Ngôi nhà trống không

            Cái chết của nhà quý tộc trẻ tuổi Rônalđơ Ađerơ vào mùa xuân 1894 đã khiến cả Luân Đôn rất chú ý, còn giới thượng lưu thì vô cùng xao động. Cái chết này xảy ra trong những tình huống bí ẩn và khác thường nhất. Vào thời gian ấy công chúng rộng rãi đã được làm quen với các chi tiết riêng rẽ của tội ác đã được quá trình điều tra của cảnh binh soi tỏ. Thế nhưng, vụ án nghiêm trọng tới mức phần lớn chi tiết hãy còn buộc phải giữ bí mật. Và chỉ đến bây giờ, sau gần  mười năm trời, tôi mới có khả năng liên kết những mắt xích chưa được thấu hiểu thành một chuỗi sự kiện tuyệt vời này. Quả thật tội ác rất đáng lưu tâm, vậy mà những hậu quả chưa được nhận thức của nó còn quan trọng đối với tôi gấp ngàn lần hơn thế. Chúng đã làm tôi sửng sốt, đã làm rung chuyển tâm hồn tôi hơn bất cứ những gì tôi trải qua trong cuộc đời mà giá không có nó cũng đã quá nhiều những điều mạo hiểm phiêu lưu. Thậm chí cho đến lúc này, sau nhiều năm đã trôi qua, tôi vẫn còn cảm thấy rùng mình khi nhớ lại chuyện đó, và rồi tôi lại xao xuyến, kinh ngạc và sung sướng vốn là những cảm giác đã xâm chiếm tôi, làm tràn ngập tâm hồn tôi khi ấy. Những độc giả đã bộc lộ ít nhiều sự quan tâm tới những ghi chép kể về các hoạt động và ý nghĩ của con người tuyệt diệu này rồi sẽ tha thứ cho tôi vì đã không chia sẻ ngay những khám phá của mình cùng với họ. Tôi coi việc thông báo tới họ tất cả câu chuyện sắp kể là bổn phận trước tiên của mình bất chấp sự ngăn cấm cương quyết phát ra từ cửa miệng của anh cách đây hoàn toàn không lâu, mới vào ngày mồng ba tháng trước.

Hoàn toàn dễ hiểu là vào thời gian chúng tôi quan hệ chặt chẽ với nhau thì tôi bắt đầu biểu lộ mối quan tâm sâu sắc tới những loại khác nhau của các vụ án hình sự. Và sau khi anh biến mất tôi bắt đầu đặc biệt chú ý đọc tất cả các bản phúc trình về những tội ác chưa được phanh phui trên các báo chí. Rồi điều sau đây xảy ra không phải một lần: để thoả mãn ước muốn riêng của mình, tôi đã toan khám phá chúng khi có ý định vận dụng các phương pháp mà người bạn tôi đã sử dụng, mặc dầu còn lâu tôi mới đạt được những thành tựu của các phương pháp đó.

Tuy nhiên, trong số các tội ác kể trên không một tội ác nào lại khiến tôi lo ngại như cái chết bi thảm của Rônalđơ Ađerơ. Sau khi đọc các tư liệu điều tra, được xác minh chỉ thế này: “Vụ giết người có chủ tâm và được tiến hành bởi một người hoặc một vài người không quen biết”, tôi đã nhận thức sâu sắc hơn bất cứ lúc nào rằng xã hội chúng ta sẽ tổn thất nặng nề biết chừng nào nếu thiếu vắng Sơlốc Hôm. Trong vụ án lạ lùng đó có nhiều điều chắc chắn sẽ cuốn hút sự chú ý đặc biệt của anh, và các hoạt động của cảnh binh đã không được bổ khuyết, hay đúng hơn là không được báo trước bởi đầu óc cảnh giác và sự quan sát tinh tế của người thám tử kiệt xuất nhất trong số những thám tử hiện có của châu Âu.

Suốt ngày, khi đi khắp nơi thăm hỏi bệnh nhân của mình, ý nghĩ của tôi thường xuyên trở về với vụ án Ađerơ. Mặc dầu vậy, tôi vẫn không tìm ra một lời giải thích khả dĩ có thể thoả mãn bản thân mình. Khi buộc lòng phải nhắc lại cái điều mà mọi người đã biết, dẫu sao tôi vẫn muốn nhớ lại các sự kiện trong tình trạng như nó được thông báo tới công chúng sau khi cuộc điều tra được kết thúc.

Ngài Rônalđơ Ađerơ là con trai thứ hai của Công tước Mâynuxơ, viên toàn quyền của một trong số thuộc địa của chúng ta ở châu Úc. Mẹ của Ađerơ từ châu Úc trở về Anh Quốc nơi bà buộc phải tiến hành một ca phẫu thuật mắt – Bà bị bệnh đục thuỷ tinh thể – và bà đã sống cùng con trai Rônalđơ và con gái Khinđa trên công viên Lein số nhà 427. Chàng trai giao du trong giới thượng lưu và rõ ràng không hề có một kẻ thù cũng như không hề có một tật xấu gì đặc biệt. Một thời gian anh ta có đính hôn với cô Egit Vuđli ở Kartêrxơ. Có điều, vài tháng trước khi các sự kiện mô tả được xảy ra,  cả hai vị hôn phu và hôn thê đã quyết định đoạn tuyệt với nhau,  và cứ xét theo tất cả mọi phương diện thì chẳng hề có trái tim nào đau khổ cả. Nhìn chung, cuộc sống của chàng trai trôi đi trong phạm vi nhỏ hẹp của gia đình và của giới thượng lưu. Anh ta trầm tĩnh, còn các sở thích và thói quen của anh ta thì có chừng có mực nhất. Ấy thế mà một cái chết bất ngờ nhất, khủng khiếp nhất đã đổ xuống đầu chàng trai vô tư lự này. Sự cố xảy ra trong khoảng mười một giờ mười đến mười một giờ hai mươi tối ngày 30 tháng 3 năm 1894.

Rônalđơ Ađerơ là một tay đam mê cờ bạc. Anh ta thường chơi cờ nhưng luôn tỏ ra khôn ngoan. Anh là thành viên của ba hội cờ Bôđvin, Kevengisơ và Bagateli. Điều này đã được xác minh: vào ngày kết thúc cuộc đời mình, sau bữa ăn trưa Ronalđơ đã tham dự trọn một vòng vixtơ (1) trong hội của Bagateli. Anh chơi ở đó thậm chí cho tới gần giờ ăn trưa. Những người cùng chơi với anh – ông Mêrây, ngài Đjiôn Khargi và đại tá Môran – có giải thích rằng, họ chơi vixtơ và hầu như hoà nhau. Ađerơ nếu có thua thì cũng chỉ thua chừng năm bảng Anh chứ không hơn không kém. Gia tài của anh rất lớn, việc thua thiệt như vậy không có gì khiến anh buồn lòng cả. Anh ta chơi cờ có thể nói hàng ngày và thường giành phần thắng về mình. Từ những bằng chứng xác thực, điều sau đây đồng thời cũng được sáng tỏ: một tháng rưỡi trước ngày chết, Ađerơ khi cùng chơi với đại tá Moran trong một đêm đã thắng Gôđphơri Minnher và huân tước Benmôran 420 bảng Anh. Đó là tất cả những gì được biết đến trong những tuần sau cùng của cuộc đời anh ta.

Vào cái buổi tối bất hạnh ấy, anh từ hội cờ trở về nhà vừa đúng 10 giờ. Mẹ và em gái không có ở nhà. Họ đi thăm viến đâu đó. Nữ hầu phòng thề nguyền rằng cô ta nghe thấy anh bước vào phòng mình. Phòng ở lầu hai, các cửa sổ quay ra ngoài đường, vốn dùng để làm phòng khách của anh. Trước khi vị bá tước trẻ tuổi trở về, người nữ hầu phòng có làm sập lò sưởi tại đó. Vì lò sưởi bốc khói nên cô ta phải mở cửa sổ ra. Không hề có một âm thanh nào vọng ra từ căn phòng trước 12 giờ 20 phút tức là thời gian bà Mâynuxơ và con gái trở về nhà. Bà Mâynuxơ muốn rẽ vào chỗ con trai chúc con ngủ được ngon lành, thế nhưng cửa dẫn vào phòng anh ta bị khoá lại từ phía trong, và mặc dầu bà đập cửa và la hét vẫn không một ai đáp lại. Lúc đó bà nổi hiệu báo động và người ta bắt buộc phải phá cửa ra. Chàng trai bất hạnh nằm trên nền nhà cạnh chiếc bàn. Đầu anh bị một viên đạn súng lục xuyên qua trông ghê rợn. Tuy nhiên không có một vũ khí nào còn lưu lại trong phòng. Trên bàn có hai phiếu tín dụng 10 bảng Anh và 17 bảng Anh 10 séclinh. Thêm vào đó,  những đồng tiên này được nhét vào cái ống nhỏ có những kích thước khác nhau. Cạnh chúng có một mảnh giấy được viết những con số tính toán, còn đối diện với chúng là tên một vài người bạn trong hội cờ bạc của Ađerơ. Từ đó có thể kết luận rằng ngay trước lúc chết người trai trẻ đã kiểm kê lại số tiền thua và thắng trong các canh bạc của mình.

Sau khi xem xét kỹ lưỡng mọi chi tiết, vụ án vẫn còn là một dấu hỏi. Trước hết, vẫn chưa biết được chàng trai khoá cửa từ bên trong để làm gì. Thật ra kẻ giết ngưới có thể khoá cửa lại rồi sau đó nhảy qua cửa sổ, nhưng cửa sổ cao so với mặt đất chí ít cũng phải tới 20 phút tơ và hàng cây kỵ phù lam đang trổ hoa phía dưới. Cửa sổ lại hoàn toàn không bị đụng đến, cũng không một cánh hoa nào bị đổ nát. Đồng thời không hề có dấu vết nào lưu lại trên vạt cỏ hẹp ngăn cách ngôi nhà với con đường. Vậy là, không còn hoài nghi gì nữa chính Rônalđơ Ađerơ đã khoá cửa lại. Thế cái chết rượt kịp anh ta bằng cách nào được? Vì không một ai lại có thể trườn qua cửa sổ mà lại không để lại dấu tích. Nếu giải định rằng kẻ giết người đã bắn qua cửa sổ thì rõ ràng đây phải là một tay súng cừ khôi. Bởi vì giết chết một người bằng một viên đạn súng lục trong điều kiện như thế thật cực kỳ khó khăn. Ngoài ra, công viên Lein là một phố đông người và cách ngôi nhà chừng 100 ácxơ có bến đậu xe mui. Thế nhưng không một ai nghe thấy tiếng súng. Tuy nhiên, sự hiện diện của người chết và sự hiện diện của viên đạn súng lục xuyên qua đầu (suy luận qua đặc điểm của vết thương) là nguyên do của cái chết chớp nhoáng này. Các tình tiết của vụ giết người bí mật tại công viên Lein và tính bí ẩn của nó vẫn đang tăng lên do sự vắng mặt hoàn toàn của những nguyên nhân rõ rệt nào đó là như vậy: bởi vì, như tôi đã nói, chàng trai Ađerơ hình như không có một kẻ thù nào, còn tiền bạc và những tài sản có giá trị trong phòng thì không hề bị đụng đến.         

   Suốt cả ngày tôi sắp xếp lại tất cả những sự kiện trong đầu, toan vận dụng một lý thuyết nào đó khả dĩ dung hoà được chúng với nhau, rồi tìm ra “điểm bất hợp lý nhỏ nhoi nhất” cái mà người bạn đáng thương của tôi coi là điểm khởi đầu cho bất kỳ cuộc điều tra nào. Cần phải thú nhận là tôi đã không đạt được điều đó. Buổi chiều, tôi đi dạo quanh công viên và gần 6 giờ tôi đột nhiên có mặt tại góc công viên Lein và phố Ôkxphôrđơ. Tại đây, trên vỉ hè tụ họp một đám kẻ vô công rồi nghề đang cùng nhìn lên một ô cửa sổ. Tôi hiểu đó chính là ngôi nhà vì nó mà tôi đến đây. Một người cao ngẳng trong cặp kính râm (theo tôi đây hẳn là một thám tử hoá trang) đang dựa vào điều xảy ra để khuyếch trương một lý thuyết nào đó. Những người còn lại thì vây chặt lấy ông ta lắng nghe. Tôi len vào gần hơn, nhưng những lý luận của ông ta ngô nghê đối với tôi tới mức với một cảm giác gần như ghê tởm, tôi nhích lại phía sau cố len ra khỏi đấy. Giữa lúc ấy tôi vô tình đụng phải một cụ già lưng còng ở phía sau khiến ông ta đánh rơi một vài cuốn sách cặp ở dưới nách. Khi giúp ông nhặt chúng lên, tôi để ý đến đầu đề một cuốc sách là“Căn nguyên sự cúng bái ở thôn quê”. Tôi chợt nghĩ rằng có lẽ đây là một người ưa thích sách nghèo túng nào đó hoặc vì tiền công hoặc vì tình yêu đối với nghệ thuật mà đi thu thập các xuất bản phẩm hiếm hoi. Tôi bắt đầu xin lỗi ông, song có lẽ những cuốn sách vô cùng quý giá đối với chủ nhân của nó bị tôi không may đối xử một cách thật khiếm nhã cho nên ông ta giận dữ càu nhàu một điều gì đó, khinh bỉ lùi trở lại và chốc lát sau cái lưng gù gù và bộ râu quai nón bạc trắng của ông lẩn hẳn vào đám đông.

Sự quan sát của tôi trước ngôi nhà 427 ở công viên Lein giúp tôi không nhiều lắm trong việc giải quyết điều bí ẩn đang ám ảnh mình. Ngôi nhà ngăn cách với đường phố bởi bức tường có trần song thấp lè tè (trấn song chưa tới 5 phitơ). Bởi thế bất cứ ai cũng có thể dễ dàng lọt vào vườn. Tuy nhiên cửa sổ lại khó lên: cạnh nó không có ống dẫn nước cũng không có chỗ nhô ra nào cả. Do vậy không thể một ai kể cả những vận động viên tài nghệ nhất có thể bò theo tường mà lên được.

Mang một nỗi bâng khuâng còn hơn cả trước đây tôi ngược trở lại phố Ken xitôn, rồi đi về nhà. Thế nhưng, tôi vừa lưu lại phòng mình được năm phút thì người nữ hầu phòng báo cho biết là hiện có một ai đó muốn gặp tôi. Tôi không khỏi ngạc nhiên bởi đó không phải ai xa lạ mà chính là cụ già ưa thích sách khác thường của tôi. Bộ mặt nhăn nheo cay độc của ông hiện ra trong riềm tóc bạc trắng. Dưới nách, ông vẫn cặp đến hằng tá (không hơn không kém) những cuốn sách quý của mình.

- Cố nhiên, ngài ngạc nhiên bởi sự có mặt của tôi, phải thế không thưa ngài? – Ông ta hỏi bằng một giọng nói kỳ quái tựa như tiếng quạ kêu.

Tôi khẳng định sự phỏng đoán của ông ta.

- Ngài có nhận thấy không, thưa ngài, rằng tôi là một người lịch thiệp. Lúc tôi tập tễnh lùi lại phía sau theo con đường mà ngài đã đi thì đột nhiên nhận thấy ngài bước vào ngôi nhà này. Thế là tôi quyết định phải rẽ vào chỗ ông chủ dễ mến đó để xin lỗi ngài. Bởi lẽ nếu tôi có hơi thô lỗ đối với ngài, thì thưa ngài quả thực tôi không muốn làm ngài phật ý mà còn rất biết ơn ngài vì ngài đã nhặt các quyển sách giúp tôi.

- Không nên nói về những chuyện tẹp nhẹp như thế nữa – tôi nói – Xin phép được hỏi, ông biết tôi là ai vậy?

- Thưa ngài, tôi xin mạo muội thưa rằng tôi là láng giềng của ngài. Quán sách nhỏ bé của tôi nằm ở góc phố Trertơ và tôi sẽ lấy làm hân hạnh nếu một dịp nào đó ngài sẽ đến thăm tôi. Ngài cũng là người thu thập sách vở, chắc thế, thưa ngài? Nào là “Các loại chim của nước Anh”, “Katull”, “Cuộc chiến tranh thần thánh”. Hãy mua đi, thưa ngài! Chúng tôi sẽ bán rẻ cho. Chỉ năm tập là lấp đầy được chỗ trống trên ngăn thứ hai của tủ sách ngài, mà ngăn sách trông có vẻ luộm thà luộm thuộm thế nào ấy, có đúng vậy không, thưa ngài?

Tôi ngoảnh nhìn giá sách và khi quay đầu lại thì ngay cạnh chiếc bàn giấy, Sơlốc Hôm đang đứng mỉm cười với tôi. Tôi nhổm phăt dậy và nhìn anh trong sự kinh ngạc thầm lặng đến vài giây. Sau đó, lần đầu tiên và hy vọng là lần cuối cùng trong đời, có lẽ tôi đã ngất xỉu đi. Tôi chỉ nhớ là có một đám mây màu xám bao phủ lấy mắt tôi và lúc nó tan đi thì cúc áo cổ của tôi được nới ra. Tôi cảm thấy ở môi mùi vị cô nhắc. Trong tay cầm một chiếc bi đông, Hôm đang đứng cúi nhìn xuống chiếc ghế của tôi.

- Oátxơn yêu quý – Một giọng nói rất quen thuộc vang lên – Xin ngàn lần tha thứ cho! Tôi đã không hề đoán trước được rằng điều đó lại tác động tới anh đến thế.

Tôi túm lấy áo anh và kêu lên:

-Hôm! Anh đấy à? Phải chăng anh hãy còn sống? Lẽ nào anh có thể thoát ra khỏi cái vực khủng khiếp ấy được?

-Hãy chờ một lát nữa – Anh đáp – Thật ra, anh giải thích về những chuyện ấy như thế nào? Sự xuất hiện gây ấn tượng mạnh mẽ của tôi đã làm anh xúc động dữ dội quá!

-Tôi đỡ rồi, nhưng Hôm ạ, thú thực là tôi không còn tin vào mắt mình nữa. Lạy chúa nhân từ! Phải chăng đây là anh, là anh chứ không phải một người nào khác đang ngồi trong phòng của tôi?

Tôi lại nắm lấy tay áo của anh, sờ nắn vào bàn tay vạm vỡ và dịu dàng của anh.

- Không, anh không phải là thánh thần. Đó là điều chắc chắn rồi – Tôi nói – Bạn yêu quý ạ, tôi thật là may mắn được gặp anh. Hãy ngồi xuống và hãy kể xem anh đã thoát khỏi cái vực thẳm ấy bằng cách nào vậy?

Hôm ngồi đối diện với tôi và bắt đầu hút thuốc bằng cái cử chỉ bất cần quen thuộc. Trên người anh là chiếc áo khoác ngoài sờn rách của người bán sách báo cũ, nhưng tất cả những thứ người khác dùng để trá hình – nhúm tóc bạc và bó sách cũ kỹ – đã ở trên bàn. Hình như anh có gầy hơn và cái nhìn của anh thì sắc sảo hơn: vẻ nhợt nhạt thiếu sinh khí của khuôn mặt thanh mảnh với chiếc mũi khoằm của anh đã chứng tỏ nếp sống diễn ra vào thời gian gần đây thật không có lợi cho sức khoẻ của anh chút nào.

- Được duỗi người ra thì thật sảng khoái Oátxơn ạ – Anh nói – Một người vóc cao sẽ khó lòng trở nên ngắn hơn tới một phutơ mà lại ở trong tình trạng ấy tới vài tiếng đồng hồ liên tục. Còn bây giờ, bạn thân mến của tôi ơi, chúng ta sẽ nói về những chuyện nghiêm chỉnh vậy… Chuyện là thế này, tôi muốn yêu cầu anh giúp tôi và nếu anh đồng ý thì cả hai chúng ta sẽ dành trọn một đêm cho công việc nguy hiểm và nặng nề. Hay tốt hơn cả là ta hãy gác câu chuyện về những cuộc phiêu lưu của tôi đến khi công việc này hoàn thành?

- Nhưng tôi sẽ bị thiêu cháy vì tò mò mất thôi. Tôi thích nghe anh kể ngay bây giờ kia!

- Anh có đồng ý đi với tôi đêm nay không?

- Anh cần đi đâu và đi vào lúc nào?

- Hoàn toàn vào thời gian thuận lợi như trước kia. Nào, chúng ta hãy còn kịp ăn chút xíu gì đó trước khi lên đường… À, còn bây giờ thì hãy nói về cái vực sâu nhất ấy vậy. Tôi thoát khỏi nó với một nguyên nhân đơn giản là tôi đã không bao giờ nằm ở dưới đó cả.

- Anh không ở dưới đó?

- Không, Oátxơn ạ, không ở. Tuy nhiên mẩu giấy của tôi gửi cho anh được viết ra hoàn toàn là thực. Khi cái thân hình dữ dằn của tên giáo sư trầm tĩnh Môriarti đường đột xuất hiện trên lối mòn hẹp án ngữ con đường duy nhất cứu sống tôi thì tôi đã tin chắc rằng đối với tôi như vậy là mọi chuyện đã được kết thúc. Tôi đọc trong đôi mắt xám của ông ta một sự quyết định nghiệt ngã. Chúng tôi trao đổi với nhau một vài lời và ông đã lịch thiệp cho phép tôi viết lá thư ngắn ngủi mà anh nhận được sau đó. Tôi để mẫu thư lại cùng với tẩu thuốc của tôi và bắt đầu tự mình theo lối mòn đi về phía trước. Môriarti theo sau tôi. Đi đến cuối đường mòn, tôi dừng lại – Không thể đi tiếp tục được nữa. Ông ta không hề rút một thứ vũ khí nào ra cả nhưng lao về phía tôi, ôm chầm lấy tôi bằng đôi tay dài ngoẵng của mình. Ông ta biết rằng đời mình đã tàn rồi và muốn phục thù chỉ một người đó là tôi. Không rời nhau ra, chúng tôi đứng lảo đảo, bên rìa vách đứng. Tuy nhiên tôi có được làm quen ít nhiều với các phương pháp phòng thân của Nhật Bản – baritxa, chúng đã nhiều lần trợ giúp tôi một cách đắc lực. Và tôi đã rời khỏi được ông ta. Môriarti la thét lên một cách man rợ, đôi tay chới với, toàn thân lắc lư như người điên dại tới vài giây. Nhưng, mặc dầu đã huy động hết sức lực, ông ta vẫn không giữ được thăng bằng và lao xuống phía dưới. Tôi còn nghiêng mình hồi lâu  để nhìn thấy ông ta bay xuống vực như thế nào. Sau đấy ông va vào chỗ nhô ra của vách đá và chìm nghỉm dưới nước.

Với lòng xúc động sâu sắc, tôi im lặng lắng nghe. Hôm vừa kể vừa điềm tĩnh nhả khói thuốc liên tục.

- Thế còn những dấu vết! - Tôi kêu lên – Bằng mắt mình, tôi đã nhìn thấy những dấu vết của hai bàn chân theo con đường mòn đi xuống phía dưới, mà không hề thấy dấu vết nào đi ngược trở lại.

- Điều đó xảy ra đúng như thế. Chính vào lúc tên giáo sư biến mất dưới lòng sâu của vực thẳm tôi chợt hiểu rằng số phận đã phải đến giúp tôi một sự may mắn phi thường đến mức nào! Tôi biết là Môriarti không phải là người duy nhất đi tìm cái chết của tôi. Hãy còn ít ra là ba kẻ đồng loã của ông ta. Cái chết của kẻ cầm đầu có thể chỉ nhóm lên trong trái tim của chúng sự thèm khát báo thù. Đấy là những người cực kỳ nguy hiểm. Sẽ có một kẻo nào đó trong số chúng vào một ngày không xa chắc sẽ kết liễu đời tôi. Còn nếu cho rằng tôi đã chết thì chúng sẽ bắt đầu hoạt động công khai hơn, sẽ để lộ mình ra hơn rồi sớm muộn tôi sẽ tiêu diệt được chúng. Lúc đó tôi mới đám nói là mình còn sống! Bộ óc con người làm việc thật nhanh chóng; tên giáo sư Môriarti có thể còn chưa rơi xuống đáy thác Râykhên-baxki thì tôi đã định liệu kỹ càng về kế hoạch này.

Tôi đứng lên và xem xét kỹ lưỡng bức tường đá lởm chởm nhô lên phía sau lưng cạnh tôi. Trong bản phúc trình giàu hình ảnh của anh viết về cái chết bi thảm của tôi mà tôi đã có dịp đọc một cách vô cùng thích thú vài tháng trước đây, anh khẳng định là hình như bức tường rất bằng phẳng và thẳng đứng. Sự thật không hẳn như vậy. Ở vách đá có vài chỗ nhỏ nhô ra có thể đặt chân vào đó được. Đồng thời, theo vài dấu hiệu, tôi hiểu là cao hơn một chút ở chỗ nhô ra có hốc đá… Mỏm đá cao tới mức rõ ràng không có khả năng đi qua lối mòn ẩm ướt mà không để lại dấu vết. Thật ra tôi có thể đi giầy ngược từ phía sau ra phía trước như tôi đã xử sự một vài lần trong những trường hợp tương tự. Nhưng ba cặp dấu chân cùng đi theo một hướng hiển nhiên sẽ gây ra ý nghĩ về sự lường gạt có chủ tâm. Vậy tốt hơn cả là leo lên cao. Điều này hoá ra không dễ dàng như thế. Thác nước sôi réo ầm ào phía dưới chân tôi. Tôi không có trí tưởng tượng mãnh liệt nhưng xin thề với anh là tôi đã cảm thấy hình như tiếng gọi từ vực thẳm của Môriarti vọng tới khiến tôi đã nghĩ rằng thôi thế là mọi chuyện đã chấm dứt. Tuy vậy, tôi tiếp tục leo lên cao và cuối cùng đã bòtới được khe nứt rất sâu được phủ bởi một lớp rêu mềm màu xanh lục. Ở đây, tôi có thể nằm duỗi người không ai nhìn thấy được và có thể nghỉ ngơi một cách tuyệt vời. Tôi nằm đó, và vào thời gian này, anh Oátxơn yêu quý ạ, cùng với tất cả những người anh kéo theo mình đã có ý định tái lập lại một cách vô vùng cảm động nhưng thiếu kết quả sự thật về cái chết của tôi.

Cuối cùng, sau khi đến những kết luận chắc chắn tuy  hoàn toàn sai lầm khi căn cứ vào những điều đã xảy ra, anh lui về khách sạn của mình còn tôi thì ở lại một mình. Tôi tưởng rằng cuộc phiêu lưu của tôi đã kết thúc, vậy mà một sự cố rất bất ngờ đã chứng tỏ là còn nhiều điều đáng ngạc nhiên đang chờ đợi tôi. Một tảng đá khổng lồ đột nhiên từ trên cao bay vù qua chỗ tôi, lao về phía con đường và rơi xuống phía dưới. Vào khoảnh khắc đầu tiên, tôi có cho rằng đó chỉ là một sự tình cờ đơn giản. Thế nhưng sau khi ngoảnh nhìn lên trên cao. Tôi nhận ra trên bầu trời yên ắng có một đầu người đàn ông nhô ra. Hầu như vào chính giây phút đó một tảng đá khác rơi xuống ngay rìa khe đá tôi đang nằm, cách đầu tôi chừng vài tấc Anh. Tình thế đã trở nên sáng tỏ đối với tôi. Môriarti không phải chỉ có một mình. Một kẻ đồng loã của ông ta – mới thoạt nhìn tôi đã nhận thất rất nguy hiểm – đã đứng cảnh giới lúc tên giáo sư lao vào tấn công tôi. Từ một nơi xa mà tôi không nhìn thấy,  hắn trở thành kẻ chứng kiến cái chết của người bạn mình và sự sống sót của kẻ thù chung. Chờ đợi một thời gian, hắn vượt qua tảng đá, leo lên đỉnh từ một hướng khác, và bây giờ toan làm cái điều mà Môriarti đã không làm được.

Tôi suy ngẫm về tất cả những điều đó không lâu, Oátxơn ạ! Tôi ngó ra và lại trông thấy phía trên vách đá bộ mặt hung dữ của con người ấy. Tôi hiểu bộ mặt đó chính là điềm báo trước một tảng đá mới sẽ rơi xuống. Lúc đó tôi trườn xuống phía dưới hướng về đó trong một trạng thái bình tĩnh như thế nào! Bò xuống ngàn lần khó khăn hơn là trườn lên. Nhưng tôi không khi nào nghĩ rằng tảng đá bay vào cạnh tôi khi tôi ở thế lơ lửng,  tay bám vào rìa của khe đá. Được khoảng nửa đường tôi trượt ngã, song dù sao do một phép màu kỳ lạ nào đó, tôi đã ở trên con đường mòn. Toàn thân tơi tả trong máu, tôi dồn sức tháo chạy. Một tuần sau tôi có mặt ở Phlorenxơ và tin rằng không ai trên đời này lại biết một điều gì về số phận của tôi.

Tôi chỉ tiết lộ bí mật của mình cho độc một người đó là Mâykrôphtơ, anh trai tôi. Ngàn lần thứ lỗi cho tôi, Oátxơn ạ! Tuy nhiên việc người ta coi tôi đã chết rồi là cực kỳ quan trọng đối với tôi. Mà anh thì không khi nào có thể viết về sự thông báo đáng tin cậy như thế về cái chết bi thảm của tôi nếu chính anh không tin rằng điều đó là sự thật. Ba năm qua, một đôi lần tôi quyết định viết thư cho anh, nhưng lần nào tôi cũng kiềm chế được vì e rằng lòng quyến luyến dịu dàng của anh đối với tôi sẽ không ngăn anh làm một điều sơ xuất nào đó tiết lộ bí mật của tôi. Đó chính là lý do chiều nay tôi đã bỏ đi khi anh làm rơi vãi những cuốn sách của tôi. Tôi sẽ là kẻ rất liều mạng nếu vào giây phút ấy khiến anh kêu lên vì ngạc nhiên hoặc nhìn vào tôi, và điều đó sẽ đưa đến những hậu quả đáng buồn, thậm chí không khắc phục nổi. Điều gì liên quan tới Mâykrôphtơ? Tôi bắt buộc phải cởi mở với anh ấy bởi vì tôi cần tiền. Ở Luân Đôn công việc diễn ra không được như ý – tồi hơn so với sự mong đợi của tôi. Sau vụ xét xư, bè lũ Môriarti vẫn còn hai tên cướp nguy hiểm nhất – những kẻ thù sống mãi của tôi – được tự do. Bởi vậy, trong vòng hai năm, tôi đi du lịch khắp Tây Tạng, do tò mò tôi đến thăm Lkhaxxa và ở chơi vài ngày chỗ Đatlai Latma (2). Anh chắc có lẽ đã đọc về những trang điều tra gây tiếng vang của một người Na Uy tên là Xigêrxôn, thế nhưng cố nhiên tin tức về người bạn của anh không vọng đến tai anh được. Sau đó tôi đi qua Ba Tư ghé thăm Mếch Ca, thăm Kalip (3) ở Khactum, một cuộc viếng thăm ngắn ngủi nhưng thú vị … bản báo cáo về cuộc viếng thăm này được tôi đệ trình lên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Sau khi trở về châu Âu, tôi ở Pháp vài tháng để tiến hành nghiên cứu các chất lấy từ nhựa của than đá. Điều này diễn ra tại một phòng thí nghiệm ở Mônpeli, miền Nam nước Pháp. Sau khi kịp hoàn thành thí nghiệm và sau khi biết rằng ở Luân Đôn hiện giờ vẫn còn một trong số những kẻ thù không đội trời chung của tôi, tôi đã  nghĩ tới việc trở về vào lúc tin tức vụ giết người bí ẩn tại công viên Lêin không ngừng giục giã tôi lên đường. Vụ án này cuốn hút sự quan tâm của tôi không chỉ đơn thuần về nghề nghiệp. Như đã thấy, việc khám phá ra nó có thể giúp tôi hoàn thành những kế hoạch riêng của mình. Thế là tôi khẩn trương đi Luân Đôn tự mình xuất hiện ở phố Bâykơ, khơi gợi xúc động mãnh liệt ở bà Hớđxơn và tin rằng Mâykrốptơ vẫn quan tâm giữ gìn những căn phòng và những giấy tờ của tôi nguyên vẹn như trước đây. Như vậy, hôm nay vào lúc hai giờ chiều tôi đã có mặt tại căn phòng xưa kia của mình, ngồi trên chiếc ghế bành xưa kia của mình và một điều duy nhất mà tôi mong muốn là người bạn cố tri của tôi Oátxơn, cùng ngồi với tôi trong chiếc ghế bành mà anh ta thường trang hoàng một cách đặc biệt.

Câu chuyện kỳ lạ mà tôi đã nghe được vào buổi chiều tháng tư ấy là như vậy. Tôi không thể tin nổi câu chuyện này nếu như nó không được khẳng định bởi các điều sau đây: tôi đã bằng chính mắt mình nhìn thấy thân hình cao gầy và khuôn mặt thông minh, giàu nghị lực của một con người mà tôi đã không bao giờ còn hy vọng nhìn thấy nữa. Vì một lý do nào đó, Hôm đã kịp biết tin về cái chết của vợ tôi, nhưng sự cảm thông của anh biểu lộ bằng giọng nói còn nhanh hơn bằng lời.

- Công việc, đó là thứ thuốc giải khuây tốt nhất, Oátxơn thân yêu ạ! – Anh nói – Đang chờ tôi và anh là một công việc mà nếu kịp đưa nó đến thắng lợi thì ít ra một người cũng có thể cả quyết mà nói rằng anh ta sống qua cuộc đời của mình không phải là không hữu ích.

Tôi uổng công vật nài anh nói rõ hơn.

- Đến gần sáng anh sẽ nghe và sẽ thấy – Hôm trả lời - Vậy là đủ rồi, còn bây giờ chúng ta chưa có một cái mà thiếu nó thì chẳng thể bàn bạc được gì. Tới ba năm nay tôi chưa nhìn thấy nó. Hy vọng đến tám giờ rưỡi, chúng ta sẽ nắm được vấn đề này và sau đó chúng ta sẽ lên đường tham gia vào một cuộc trinh thám thú vị trong một ngôi nhà trống không.

Quả thật tất cả đã xảy ra vào thời gian thuận lợi như trước kia. Đúng giờ quy định, tôi ngồi trong xe mui cạnh Hôm. Khẩu súng ngắn trong túi còn tim tôi thì đập mạnh trong sự chờ đợi những sự cố phi thường.

Hôm trầm tĩnh, nhăn nhó và im lặng. Lúc ánh đèn phố đổ xuống khuôn mặt nghiêm trang của anh, tôi nhận thấy đôi lông mày anh nhíu lại còn cặp môi mỏng của anh thì mím chặt: hình như anh đang đắm mình trong suy nghĩ sâu lắng. Tôi còn chưa biết là anh cần săn lùng con thú dữ nào trong những cách rừng đen tối của thế giới tội lỗi ở Luân Đôn, song tất cả điệu bộ của người thợ săn tài nghệ bậc nhất này đã nói cho tôi biết về cuộc trinh thám sẽ có thể là một trong những cuộc trinh thám nguy hiểm nhất. Còn nụ cười gằn cay độc xuất hiện đồng thời trên bộ mặt nghiêm nghị đến khổ hạnh của người thợ săn lại không hề báo trước một điều gì tốt lành cho con thú săn mà chúng tôi đang truy tìm.

Tôi đoán trước là chúng tôi sẽ đi trên phố Bâycơ, thế nhưng Hôm ra lệnh cho người đánh xe dừng lại tại góc vườn nhỏ Kevenzisơ. Bước từ xe xuống, anh chăm chú quan sát bốn hướng và sau đó xem xét từng chỗ ngoặt với hy vọng nhận ra là không ai  bám chân chúng tôi. Chúng tôi đi trên một con đường lạ lùng nào đó. Hôm thường khiến tôi kinh ngạc bởi sự thông thạo các ngõ hẻm ở Luân Đôn của anh: và giờ đây anh điềm tĩnh bước qua đường ngang ngõ tắt của những chuồng ngựa và những sân ngựa mà tôi không nghi ngờ gì về sự tồn tại của chúng. Sau cùng, chúng tôi bước vào một phố hẹp với hai dãy nhà cũ kỹ và buồn bã đưa chúng tôi tới phố Mantrêxtêrơ và sau đó là phố Blenđphôrđơ. Tại đây, Hôm nhanh chóng tạt vào một ngõ hẻm vượt qua cửa hàng rào bằng gỗ rồi bước tới một chiếc sân hoang vắng. Anh dùng chìa khoá mở cửa sau của một trong số các căn nhà ở này. Chúng tôi đi vào và anh lập tức khoá trái cửa lại.

Trời rất tối, nhưng tôi nhanh chóng nhận ra đây là căn nhà bỏ hoang. Chiếc sàn không trải thảm kêu ken két dưới chân chúng tôi, còn trên bức tường tôi vô tình chạm nhẹ vào thì treo một nhúm giấy dán tường rách nát.

Những ngón tay lành lạnh và thanh mảnh của Hôm nắm lấy tay tôi. Anh dẫn tôi theo một hành lang dài cho tới lúc trước mặt chúng tôi nổi lên một đường riềm hơi rõ của ô cửa sổ hình bán nguyệt phía trên cánh cửa ra vào. Ở đây, Hôm bất ngờ rẽ về phía phải và chúng tôi có mặt trong căn phòng lớn trống rỗng hình vuông. Các góc của căn phòng rất tối, nhưng ở giữa được chiếu sáng bởi ánh đèn từ ngoài phố. Tuy nhiên gần cửa sổ không có đèn mà kính lại bị phủ bởi một lớp bụi  dầy nên chúng tôi thật khó lòng nhận ra nhau.

Người bạn đường đặt tay vào vai tôi và gần như môi anh chạm phải vào tai tôi:

- Anh có biết là chúng ta đang ở đâu không? – Hôm thì thào hỏi.

- Hình như ở phố Bâykơ – Tôi nhìn qua lớp kính mờ đục và đáp.

- Hoàn toàn đúng. Chúng ta đang ở nhà Kemzen đối diện với căn hộ trước đây của chúng ta.

- Nhưng chúng ta đi đến đây để làm gì?

- Để có thể nhìn toà nhà sinh động ấy một cách rõ ràng. Oátxơn thân mến, tôi có thể yêu cầu anh đến gần cửa sổ hơn một chút nữa được không? Chỉ cần thạn trọng để không một ai có thể trông thấy anh. Thế, còn bây giờ hãy nhìn vào các cửa sổ của căn phòng trước đây của chúng ta đi, nơi đó sẽ bắt đầu diễn ra một cuộc phiêu lưu tuyệt với biết chừng nào. Chúng ta sẽ thấy sau ba năm cách xa, tôi đã mất khả năng làm anh ngạc nhiên rồi.

Tôi bước về phía trước, nhìn vào cửa sổ quen thuộc và reo lên kinh ngạc. Tấm rèm cửa buông xuống căn phòng sáng rõ và bóng một người ngồi sâu trong chiếc ghế bành hiện lên mồm một trên chiếc phòng sáng của cửa sổ. Tư thế của cái đầu, hình dáng của đôi vai rộng, những đặc điểm sắc nhọn của bộ mặt – tất cả đều hiện lên rõ rệt, không chút mờ nhạt. Chiếc đầu nhìn nghiêng hao hao giống những hung thần mà các bà nội của chúng ta ưa vẽ chúng. Đấy là bản sao chính xác con người Hôm. Tôi kinh ngạc tới mức vô tình chìa tay ra mong được biết có thật chính anh đang ngồi cạnh ở đây hay không. Cả người Hôm rung lên bởi một nụ cười không thành tiếng.

- Thế nào? – Anh hỏi.

- Điều đó quả là không tin được! – Tôi nói thầm.

- Hình như năm tháng đã không tiêu diệt óc thông minh của tôi, cũng như thói quen đã không làm hao kiệt nó – Anh nói, và tôi nhận thấy trong giọng nói của anh lòng sung sướng và nỗi tự hào của một người nghệ sĩ đang ngắm nghía công trình sáng tạo của mình.

- Có thật giống không?

- Tôi sẵn lòng thề rằng đấy là anh!

- Vinh dự sáng tạo thuộc về ngài Mênhe ở Grênôbli. Ông ta đã nặn bức tượng này trong vòng vài ngày. Bức tượng được làm bằng sáp, còn tất cả những cái khác do chính tôi sắp đặt vào sáng nay khi trở về phố Bâykơ.

- Thế nhưng anh cần làm tất cả những cái đó để làm gì?

- Tôi có những nguyên do nghiêm chỉnh Oátxơn thân mến ạ! Tôi muốn một số người cho rằng tôi đang ở đó vào lúc tôi thực tế đang ở một chỗ hoàn toàn khác.

- Anh cho rằng chúng đang theo dõi căn hộ?

- Tôi biết chúng đang theo dõi.

- Ai vậy?

- Kẻ thù cũ của tôi, Oátxơn ạ! Một nhóm rất cần được chú ý mà thủ lĩnh của nó đã yên giấc ngàn năm dưới đáy của thác Râykhênbaxki. Chắc anh còn nhớ chúng – chỉ có chúng mới biết là tôi hãy còn sống, chúng tin rằng tôi sớm hay muộn tôi cũng sẽ trở về căn hộ trước kia của mình. Chúng không ngừng theo dõi căn hộ đó, và thế là sáng hôm nay chúng nhìn thấy tôi trở về.

- Nhưng chúng mới đoán ra thôi phải không?

- Từ cửa sổ nhìn ra,  tôi trông thấy tên lính tuần tra của chúng. Đó là một kẻ thù bé nhỏ hoàn toàn không đáng kể tên là Parkêrơ  làm nghề ăn cướp và giết người đồng thời là một nghệ sĩ đại phong cầm cự phách. Hắn ta quan tâm đến tôi không nhiều đâu. Đặc biệt quan tâm tới tôi là một người quái dị khác nấp sau hắn, người bạn gần nhất của Môriarti, kẻ từ trên đỉnh núi đã lăn đá vào tôi. Đó là tên tội phạm nguy hiểm nhất, khôn ngoan nhất Luân Đôn. Oátxơn ạ! Chính con người ấy sẽ săn lùng tôi vào đêm nay, nhưng lại không ngờ được rằng chúng ta lại săn lùng hắn.

Các mưu kế của bạn tôi dần dần được sáng tỏ trong tôi. Từ chỗ ẩn nấp thuận lợi này, chúng tôi có cơ hội theo dõi những kẻ đang truy lùng chúng tôi. Bóng dáng mỏng mảnh ở khu cửa sổ sẽ là con mồi, còn chúng tôi là những thợ săn.

Chúng tôi đứng yên lặng, vai kề vai trong bóng tối, chăm chú dõi mắt nhìn những bóng người ngược xuôi qua lại trên đường phố trước mặt.

Hôm không nhúc nhích, không nói lấy một lời, nhưng tôi cảm thấy rằng toàn thân anh như căng ra, rằng đôi mắt anh không chớp khi theo dõi dòng người trên vỉa hè. Đêm lạnh và u ám. Gió mạnh thổi dọc theo con đường phố dài đông người. Hầu như khách qua đường đều đi với dáng điệu vội vã, mũi chúi xuống cổ áo hoặc khăn quàng cổ.

Tôi thấy xuất hiện đôi lần vài bóng người qua lại quanh ngôi nhà, đặc biệt khả nghi là hai người khéo ẩn mình tránh gió lảng vảng hồi lâu trước cửa ra vào cách không xa chỗ chúng tôi. Tôi toan nhắc Hôm chú ý tới họ nhưng Hôm trả lời tôi bằng tiếng kêu bực bội chỉ vừa đủ nghe thấy và tiếp tục nhìn ra ngoài phố một cách chăm chú. Thỉnh thoảng anh đổi chân hoặc gõ gõ vào tường một cách cáu kỉnh. Tôi nhận thấy rằng anh đứng không yên, rằng các sự kiện xáo tung không hoàn toàn như anh dự đoán. Cuối cùng đã nửa đêm, đường phố hầu như vắng ngắt. Anh bắt đầu đi lại khắp căn phòng không che giấu được nỗi lo ngại của mình. Tôi muốn nói với anh một điều gì đó thì đột nhiên tôi nhìn về phía cửa sổ sáng ánh đèn và lại cảm thấy một nỗi ngạc nhiên hầu như giống trước kia.

- Hình người đã nhúc nhích kìa!

Quả thế, hướng về phía chúng tôi bây giờ không phải là dáng quay nghiêng mà là xoay lưng lại. Hình như năm tháng đã không làm giảm tính nóng nảy của Hôm. Anh không tự kiềm chế nổi trong khi sự biểu lộ của trí tuệ thì mềm mỏng hơn so với bản tính vốn có của anh.

- Hiển nhiên nó nhúc nhích – Anh nói – Phải chăng tôi là một kẻ ngốc nghếch đến thế, Oátxơn, công khai đặt trong phòng con chim nhồi rơm với hy vọng nhờ sự giúp đỡ của nó để đánh lừa những tên bịp bợm khôn ranh nhất đang tồn tại ở châu Âu? Chúng ta láng cháng ở chỗ cách biệt này hai giờ rồi, và trong thời gian đó bà Hớđxơn đã thay đổi trạng thái hình người đến tám lần – Nghĩa là cứ mười lăm phút một lần. Hiển nhiên nó thích hợp để không nhận ra đấy là cái hình được sắp đặt… A ha!

Đột nhiên anh nín thở, lặng người đi. Trong cảnh tranh tối tranh sáng, tôi nhìn thấy anh đứng, ngoái cổ lại trong tư thế chờ đợi căng thẳng.

Đường phố giờ đây hoàn toàn vắng vẻ. Rất có thể ở lối ra vào có hai người đang đứng ẩn mình mà tôi không thể nhìn thấy. Sự im lặng và bóng đêm bao quanh chúng tôi. Bức rèm màu vàng của khung cửa sổ được chiếu sáng rạng rỡ trong bóng tối. Trong sự im ắng hoàn toàn, tôi nghe thấy tiếng thở của Hôm và cảm thấy anh đang xúc động mạnh. Tự nhiên Hôm đẩy tôi vào góc tối nhất của căn phòng, lấy tay bịt miệng tôi, yêu cầu tuyệt đối im lặng. Trong giây phút ấy tôi cảm thấy năm ngón tay anh xiết chặt lại. Chưa bao giờ tôi trông thấy anh trong trạng thái bị kích động mạnh đến như vậy. Trong khi đó đường phố tối vẫn vắng vẻ và yên ắng như trước.

Tôi đột nhiên nghe thấy một cái gì đó mà thính giác tinh nhạy nhất của người bạn tôi đã nhận ra. Một thứ âm thanh nhỏ, cố nén lại, vọng đến chỗ tôi nhưng không phải từ phía phố Bâykơ mà từ phía trong của chính ngôi nhà cả hai chúng tôi đang ẩn náu. Thế là cánh cửa ra vào được mở ra và rồi được đóng lại. Một loáng sau tiếng bước chân lén lút của ai đó vang lên ở phía hành lang – những bước chân rõ ràng là muốn cho khẽ khàng nhưng trong một ngôi nhà hoang vắng vẫn vang lên ồn ã.

Hôm tựa vào tường, tôi thì cầm chắc lấy khẩu súng lục. Nhìn vào bóng tối, tôi nhận ra hình một người đàn ông không thật rõ và riềm đen của khung cửa ra vào hình chữ nhật được mở ra. Hắn đứng ở đó chừng một phút, rồi cúi khom người len lén đi về phía trước. Mối đe doạ ẩn trong sự vận động của hắn. Hình người nguy hiểm ấy cách chúng tôi chừng ba bước. Bắp thịt tôi căng ra chuẩn bị tấn công kẻ lạ mặt. Đột nhiên tôi hiểu rằng hắn đã không nghi ngờ gì về sự có mặt của chúng tôi.

Hắn đi qua và chỉ một chút xíu nữa là đụng phải chúng tôi. Hắn lẻn tới cửa sổ rồi rất thận trọng, thậm chí không hề gây ra tiếng động, nâng khung cửa sổ lên chừng nửa phitơ. Khi hắn cúi người xuống ngang tầm khe hở vừa được thu xếp thì ánh sáng không bị che khuất bởi lớp thuỷ tinh mờ đục rọi vào khuôn mặt hắn, khuôn mặt để lộ ra sự kích động ở mức độ cao, đôi mắt cháy rực lên, các đường nét thì mèo mó một cách kỳ lạ.

Người lạ mặt không còn trẻ nữa, mũi nhỏ khoằm, trán cao và hói, râu dài và bạc. Chiếc mũ lễ của hắn sát gáy, bành tô phanh ra để hở phần ngực trắng của chiếc áo đuôi tôm hồ cứng. Bộ mặt tối tăm, sạm đen hằn rõ những vết nhăn sâu. Tay hắn cầm một cái gì đó từa tựa như gậy chống lúc đi bộ, thế nhưng hắn đặt vật đó xuống nền nhà thì lại vọng lên tiếng loảng xoảng của kim loại. Sau đó hắn rút từ túi ra một vật gì đó kích thước rất lớn, loay hoay với nó tới vài phút cho đến khi cái vật bằng sắt ấy ngưng kêu xủng xoảng. Có lẽ là hắn đang gỡ cái lò xo hoặc cái then cài gì đó ra. Hắn quỳ xuống khom người về phía trước và bằng tất cả trọng lượng của mình hắn tì vào cái đòn bẩy gì đó. Kết quả là chúng tôi nghe thấy một âm thanh ken két kéo dài còn lớn hơn trước đó. Lúc hắn đứng thẳng người lên, tôi trông thấy ở tay hắn có một vật gì đó giống như một khẩu súng với cái báng cồng kềnh một cách quái đản. Hắn tháo khoá nòng ra, đặt một cái gì đó vào bên trong và rồi lắp lại. Hắn ngồi xổm, đặt phần cuối của nòng súng lên bậu cửa sổ. Bộ râu dài của hắn lơ lửng trên nòng súng, còn mắt hắn nhấp nháy nhìn vào điểm ngắm bắn. Cuối cùng, hắn đặt khẩu súng lên vai và thở phào nhẹ nhõm: mục tiêu đã ở phía trước –một mục tiêu tuyệt vời hình đen hiện rõ trên căn phòng sáng sủa. Hắn đờ người ra trong giây lát, rồi đặt tay vào cò súng. Một tiếng o o vang lên, và sau đó là tiếng kêu lạo xao giòn tan của kính vỡ.

Ngay lúc đó Hôm nhảy bổ vào và như một con cọp chồm lên vai người bắn súng, rồi dùng một thứ gì đó quật ngã hắn xuống sàn nhà. Nhưng chỉ một thóang sau, hắn nhổm phắt dậy và bằng một sức mạnh không thể tưởng tượng được tóm chặt lấy cổ Hôm. Khi đó tôi dùng báng súng lục đánh vào đầu tên vô hại, hắn lại ngã khụy xuống. Tôi nhảy bổ vào hắn, đồng thời tiếng còi của Hôm vang lên lanh lảnh. Có tiếng chạy rầm rập vang lên từ đường phố. Chẳng bao lâu hai cảnh binh tề chỉnh trong quân phục và một thám tử mặc thường phục ập vào căn phòng cửa chính.

- Ông là Lêtrâyđơ phải không? – Hôm hỏi

- Vâng, ông Hôm ạ. Tôi quyết định tự mình đảm nhận công việc này. Rất vui là lại được gặp ông ở Luân Đôn, thưa ông!

- Tôi cảm thấy là sự giúp đỡ ít ỏi không chính thức của chúng tôi đã không cản trở ông. Ba vụ giết người chưa được khám phá trong vòng một năm đó không phải là ít, Lêxtrâyđơ ạ! Thế nhưng ông dẫn dắt vụ án về bí mật Môlixâyxki đã không như… Có nghĩa tôi muốn nói rằng ông xử lý khá lắm.

Tất cả chúng tôi đều đứng thẳng lên. Tên tù binh của chúng tôi thở phì phì trong những cách tay của hai viên cảnh binh xiết chặt lấy hắn từ hai phía.

Trên đường phố bắt đầu tụ tập một đám đông những kẻ vô công rồi nghề. Hôm đến gần cửa sổ và đóng cánh cửa lại. Lêxtrâyđơ đốt hai cây nến mang tới, còn các viên cảnh binh thì mở những cây đèn nhỏ bí mật của mình ra. Và thế là cuối cùng tôi đã có thể quan sát kỹ tên tù binh của chúng tôi. Mặt hắn trông rất can đảm nhưng đồng thời lại méo xệch. Vầng trán triết gia và chiếc quai hàm bạnh ra chứng tỏ trong con người này có những khả năng to lớn để vừa làm điều ác vừa làm điều thiện. Thế nhưng đôi mắt hung dữ với vẻ sắc nhọn, với hàng mi rũ xuống, với cái nhìn trơ tráo, cái mũi khoằm ác độc và những vết nhăn hằn sâu trên trán lại chỉ ra rằng chính thiên nhiên đã chú tâm thể hiện trong hắn những dấu hiệu chứng tỏ sự nguy hiểm của con người này đối với xã hội. Hắn không mảy may chú ý đến một ai trong chúng tôi. Cái nhìn của hắn xoáy vào khuôn mặt Hôm, tỏ ra vừa ngạc nhiên vừa căm thù:

- Con quỷ! – Hắn thì thầm – Con quỷ khôn ngoan thật!

- Thế đấy, ngài đại tá – Hôm vừa vuốt phẳng chiếc cổ áo bị nhăn của mình vừa nói – Những người bạn chí thiết lại gặp gỡ nhau như các câu chuyện cổ tích thường nói tới. Hình như tôi hãy còn chưa thật hài lòng gặp ngài sau khi ngài ban thưởng cho tôi sự quan tâm hào hiệp của mình. Này, hãy nhớ lại lúc tôi nằm trong kẽ núi trên thác Râykhêbaxki.

Viên đại tá như bị thôi miên không thể rời mắt khỏi bạn tôi:

- Con quỷ! Đúng là một con quỷ! – Hắn luôn mồm nhắc lại.

- Tôi hãy còn chưa giới thiệu ngài – Hôm nói – Thưa các vị đáng kính, đây là đại tá Xêbaxtian Môran, từng là sĩ quan quân đội Ấn Độ, người săn thú lớn tuyệt vời, và vào thời gian nào đó đã từng ở trên lãnh địa phía đông của chúng ta. Tôi sẽ không lầm, đại tá ạ, nếu tôi nói rằng trong số những con cọp bị tôi giết thì ngài vẫn còn giữ vị trí đầu tiên đấy chứ?

Kẻ bị bắt cố kìm hãm sự tức giận và tiếp tục im lặng. Bản thân hắn quả giống một con cọp: đôi mắt hắn loé lên những tia độc ác, bộ ria hắn dựng đứng như chuẩn bị chồm lên.

- Mưu trí không lấy gì làm phức tạp lắm của tôi lại có thể đánh lừa một thợ săn giàu kinh nghiệm như ngài. Điều đó khiến tôi ngạc nhiên đấy – Hôm tiếp tục – Đối với ngài, mưu trí không cần gì mới mẻ cả. Phải chăng ngài đã không buộc mình bám riết theo dê con dưới gốc cây khi ẩn mình giữa nhánh lá với khẩu Carbin trong tay chờ con cọp sẽ đến làm mồi cho mình? Ngôi nhà trống không ấy chính là thân cây của tôi còn ngài chính là con cọp của tôi. Tôi nghĩ rằng đôi khi ngài cũng cần có trong lượng dự trữ của mình những xạ thủ khác để phòng trường hợp một vài con cọp bất ngờ xuất hiện hoặc là – điều này ít xảy ra hơn! – chính bản thân ngài bắn trật. Các ông đây – Anh chỉ vào chúng tôi – là các cây sùng dự bị của tôi. Sự so sánh của tôi liệu có chính xác không vậy?

Đột nhiên đại tá Môran với tiếng thét kinh hoàng lao về phía trước, song các viên cảnh binh kịp giữ hắn lại. Mặt hắn biểu lộ lòng căm phẫn nhìn vào thấy rợn người.

- Xin thú nhận là ngài đã thiết lập một điều bất ngờ không lớn lắm đối với tôi – Hôm tiếp tục – Tôi không đoán trước được là chính ngài lại muốn lợi dụng ngôi nhà trống không và chiếc cửa sổ quả thật rất thuận lợi này. Tôi hình dung là ngài sẽ hành động từ phố, nơi ông bạn Lêxtrâyđơ cùng những người giúp sức của mình đợi ngài. Loại trừ chi tiết này ra, tất cả đã diễn ra đúng như tôi chờ đợi.

Đại tá Môran hướng về phía Lêxtrâyđơ.

- Không phụ thuộc vào chỗ ngài có những cơ sở để bắt tôi hay là không có những cơ sở đó – Hắn nói – Tôi không muốn chế nhạo ông kia. Nếu trong tay  nắm luật pháp thì hãy cứ làm mọi chuyện theo luật pháp đi.

- Quả đúng như vậy – Lêxtrâyđơ lưu ý – Ông có còn điều gì cần nói trước khi chúng tôi rời khỏi đây không, ông Hôm?

- Vũ khí trong một mức độ nào đấy là ưu việt và duy nhất – Anh nói – Nó bắn ít tiếng động lại với một sức mạnh huỷ diệt ghê gớm. Tôi có biết một người trước tên là Phôn Khôzêrơ, kỹ sư cơ khí mù. Ông ta đã sáng chế ra vũ khí này theo lệnh của Môriarti. Thế là đã nhiều năm rồi kể từ khi tôi biết tới sự tồn tại của nó, nhưng không bao giờ buộc phải cầm nó trong tay. Tôi đặc biệt lưu ý ngài tới khẩu súng cũng như những viên đạn của nó, Lêxtrâyđơ ạ!

- Hãy yên tâm, ông Hôm, chúng tôi sẽ lưu tâm – Lêxtrâyđơ nói khi tất cả những người có mặt đã ra ngoài cửa lớn – Đó là tất cả rồi sao?

- Tất cả! Thêm vào đấy, tôi chỉ muốn hỏi là ông đã chuẩn bị đưa ra những lời kết tội hung thủ như thế nào?

- Lời kết tội ra sao ư? Ồ, thưa ông! Tất nhiên là việc mưu sát Sơlốc  Hôm.

- Ôi! Đừng, Lêxtrâyđơ! Tôi không mảy may có ý muốn được nhắc tới trong vụ án này. Vinh dự của cuộc lùng bắt danh tiếng là thuộc về ông và chỉ thuộc về ông – người đã thực hiện nó. Xin chúc mừng ông, Lêxtrâyđơ ạ! Nhờ sự phối hợp giữa sự khôn khéo và lòng dũng cảm vốn có của mình, ông đã lùng bắt được con người này.

- Bắt được con người này, nhưng hắn là ai vậy, ông Hôm?

- Đó là đại tá Xêbaxtian Moran, người mà toàn bộ cảnh binh đã không tìm ra, người vào ngày 30 của tháng trước đã bắn ông Rônalđơ Ađerơ bằng phát súng hơi qua cửa sổ tầng hai ngôi nhà 427 công viên Lêin. Đấy, sự kết tội cần như thế đấy, Lextrâyđơ ạ… Còn bây giờ, Oátxơn, nếu anh không ngại gió lùa từ cửa sổ bị vỡ thì hãy ngồi chừng nửa tiếng ở phòng làm việc của tôi hút thuốc. Tôi hy vọng điều đó sẽ làm anh khuây khoả ít nhiều.

Nhờ sự chăm nom của Mâykrôphơ, Hôm và sự quan tâm trực tiếp của bà Hơđxơn, mọi thứ trong căn hộ trước kia của chúng tôi đều không bị xáo trôn. Quả thật, lúc bước vào căn hộ, tôi kinh ngạc bởi sự tươm tất khác thường của nó, nhưng tất cả những vật quen thuộc đều ở đúng vị trí của mình. Ở chỗ trước kia là “góc hoá học”, vẫn còn chiếc bàn gỗ thông có những vết do axít ăn da làm mòn. Trên giá sách, vẫn như trước đây, có những cuốn anbum lớn thu thập những bài được cắt từ báo ra và những cuốn sách chỉ dẫn được xếp thành hàng ngay ngắn. Tưởng nhiều cái quen thuộc của chúng tôi người ta đã sẵn lòng quẳng vào lửa rồi! Những biểu đồ, hộp vĩ cầm, thậm chí cả đôi giầy Ba Tư với thuốc lá – Tất cả đều ở ngay trước mặt khi tôi đưa mắt nhìn mọi phía. Trong phòng còn có hai người: một là bà Hơđxơn bước ra đón chúng tôi với nụ cười sung sướng và hai là hình nhân làm mẫu kỳ lạ đã giữ vai trò quan trọng trong các sự kiện của đêm nay. Đó là bức tượng bạn tôi bằng sáp, tô nhiều màu được làm bởi một tài nghệ phi thường và giống nguyên mẫu đến kinh ngạc. Nó ở trên chiếc bàn thật nhỏ, mặc chiếc áo khoác cũ của Hôm khéo léo tới mức nếu nhìn từ phố vào thì hình ảnh là hoàn giống.

- Muốn biết bà đã thực hiện tất cả những chỉ dẫn của tôi như thế nào, bà Hơđxơn? – Hôm hỏi.

- Tôi trườn tới nó bằng đầu gối như ông yêu cầu, thưa ông.

- Tuyệt vời! Bà đã làm tất cả những điều đó như không thể làm tốt hơn thế. Bà có nhận thấy viên đạn rơi xuống chỗ nào chứ?

- Vâng, thưa ông. Tôi sợ nó làm hư bức tượng đẹp của ông. Nó xuyên qua đầu và bị hẹp dí khi đụng vào tường. Tôi đã nhặt nó từ tấm thảm lên. Đây, nó đây.

Hôm chìa nó cho tôi xem:

- Viên đạn súng lục mềm – Hãy coi này Oátxơn, đó quả thật là thiên tài. Liệu nghĩ được rằng một vật như thế lại có thể được phát ra từ khẩu súng hơi không? Tuyệt vời! Bà Hơđxơn, xin cảm ơn bà về sự giúp đỡ… Còn bây giờ, Oátxơn, hãy ngồi vào chỗ cũ của mình như đã từng làm đi! Tôi muốn trao đổi với anh một vài điều.

Anh cởi bỏ chiếc áo khoác sờn rách ra, khoác chiếc áo dài màu xám sau khi cởi nó ra từ hình người giống mình như đúc. Trước mắt tôi lại là Hôm như trước kia.

- Ở người thợ săn lọc lõi thần kinh phải vững như thế, mắt phải tinh như thế – Với nụ cười trên môi, Hôm vừa quan sát kỹ vầng trán bị thủng của hình người bằng sáp vừa nói – Viên đạn bay trúng ngay chính giữa gáy và xuyên qua óc. Đó là tay súng thiện xạ nhất trong các khu rừng nhiệt đới Ấn Độ. Tôi cho rằng ở Luân Đôn nhiều đối thủ nhanh trí không được như hắn. Trước kia đã có bao giờ anh nghe nói về tên của hắn chưa.

- Chưa, chưa bao giờ.

- Vâng, có chuyện như thế đấy. Tuy nhiên tôi rất nhớ cách đây không lâu anh có thú nhận là chưa nghe thấy thậm chí ngay cả tên của Đjâyinxơ Môriarti, vậy mà đó lại là bộ óc vĩ đại nhất của thế kỷ chúng ta. Nhân thể anh hãy lấy dùm từ giá sách cuốn chỉ dẫn tiểu sử…

Sau khi ngồi vào ghế với một tư thế thuận lợi, vừa hút thuốc, anh vừa chậm rãi giở từng trang sách ra.

- Tôi có bộ sưu tập chữ “M” tuyệt vời – Anh nói – Chỉ một cái tên Môriarti cũng đã làm nổi danh bất kỳ cái tên nào mang chữ cái này. Đây là Môrgan lên đầu độc và Mêrigiu đã lưu lại trong trí nhớ tôi một cách khủng khiếp. Còn đây là Metiuzơ chính là kẻ đã đánh bật chiếc răng nanh bên trái của tôi lại phòng đợi của nhà ga Trêrigơ – Khôxkôm. A, cuối cùng người bạn hôm nay của chúng ta đây rồi.

Anh đưa cho tôi cuốn sách và tôi đọc: “Môran Xêbaxtian, đại tá đã về hưu. Từng phục vụ trong trung đoàn công binh đầu tiên của Bengali. Sinh ở Luân Đôn năm 1840. Con trai ông Ôgêxtêx Môran, được tặng huân chương Banhi, phái viên Anh quốc tại Ba Tư. Tốt nghiệp trung học Itônx và Đại học Tổng hợp Ôkxphorđơ. Là nhân viên liên lạc tham gia các chiến dịch Đjiôvakơ, Aphganơ, Traraxiabơ, Tsêrpurơ và Kabuli. Tác giả các cuốn sách “Săn bắn thú lớn ở phía Tây Himalaia” (1881) và “Ba tháng trong rừng nhiệt đới (1881). Địa chỉ: Phố Kôđuitơ. Hội: Anh – Ấn, Hội bài Bagateli”.

Bên lề Hôm ghi chú rất rõ: “Con người nguy hiểm nhất Luân Đôn sau Môriarti”.

- Thật là kỳ lạ – Tôi trả lại quyển sách và nói – hình như con đường hắn đi là con đường của người lính lương thiện?

- Anh có lý lắm – Hôm nói – Trước lúc nổi danh, hắn không hề làm một điều gì xấu xa cả. Đây là con người có thần kinh thép. Ở Ấn Đô cho đến tận bây giờ người ta vẫn còn lưu truyền những giai thoại là hắn đã bò qua lòng sông cạn và cứu một người sau khi giằng người ấy từ vuốt con hổ bị thương. Có những loài cây như thế, Oátxơn ạ, ban đầu chúng sinh trưởng bình thường, đến một độ cao nhất định trong sự phát triển của mình chúng bột phát biểu lộ thiên hướng xấu nào đó so với bản chất vốn có của mình. Đối với con người, điều này cũng thường xảy ra. Chiếu theo lý thuyết của tôi, mỗi cá thể trong sự phát triển của mình đều lặp lại lịch sử phát triển của tất cả những ông tổ của mình, và tôi cho rằng mỗi bước ngoặt đường đột theo thiên hướng thiện hoặc ác đều tuỳ thuộc vào ảnh hưởng mạnh nào đó mà sự khởi đầu của nhân tố ảnh hưởng ấy cần tìm trong người thuộc gia tộc mình. Và do vậy, tiểu sử của hắn là sự phản chiếu trong một bức tranh nhỏ lai lịch của cả gia đình hắn.

- Anh có biết là lý thuyết này hơi hoang đường không?

- Sao, tôi sẽ chứng minh cho kỳ được lý thuyết ấy. Những nguyên do là như vậy, thế nhưng đại tá Môran đã đi vào con đường xấu. Không cần bất kỳ một sự bê bối om sòm nào, đến mức độ nhất định ở Ấn Độ hắn đã làm một chuyện gì đó chống đối lại bản chất của mình và hắn không thể ở đấy được nữa. Hắn nghỉ hưu và đến Luân Đôn. Tại đây hắn cũng có tiếng xấu và thế là đến một lúc nào đó giáo sư Môriarti khám phá ra hắn. Có thời gian hắn là cánh tay phải của tên giáo sư. Môriarti chu cấp tiền cho hắn một cách hào phóng, tuy nhiên hắn ít khi nhờ cậy vào sự giúp đỡ của tên giáo sư –chỉ trong hai hoặc ba công việc đặc biệt khó khăn mà những tên tội phạm bình thường không thể hoàn thành được mà thôi. Anh chắc còn nhớ cái chết lạ lùng của bà Xtiuartơ ở Lauzêron năm 1887 chứ? Không à? Tôi tin rằng ở đó không thể thiếu bàn tay của Môran, mặc dầu không có một chứng cớ công khai nào có thể kết tội hắn ta. Tên đại tá khéo che giấu đến mức ngay sau khi làm tan tác cả bọn Môriarti rồi chúng tôi vẫn không sao kết án được hắn.

Oátxơn, anh còn nhớ cái buổi chiều tôi đến chỗ anh, đóng cửa sổ lại vì sợ viên đạn từ súng hơi phát ra không? Lúc đó anh cảm thấy lạ lùng, nhưng tôi hiểu mình cần làm gì, bởi lẽ tôi đã biết về sự tồn tại của khẩu súng hơi trác tuyệt ấy. Hơn nữa, tôi biết nó hiện đang nằm trong tay của một trong số những xạ thủ cừ khôi nhất. Khi tôi và anh đi đến Thụy Sĩ thì Môran đuổi kịp chúng ta cùng với Môriarti, và chính hắn đã buộc tôi phải trải qua những giây phút căng thẳng khi tôi nằm ở kẽ đá trên thác Râykhenbaxki.

Anh có thể hình dung được lúc ở nước Pháp tôi đã đọc các báo Anh chăm chú đến mức nào không? Tôi hy vọng tìm thấy bất kỳ một vận may nào để tống hắn vào tù. Bởi vì chừng nào hắn còn dạo chơi thoải mái ở Luân Đôn thì tôi không thể nghĩ tới chuyện trở về được. Ám ảnh cuộc sống của tôi cả ngày lẫn đêm là mối đe doạ đó: hắn sẽ tìm thấy cơ hội để giết tôi bằng cách này hay cách khác. Tôi cần làm gì? Tôi không thể bắn chết hắn trong cuộc gặp mặt được – bởi vì khi đó tự tôi sẽ phải ngồi vào ghế của bị cáo. Cũng không hữu hiện nếu nhờ cậy vào toà án – toà án không có quyền khởi tố trên cơ sở những nghi vấn chưa được chứng minh, còn bằng cớ thì tôi lại không có. Thế đấy, tôi quả thiếu sức mạnh khi bắt tay thực hiện bất kỳ điều gì. Tuy nhiên, tôi không ngừng theo dõi tin vắn về các tội ác vì tôi tin chắc rằng sớm hay muộn tôi cũng sẽ lùa được hắn vào lưới.

Rồi xảy ra cái chết của anh chàng Rônalđơ Ađerơ ấy. Cuối cùng vận may của tôi đã đến! Làm sao tôi lại có thể nghi ngờ là chính đại tá Môran đã giết anh ta? Hắn chơi bài với người thanh niên, hắn đi theo chàng trai từ Hội cờ và hắn đã bắn chết anh ta qua cửa sổ để ngỏ. Đúng vậy, không còn phải nghi ngờ gi nữa. Một viên đạn có thể trở thành bằng chứng đầy đủ để đưa tên đại tá Môran đến giá treo cổ. Tôi lập tức đi Luân Đôn. Tên lính tuần tra của hắn đã trông thấy tôi và tất nhiên đã báo cho hắn biết về điều đó. Sự xuất hiện đường đột của tôi cố nhiên không thể không liên quan tới tội ác của hắn. Điều này khiến hắn rất lo lắng. Tôi tin là bắn toan mau chóng thủ tiêu tôi và để làm việc đó hắn đã chạy đến nhờ cậy vào vũ trụ khí tàn khốc của mình. Cho nên tôi đã chuẩn bị cho hắn một mục tiêu bắn hoàn hảo trên cửa sổ phòng làm việc của tôi, đồng thời báo trước cho cảnh binh là tôi có thể cần tới sự trợ giúp của họ (Tiện thể nói thêm, bằng cái nhìn tinh tường của mình anh lập tức nhận ra hai tên cảnh binh ở cửa ra vào). Tôi giao việc cho đồn cảnh binh, họ chỉ cho tôi chỗ quan sát thuận lợi. Nhưng, của đáng tội, tôi không thể ngờ được là kẻ thù của tôi lại chọn ngay chỗ đó làm nơi tấn công. Đấy là tất cả sự thật, Oátxơn yêu quý ạ! Và bây giờ tôi nghĩ là anh đã rõ mọi chuyện rồi chứ?

- Chưa – Tôi trả lời – Anh còn chưa giải thích cho tôi rõ tên đại tá cần giết ông Rônalđơ Ađerơ để làm gì?

- Ôi, ông bạn của tôi, chúng ta đã bước vào lĩnh vực của những sự phỏng đoán rồi đấy mà trong lĩnh vực này lại ít có một lô gíc nào cả. Mỗi người trên cơ sở các sự kiện đã rõ có thể tạo ra giả thiết của mình, và giả thiết của người này có triển vọng đúng như giả thiết của người kia vậy.

- Có thể giả thiết của anh đã được chứng minh rồi chăng?

- Theo tôi, khó lòng mà giải thích các sự kiện tồn tại như thế. Cuộc điều tra đã xác minh rằng không bao lâu trước vu giết người, đại tá Môran và Ađerơ trẻ tuổi khi trở thành những người cùng hội cờ đã chơi một khoản tiền đáng kể. Nhưng Môran, không còn hoài nghi gì nữa, đã chơi ăn gian. Từ lâu tôi biết hắn là tay cờ bịp bợm. Rất có thể là vào ngày xảy ra vụ giết người, Ađerơ nhận ra Môran đã lừa dối anh ta. Ađerơ đã nói chuyện riêng với tên đại tá, doạ là sẽ tố giác hắn nếu hắn không tự nguyện rút ra khỏi Hội cờ và tuyên bố là vĩnh viễn không bao giờ chơi cờ nữa. Chưa hẳn là một chàng trai như Ađerơ tức khắc quyết định công khai buộc tội nhục nhã cho một người nhiều tuổi hơn anh ta một cách đáng kể như thế. Hơn nữa người đó lại giữ một cương vị hiển nhiên trong xã hội. Chắc là anh ta nói chuyện tay đôi với tên đại tá không có những người chứng kiến. Nhưng đối với Môran, một kẻ chỉ sống nhờ những đồng tiền đoạt được bằng sự lừa gạt thì việc loại ra khỏi Hội cờ chẳng khác nào sự phá sản, vì thế hắn đã giết Ađerơ, và đã giết đúng vào lúc chàng trai khi không muốn lợi dụng những kết quả của trò gian lận của người bạn cờ của mình, đang tính toán lại xem phần thắng của hắn là bao nhiêu và anh ta cần chừng nào tiền để bù vào số tiền thua của mình. Để cho mẹ và em gái không ngăn cản anh tính toán và không gặng hỏi tất cả những cái tên trên giấy và đồng tiền trên bàn nghĩa là thế nào, nên anh ta đã khoá cửa lại… Thế nào, sự giải thích của tôi có giống như thật không?

- Tôi tin là anh có lý.

- Sự điều tra sẽ chứng tỏ tôi đúng hay là không. Dẫu sao, tên đại tá Môran sẽ không làm chúng ta mất ăn mất ngủ nữa, khẩu súng hơi nổi tiếng của Phôn Khêzêrơ sẽ làm đẹp thêm cho bộ sưu tập của viện bảo tàng Xcốtlen - Iarđơ, và từ nay trở đi, không một ai cản trở ngài Sơlốc Hôm giải những câu đố nhỏ nhoi mà thú vị vốn tràn ngập trong cuộc sống hỗn độn của Luân Đôn.

 

...................................................................................................................................................................................... 

 

               (1) Vixtơ: Một loại cờ.

        (2) Đatlai Latma: Người cầm đầu giới tăng lữ ở Tây Tạng. Thành phố Lkhaxxa, nơi ở của Đalai Lama.

         (3) Kalíp: Chức của người đứng đầu Ả Rập.

 

 

Comments