hai ông Khintôn Kiubít đã chuyển cho tôi ba lá thư ngắn nữa. Bức thư sau cùng, trong số đó có thể bao hàm một từ vì trong đấy không có cờ. Hai mẩu thư kia được bắt đầu tất nhiên bằng một từ có bốn chữ cái. Từ ấy như thế này:

Như ông thấy đấy nó được kết thúc bằng chữ cái đầu tiên. Một ý nghĩa vui sướng thoáng hiện trong tôi. Bức thư được bắt đầu một cách bình thường bằng tên người nhận. Người viết lá thư  này cho bà Kuibit hiển nhiên thân thuộc với bà ta. Thật hoàn toàn tự nhiên khi hắn gọi bà chỉ theo tên. Tên của bà gồm bốn chữ cái, nó được kết thúc bằng chữ cái mở đầu: Ilixi. Bằng cách thức như vậy, tôi đã có ba chữ cái I, Luân Đôn và X.

        Trong hai lá thư gửi cho bà Kuibít rõ ràng hắn yêu cầu bà một điều gì đấy. Hắn có thể yêu cầu gì ở bà? Hắn muốn bà đến một nơi nào đó để có dịp nói chuyện với bà chăng? Tôi để ý đến từ thứ ba của lá thư thứ ba. Đây là từ đó:

        Từ này có 7 chữ cái: chữ cái thứ ba và chữ cái sau cùng là I. Tôi đoán đấy là từ “Prikhôđi”(1) và lập tức tôi có thêm năm chữ cái nữa: P, R,  Kh, Ô, Đ. Khi ấy tôi mới để ý đến lá thư chỉ có một từ. Ông biết đấy, từ này xuất hiện ở cửa kho chứa củi trên thang gỗ ốp tường, phía dưới dòng chữ trước đó. Tôi đoán chữ đấy là câu trả lời do bà Kiubít viết. Chữ ấy thế này:



 Xen vào các chữ cái chưa rõ là chữ cái đã biết. Đấy là I. Ô. Đ. Bà Kiubít có thể trả lời yêu cầu của hắn ra sao? Tôi đã đoán ra. Bà trả lời: “Nhikôgđa” (2). Bấy giờ tôi đã có rất nhiều chữ cái để có thể quay trở lại chính mẩu thư đầu tiên. Mẩu thư được vẽ như sau:



Nếu đặt dưới hàng chữ này những  chữ cái  chúng ta đã biết thì lá thư ấy như thế này:

… Đ. X. A. XL. NI

Chúng ta phỏng đoán từ thứ hai là “ Zđex” (3). Nếu vậy từ sau cùng là “ XLENI”. Đó là một họ rất phổ biến ở Mỹ. Từ ngắn ở phía trước họ chắc là tên. Tên nào lại có thể chỉ gồm hai chữ cái? Ở Mỹ tên “Ab” rất được phổ biến. Bây giờ tôi chỉ còn xác định từ đầu     tiên của cả câu. Từ này gồm một chữ cái, thật dễ dàng đoán ra. Đây là đại từ “Ia” (.4) Vậy lá thư đầu tiên được viết: “Tôi ở đây, Ab Xleni”. Thế là tôi đã có rất nhiều chữ cái để có thể dễ dàng đọc được bức thư thứ hai. Bức thư này viết: “ Ilxi, tôi sống cạnh EERIĐGI”, “Ilriđgi” là tên nhà hoặc tên khách sạn mà người viết tất cả những lá thư này hiện đang ở.

Viên thanh tra Martin và tôi chăm chú lắng nghe sự tính toán chi li và rõ ràng của người bạn tôi khi anh dần dần lần ra bí mật của các hình nhân nhảy múa.

- Ông đã tiếp tục làm gì, thưa ông? – Viên thanh tra hỏi.

- Bởi vì cái tên “Ab” được sử dụng chỉ ở Mỹ, và bởi vì mọi sự việc đều được khởi đầu bằng lá thư chuyển đến từ Mỹ nên tôi có đủ cơ sở để phỏng đoán rằng Ab Xleni này là người Mỹ. Ngoài ra, tôi nghi là   

 

 

 

một tội ác nào đấy được che đậy đằng sau mọi chuyện này. Sự hoài nghi của tôi được gợi ra bởi bà Kiubít cố tình giấu diếm chồng bà về quá khứ của mình. Tôi đã chuyển một bức điện cho ông Uin Xơn Kharđriphơ ở Sở Cảnh binh Niu Oóc. Đấy là người đã nhiều lần sử dụng những  hiểu biết của tôi về thế giới tội lỗi ở Luân Đôn vào công việc của mình. Tôi hỏi ông ta: Ai là Ab Xleni? Ông đã trả lời: Một tên cướp nguy hiểm nhất ở Sicagô. Vào buổi chiều khi tôi nhận được điện trả lời thì ông Khintôn Kiubít  gửi cho tôi bức thư cuối cùng của Xleni. Nhờ các chữ cái quen thuộc tôi nhận ra sau:

II.XI GO. OVIXIA KX, ER, I

Tôi phát hiện ra hai chữ cái “M” và “T”  mà trước đó tôi chưa lần nào gặp phải.

“ ILXI, GOTOVIXIA K XNERTI” ! (3)

Tên vô lại đã chuyển từ yêu cầu sang đe doạ. Tôi biết rõ là đối với bọn cướp Sicagô thì lời nói thường đi liền với hành động. Tôi lập tức đi Nôrphôncơ. Thế nhưng thật không may, chúng tôi có mặt khi điều tệ hại nhất đã xảy ra.

- Một hân hạnh lớn là đã cùng công tác với ông để phanh phui tội lỗi – Viên thanh tra nhẹ nhàng nói – Tuy vậy, tôi hy vọng ông sẽ cho phép tôi cởi mở bày tỏ đôi lời. Bởi ông chỉ phải trả lời cho mình, còn tôi thì phải trả lời trước thượng cấp của tôi. Nếu tên Ab Xleni sống ở Elxiđgi quả thật là kẻ giết người và nếu hắn tẩu thoát chừng nào tôi còn ngồi ở đây thì sẽ rất phiền hà cho tôi.

- Ông cứ yên tâm. Hắn không có ý định chạy trốn đâu!

- Do đâu ông biết?

- Chạy trốn nghĩa là ý thức được tội lỗi của mình.

- Trong trường hợp như vậy thì hãy cùng đi và bắt hắn vậy!

- Tôi chờ, hắn sắp đến đây.

- Vì sao ông nghĩ là hắn sẽ đến?

- Tôi đã viết cho hắn và yêu cầu hắn đến.

- Chuyện đó thật bồng bột, ông Hôm ạ! Lẽ nào hắn đến vì ông yêu cầu hắn đến? Có phải dễ dàng mà phỏng đoán rằng thư của ông sẽ gây ra mối ngờ vực ở hắn, và hắn sẽ có mưu toan tẩu thoát: 

 

 

 

- Mọi chuyện tuỳ thuộc ở chỗ bức thư được thảo ra như thế nào! - Hôm nói - Nếu tôi không lầm thì hắn đang tự dẫn xác đến theo con đường nhỏ kia kìa!

Theo con  đường nhỏ dẫn đến ngôi nhà có một người nào đó đang đi tới. Đấy là một người đàn ông dỏng cao, điển trai, có nước da ngăm đen, bộ râu đen cứng và chiếc  mũi to hung dữ. Hắn vận bộ com lê màu xám, trên đầu là chiếc mũ phớt rộng vành. Hắn luôn tay vung vẩy ba toong và bước đi với dáng vẻ cứ như tất cả đều thuộc phạm vi cai quản của hắn. Cuối cùng, tiếng chuông điềm tĩnh vang lên.

- Này các bậc quân tử – Hôm bình thản nói – Tôi cho rằng các ông cần nép vào sau cửa. Khi ta có công chuyện với một người như thế thì cần phải thận trọng đề phòng. Ông thanh tra, hãy chuẩn bị còng  sắt đi ! Và hãy nhường cho tôi cái quyền nói chuyện với hắn.

Đúng một phút trôi đi trong yên lặng. Đấy là một trong những  giây phút tôi sẽ không thể nào quên được. Sau đó cánh cửa được mở ra. Vị khách của chúng tôi bước vào phòng. Chỉ trong nháy mắt Hôm đã dí sát súng ngắn vào trán hắn, còn Martin thì đeo còng sắt vào cổ tay hắn.

Tất cả được tiến hành mau lẹ và khôn khéo tới mức tội nhân bị trói chặt rồi mới nhận ra những người bắt hắn. Hắn nhìn hết người này đến người khác bằng cặp mắt màu đen sáng chói, rồi phá lên cười kiêu hãnh.

- Này các bậc quân tử! Thế là lần này các ông đã lùng được tôi. Bây giờ tôi không cần chạy trốn đâu. Tuy nhiên, bà Khintôn Kiubít đã viết thư mời tôi đến… Không, các ông không nói là bà ta đã thông đồng với các ông chứ? Lẽ nào bà ấy đã giúp các ông nhử tôi vào tròng?

- Bà Khintôn Kiubít bị thương nặng, đang có nguy cơ bị tử vong.

 Hắn rống lên, tiếng kêu đầy đau khổ của hắn truyền khắp căn nhà.

- Các ông quẫn trí rồi! – Hắn giận dữ la ầm lên – Ông ấy bị thương chứ không phải bà ta! Phải chăng có một người đủ bản lĩnh làm Ilxi đáng yêu bị thương? Tôi đã hăm doạ bà, và trời sẽ tha thứ cho tôi. Tôi không can hệ chút nào đến ngay cả một sợi tóc trên mái đầu tuyệt đẹp của bà. Hãy nói ngược lại thế đi, các ông! Hãy nói là bà ta không bị thương đi!

- Bà ấy bị một vết thương nặng cạnh người chồng đã chết.

Với một tiếng kêu thảm thiết, hắn buông mình xuống đivăng, tay úp lên mặt. Chừng năm phút, hắn ngồi bất động. Sau đấy, hắn ngẩng mặt lên, bắt đầu nói bằng vẻ trầm tĩnh đến lạnh lùng của sự tuyệt vọng.

- Tôi sẽ không giấu các ông điều gì, các trang quân tử ạ! – Hắn nói – Tôi bắn ông ta và chính ông ta đã bắn lại tôi. Quả thật đây không thể gọi là vụ giết người. Nếu các ông cho rằng tôi có thể giết người phụ nữ đó thì có nghĩa là các ông không biết tôi cũng như không biết bà ta. Chưa bao giờ có một người đàn ông nào yêu một người đàn bà như tôi đã yêu bà ấy. Tôi đã có mọi quyền hạn đối với bà. Bà đã thuộc quyền sở hữu của tôi nhiều năm trước đây. Trên cơ sở nào mà người Anh kia lại đứng xen vào giữa chúng tôi? Tôi là người đầu tiên có quyền làm chồng bà, và tôi chỉ đòi hỏi bà phải thuộc về tôi.

- Bà ấy đã từ bỏ ông khi nhận ra ông là người như thế nào – Hôm lạnh lùng nói – Bà ấy đã chạy khỏi Mỹ để thoát khỏi tay ông. Rồi lấy một người chồng đáng kính trọng ở Anh. Ông đã hăm doạ và truy nã bà ấy, đã ép bà ấy từ bỏ người chồng mà mình yêu mến và kính trọng để chạy theo ông… Bà ấy sợ ông và căm thù ông. Kết cục ông đã giết một người lương thiện và đẩy vợ người đó đến chỗ tự giết mình. Đấy là toàn bộ “công tích” của ông, ông Ab Xleni ạ! Rồi ông sẽ buộc phải đáp lại những “công tích” của mình.

- Nếu Ilxi chết thì điều gì sẽ xảy ra với tôi! – Người Mỹ nói.

Hắn mở bàn tay ra, nhìn vào lá thư nằm trong lòng bàn tay hắn.

- Hãy nghe đây, ông… – Hắn kêu to, đôi mắt của hắn loé lên những  tin sáng hoài nghi – Ông không có ý định đe nẹt tôi chứ? Nếu người đàn bà ấy bị thương nặng như vậy thì ai viết lá thư này?

Hắn liệng bức thư lên bàn.

- Tôi đã viết để buộc ông đến đây.

- Ông đã viết nó? Khắp trái đất này, không có một ai ngoài đồng bọn của chúng tôi biết được bí mật của những hình người nhảy múa ấy. Ông có thể viết bằng cách nào?

- Cái được một người sáng chế vẫn có thể được người khác thấu hiểu – Hôm nói – Xe đang đến gần kia rồi! Người ta sẽ chuyển ông đến Nôrvitri ông Xleni ạ! Thế nhưng ông hãy còn cơ hội để triệt để sửa chữa tội lỗi do ông gây ra. Ông có biết là Khintôn Kiubít đang bị   tình nghi là đã giết chồng mình, rằng chỉ nhờ sự có mặt của tôi ở đây cùng những tin tức do tôi mang đến mà bà ta đã thoát khỏi sự kết tội này không? Ông phải tuyên bố cho mọi người thấy rằng, trực tiếp cũng như gián tiếp, bà ta không phạm tội trong cái chết bi thảm của chồng bà.

- Tôi sẽ làm như thế! – Người Mỹ nói – Tôi hiểu, có lợi hơn cả đối với tôi là nói đúng sự thật. Ông cần biết rằng tôi quen người phụ nữ này khi tôi còn là một cậu bé. Đồng bọn Sicagô của chúng tôi gồm 7 người. Cha của Ilxi, ông Patrich là thủ lĩnh của chúng tôi. Ông là một cụ già thông minh. Ông phát minh ra những  chữ cái đã có ảnh hưởng xấu đến chữ viết của bọn trẻ chừng nào không có may mắn tìm ra chìa khoá để giải chúng. Ilxi có biết một vài công việc của chúng tôi nhưng cô không thể chịu đựng được nghề nghiệp của chúng tôi. Vì có ít vốn liếng của mình làm ra, cô đã rời bỏ chúng tôi và đi đến Luân Đôn.         Cô đã đính hôn với tôi và đáng lẽ đã lấy tôi nếu tôi chuyển nghề, bởi vì cô không muốn dính dáng tới những người thuộc nghề nghiệp của chúng tôi. Tôi lần ra được vết tích của cô lúc cô đã lấy người Anh này. Tôi viết thư cho cô nhưng đã không nhận được thư trả lời.       Khi đó, tôi quyết định đi tới đây, bởi có thể cô đã không nhận ra thư của tôi. Tôi bắt đầu viết thư trên những vật dụng để đập vào mắt cô.

Tôi sống ở đây đã tròn một tháng. Tôi dọn đến ở trang trại. Phòng tôi thuê khá thuận tiện: nó ở tầng dưới và tôi có thể đi ra khỏi nhà vào ban đêm mà không làm chủ nhà chú ý. Với tất cả sức mạnh của mình, tôi gắng gạ gẫm Ilxi bằng được. Tôi biết cô đọc được mật tự, vì một lần cô đã viết thư trả lời bằng thứ mật tự ấy. Cuối cùng, không thể kiên nhẫn được nữa, tôi bắt đầu đe doạ cô. Lúc ấy cô chuyển cho tôi một bức thư van xin tôi hãy ra đi vì trái tim của cô sẽ bị tan vỡ nếu chồng cô mắc vào một chuyện tai tiếng nào đó. Cô hứa là sẽ nói chuyện với tôi qua cửa sổ vào 3 giờ đêm lúc chồng cô đang ngủ, nếu tôi hứa với cô là ngay sau đấy tôi sẽ ra đi và để cô bình yên.

Trong khi nói chuyện với tôi cô bắt đầu ngỏ ý cho tiền tôi để mọi chuyện được trôi chảy. Điều này đã khiến tôi nổi khùng. Tôi túm lấy cô toan kéo ra khỏi cửa sổ. Ngay giữa lúc ấy chồng cô chạy tới lăm lăm khẩu súng trong tay. Ilxi mất bình tĩnh ngã xuống sàn nhà. Thành ra tôi mặt đối mặt với ông ta. Trong người tôi cũng có vũ khí. Tôi cũng rút súng ngắn ra để hăm doạ và để có thời cơ tháo chạy. Ông ta đã bắn và bắn trượt. Tôi đã bắn hầu như cùng một lúc với ông. Ông ta ngã khụy xuống nền nhà. Tôi chạy qua khu vườn thì nghe thấy tiếng cửa sổ đóng sầm lại ở phía sau… Đấy là tất cả sự thật, ông ạ. Tôi không hay biết gì thêm về chuyện đó cho tới lúc chú bé phi ngựa tới  mang thư đến cho tôi… Đọc thư xong, tôi bắt đầu chạy đến đây và sa vào tay ông.

Vừa đúng lúc ấy có một chiếc xe đang đến gần ngôi nhà, trong xe có hai lính gác ngồi.

Viên thanh tra đứng dậy, chạm vào vai kẻ bị bắt.

- Nào, đi thôi!

- Tôi không thể tới thăm bà ấy trước khi đi hay sao?

- Không được. Bà ta còn chưa tỉnh dậy… Ông Sơlốc Hôm ạ! Tôi chỉ còn hy vọng là có một dịp nào đó sẽ được hân hạnh làm việc cùng với ông.

Chúng tôi đứng cạnh cửa sổ, nhìn theo chiếc xe đi xa dần. Ngoảnh cổ lại, tôi để ý đến mảnh giấy kẻ phạm tội đặt lên bàn. Đấy là mẩu thư  Hôm gửi cho hắn.

- Hãy thử đọc đi, Oátxơn! – Hôm vừa nói vừa mỉm cười.

Những hình nhân nhảy nhót như thế này được vẽ trên mảnh giấy:



- Nếu anh nhớ lại lời giải thích của tôi, anh sẽ nhận ra nội dung mẫu thư này là: “Hãy mau chóng đến”. Tôi không nghi ngờ rằng lời mời này sẽ đưa hắn đến đây, vì hắn tin chắc là ngoài bà Khintôn Kiubít ra sẽ không có ai biết viết như thế. Tóm lại, Oátxơn thân mến của tôi ạ, chúng ta đã buộc những hình nhân từng phục vụ dài lâu cho cái ác, cuối cùng phải quay trở lại phục vụ cái thiện… Có cảm giác là tôi đã thực hiện lời hứa của mình trong việc làm giàu thêm cuốn sách ghi chép của anh. Chuyến tàu rời ga vào 3 giờ 40. Chúng ta sẽ đến  Bâycơ vừa vặn giờ ăn trưa.

Xin có vài lời kết luận. Người Mỹ Ab Xleni tại phiên toà mùa đông ở Nôrphôncơ đã bị kết án tử hình. Nhưng sau khi chú trọng đến tình trạng giảm tội và lưu tâm đến bằng chứng Khintôn Kiubít là người bắn hắn trước tiên, toà đã thay thế tội tử hình bằng án lao động khổ sai. Còn về bà Khintôn Kiubít, tôi chỉ biết là bà đã hoàn toàn bình phục. Bà chịu số phận của một quả phụ và đã hiến cuộc đời mình cho sự quan tâm đến những  người nghèo khổ.

................................................................................................................................................................

    (1) “Prikhôđi”: Tiếng Nga có nghĩa là "Hãy đến!".
    (2 “Nhikôgđa”: Tiếng Nga có nghĩa là "Không bao giờ!". 
    (3) “Zđex”: Tiếng Nga nghĩa là “Ở đây”.
   
 (4)“Ia”: Tiếng Nga nghĩa là “Tôi”.

 

 

 


 
(5) ILXI, GOTOVIXIA K XNERTI!” : Tiếng Nga có nghĩa là " Inxi, hãy chuẩn bị đi tới cái chết!".

 

 

Comments