Câu chuyện xảy ra ở ký túc xá

Sân khấu tuềnh toàng của chúng tôi ở phố Bâycơ đã biết đến không ít những  tình tiết kịch. Nhưng tôi không thể nhớ lại được một tình tiết nào bất ngờ hơn, kinh ngạc hơn so với sự xuất hiện lần đầu tiên trên đó của ông tổ nghệ thuật, tiến sĩ triết học Tôrnhikrốptơ Kha - Xtâyblơ… Tấm danh thiếp có vẻ như quá nhỏ so với sức nặng như thế của trình độ học vấn, đến trước ông vài giây. Theo sau tấm danh thiếp, chính ông, một người cao lớn đẫy đà và oai vệ biểu hiện tính tự chủ, cá quyết của tinh thần xuất hiện. Và thế là cánh cửa chưa kịp đóng lại sau lưng, ông đã với tay về phía bàn, chậm chạp đứng sững lại trên nền nhà. Sau khi ngất xỉu đi, cả tấm thân nặng nề của ông đổ sõng soài lên trên tấm da gấu  trước lò sưởi của chúng tôi.

Tôi và Hôm cùng nhổm phắt dậy. Một phút im lặng. Chúng tôi nhìn mảnh vỡ của mạn tàu trôi dạt đến chỗ chúng tôi bởi cơn giông    tố bùng lên ở một nơi xa xôi nào đó trên đại dương vô cùng tận của cuộc đời. Sau đấy, Hôm mau chóng kê gối xuống dưới đầu cho ông, còn tôi thì đưa ly cô – nhắc kề môi ông. Những  nếp nhăn hằn sâu trên khuôn mặt người khách lạ, những  vệt tái xanh phía dưới đôi mắt phòng rộp; góc miệng mở rộng tấy lên cơn đau đớn; những  sợi râu rễ tre tua tủa trên chiếc cằm có ngấn. Không còn nghi ngờ gì nữa, ông từ xa đến đây, cổ và cả chiếc áo sơ mi của ông bẩn thỉu, mớ tóc rối bù phủ xuống vầng trán cao và đẹp. Trước mắt chúng tôi là một người bị tai hoạ to lớn nào đấy giáng xuống, nằm bất tỉnh nhân sự.

- Điều gì đã xảy ra với ông ta vậy, Oátxơn? – Hôm hỏi.

- Hoàn toàn kiệt sức… Có lẽ đói và mệt – Tôi vừa trả lời vừa nắm những ngón tay trong lòng bàn tay của ông, nơi sự sống còn đang thoi thóp động.

- Vé khứ hồi đến Mêctôn, phía Bắc nước Anh – Hôm rút từ chiếc túi nhỏ đựng đồng hồ của ông thưa ông một tấm vé đường sắt và nói – Bây giờ chưa đến mười hai giờ. Ong ta phải ra đi từ rất sớm!

Mi mắt hơi tấy lên của vị khách khẽ động đậy, thế rồi đôi mắt xám của ông dán vào chúng tôi bằng một cái nhìn vô nghĩa. Lát sau, ông khó nhọc đứng dậy, toàn thân đỏ lên vì mắc cỡ:

- Hãy thứ lỗi cho tôi, ông Hôm! Cơn ngất này là hậu quả của sự chấn động thần kinh. Không, xin cảm ơn ông… Chỉ cần cốc sữa với bích- quy, rồi  tất cả sẽ qua khỏi thôi! Ong Hôm, tôi đến đây với một mong muốn mời ông đi cùng với tôi. Tôi cảm thấy không thể có bức điện nào đem lại cho ông một ý niệm cần thiết về tính cấp bách của công việc hơn được.

- Để khi nào ông hoàn toàn hồi sức cái đã…

- Tôi thấy dễ chịu rồi! Quả là tôi không nghĩ rằng điều đó đã xảy ra với tôi. Ông Hôm, tôi khẩn khoản yêu cầu ông đi Mêctôn ngay bằng chuyến tàu sắp tới!

Hôm lắc đầu:

- Người cộng sự của tôi, bác sĩ Oát xơn sẽ cả quyết với ông là chúng tôi rất bận bịu. Tôi đã ứng tiền trước cho việc điều tra sự thất lạc tài liệu của Phêrêrơ. Ngoài ra, nghe đâu mới có vụ giết người xảy ra ở Abêrgaven. Chỉ một việc gì đấy đặc biệt quan trọng mới có thể buộc tôi rời khỏi Luân Đôn lúc này!

- Đặc biệt quan trọng! – Vị khách của chúng tôi vung tay lên: lẽ nào ông không nghe biết gì về vụ bắt cóc người con trai duy nhất của Công tước Khôlzenhexơ

- Của Công tước Khôlzenhexơ? Của viên cựu bộ trưởng?

- Đúng, đúng rồi! Chúng tôi đã dốc  hết sức mình để chuyện đó không xuất hiện trên mặt báo. Thế nhưng trong tờ “ Glôbuxơ” hôm qua đã thoáng xuất hiện những  tin tức nào đấy. Tôi nghĩ những  tin này đã bay đến tai ông.

Hôm đưa cánh tay gầy thon của mình với lấy tập chỉ dẫn bách khoa trên giá, tìm đến chữ “ Kh”.

- “Khôlzenhexơ, Công tước thứ sáu, người được tặng thưởng huân chương, thành viên của hội đồng tư vấn v.v…” , “Nam tước Bôverlơ, bá tước Karxtôlơ…”. Lạy chúa, bao nhiêu là tước vị! “Chánh án xứ Khelemsirơ( từ1900). Lấy Ezit, con gái Tralizơ Eplđôrơ làm vợ (1888). Con trai duy nhất, người thừa tự, huân tước Xôntayrơ. Chủ nhân của 25 ngàn ác xơ ruộng đất, các hầm mỏ ở Lankasirơ và Uelxơ. Địa chỉ Karl – Tôn – Khux –Têrax, Khôzenhexơ – Khôlkhemsirơ, lâu  đài  Bangôrơ,  Karltôn và  Uelxơ. Huân tước   Ađmiraltâyxtva (1872), bộ trưởng” … (1). Tóm lại, đây là con người tiếng, và là một trong những  người nổi tiếng nhất của đất nước chúng ta.

- Một trong những người nổi tiếng nhất, và có thể còn là một trong những người giàu có nhất nữa. Ông Hôm, tôi biết rõ ông tuyệt nhiên không phải là người thợ tồi trong lĩnh vực của mình và ông là người tiến hành liên tục công việc cho đến cùng. Song hãy cho phép được nói với ông rằng kẻ thân tín của ngài hứa sẽ trao tấm séc năm ngàn bảng Anh  cho người nào chỉ ra nơi cất giấu con ngài, và sẽ trao bổ sung một ngàn bảng Anh cho ai chỉ ra kẻ hoặc những  kẻ bắt cóc đứa bé.

- Thù lao quả là hào phóng! – Hôm nói – Oát xơn ! Chúng ta hãy cùng khởi hành tới miền Bắc nước Anh với tiến sĩ  Khaxtâyblơ này vậy! Còn ông tiến sĩ, hãy uống cạn cốc sữa đi và sau đó hãy kể cho chúng tôi nghe cái gì đã xảy ra, xảy ra khi nào và ở đâu, cuối cùng ông, vị giám đốc ký túc xá gần Mêctôn, ông có quan hệ thế nào tới chuyện đó, và vì lẽ gì mãi sau ba ngày từ lúc xảy ra biến cố – về điều đó tôi phán đoán theo cái cằm chưa cạo râu của ông – do tin vào những khả năng nhỏ mọn của tôi, ông mới đến đây?

Vị khách của chúng tôi nốc cốc sữa, rồi không bỏ sót một chi tiết nào, ông nhiệt thành kể lại câu chuyện từ đầu đến cuối. Tia mắt của ông lập tức tươi tỉnh lại, đôi má ửng đỏ.

- Cần thông báo cho các ông biết rằng tôi là người sáng lập và là giám đốc ký túc xá gần Mêctôn. “Những lời chú giải về Hôraxơ” (2) của Khaxtâyblơ có lẽ làm các ông nhớ lại hiện các ông đang có công chuyện với ai. Ký túc xá dành cho học sinh phổ thông của tôi chắc chắn là một trường học ưu đãi nhất, tốt nhất nước Anh. Huân tước Lôvêrxtâucơ, bá tước Blekuôtêrơ và nam tước Ketrkartơ Xôumxơ là những người đã tin cậy trao những đứa con trai của mình cho tôi. Nhưng ba tuần trước đây, trường chúng tôi mới đạt được tột đỉnh vinh quang khi nhà quý tộc Khôlzenhexơ, qua viên thư ký riêng của mình, ông Đjâyimxơ Uailzerơ chuyển đến huân tước mười tuổi Xôntayrơ con trai và người thừa tự duy nhất của ngài, để chúng tôi dạy bảo. Khi ấy nào tôi có nghĩ rằng đó chính là dấu hiệu của nỗi bất hạnh lớn nhất trong đời tôi sẽ diễn ra sau đấy đâu!

Huân tước Xôntayrơ đến ngày 1 tháng 5 khi kỳ nghỉ hè bắt đầu. Chẳng bao lâu cậu bé đáng yêu này đã quen dần với nề nếp của chúng tôi. Cần lưu ý rằng – xin đừng ai cho tôi là thiếu khiêm tốn, vì làm thinh về chuyện này là vô lý - ở nhà cậu bé sống không được êm dịu cho lắm. Điều sau đây không còn bí mật với ai cả: cuộc sống gia đình của Công tước không thật êm đẹp. Theo sự thoả thuận qua lại, cặp vợ chồng đã không sống với nhau, hơn thế, nữ Công tước đã dọn đến ở miền Nam nước Pháp. Tất cả chuyện này xảy ra hoàn toàn chưa bao lâu. Còn tình cảm của đứa con, như chúng tôi nhận thấy rất rõ, thật sự hướng về phía người mẹ. Sau khi nữ Công tước rời khỏi Khôlabn – Hexơ - Khôl, Công tước rất buồn. Khi đó ngài quyết định chuyển cậu bé tới ký túc xá chỗ tôi. Qua hai tuần Huân tước bé nhỏ Xôntayrơ hoàn toàn thích ứng với cuộc sống ở đây. Nếu xét theo toàn bộ tính tình thì cảm thấy cậu bé rất thoải mái.

Lần cuối cùng người ta trông thấy cậu vào tối ngày 13 tháng 5, nghĩa là vào ngày thứ hai. Căn phòng dành cho cậu ở lầu hai, còn căn phòng lớn kề bên có hai cậu bé khác ngủ. Vào đêm hôm đó các cậu bé này không nhìn thấy, cũng như không nghe thấy gì cả. Thật ra Huân tước Xôntayrơ rời khỏi phòng mình không phải bằng cửa chính. Cửa sổ ở chỗ cậu ta mở toang, cây trường xuân với những nhánh rất rậm rạp quấn quanh tường… Trên mặt đất chúng tôi không tìm thấy dấu vết nào, nhưng chắc là cậu đã bò qua cửa sổ.

Người ta sực nhớ đến kẻ bỏ trốn vào ngày thứ ba lúc 7 giờ sáng. Giường của cậu không phủ khăn trải. Trước lúc đi, cậu ta còn kịp mặc bộ đồng phục học sinh – áo vét đen và quần xám. Không có ai vào phòng cậu ban đêm. Còn nếu như từ đó vọng ra những tiếng    kêu hay những âm thanh vật lộn thì chắc Kôntor, người học sinh già dặn ở phòng ngủ bên cạnh tất nhiên sẽ nghe thấy, vì cậu ấy ngủ rất tỉnh.

Sự mất hút của Huân tước Xôntayrơ vừa được phát hiện, tôi đã triệu tập tất cả ký túc xá lại - gồm những chú bé, những cậu học sinh và những  người phục vụ. Đến lúc đó chúng tôi tin rằng Huân tước Xôntayrơ bỏ đi không phải một mình. Khai Zegêrơ giảng viên tiếng Đức cũng vắng mặt, căn phòng của Khai Zegêrơ ở chái nhà đối diện với lầu hai. Có điều cửa sổ của căn phòng cũng trông ra ngoài bãi cỏ. Giường chiếu của anh ta không được dọn dẹp. Tuy nhiên, hình như anh ta bò qua cửa sổ, bíu vào những nhánh trường xuân, tụt xuống dưới vì đôi tất chân của anh ta vứt bừa bãi trên sàn nhà.

Khaizegêrơ vào trường tôi dạy hai năm trước đây do một sự tiến cử đáng tin cậy nhất. Nhưng anh ta là một người trầm lặng, hay cau có và không gây được cảm tình gì đặc biệt đối với học sinh cũng như đối với giáo viên.

Hôm nay đã là ngày thứ năm. Từ ngày thứ ba chúng tôi đã không biết tin tức mới mẻ nào về kẻ chạy trốn. Cố nhiên, việc đầu tiên tôi tiến hành là liên lạc với Khôzenherơ – Khôl. Chỗ ở của Công tước cách trường chừng vài dặm. Chúng tôi hy vọng do nhớ nhà mà Huân tước Xôntayrơ đã trở về chỗ cha. Thế nhưng ở đấy cũng không có cậu ta. Công tước vô cùng lo ngại. Còn điều gì liên quan đến tôi đấy à? Như chính ông có thể biết đấy, đó là nỗi lo lắng và ý thức trách nhiệm của người thầy trước học trò của mình. Ông Hôm, tôi van ông, hãy đừng tiếc sức của mình! Công việc này xứng đáng để ông hiến toàn bộ sức lực cho nó.

Sơlốc Hôm chăm chú lắng nghe từ đầu đến cuối câu chuyện của viên giám đốc bất hạnh. Lông mày anh nhướng lên cùng những nếp nhăn hằn sâu giữa chúng chứng tỏ không cần phải thuyết phục thêm nữa anh cũng sẽ đặt tất cả sức lực của mình vào việc điều tra. Do tính nghiêm trọng của nó, công việc này đã làm thức dậy lòng ham thích thường trực trong anh trước những nhiệm vụ phi thường và hóc búa. Anh rút cuốn sổ tay từ túi ra và ghi vào đấy một điều gì đó cần được ghi nhớ.

- Ông đã phạm một sai lầm lớn là không đến ngay chỗ tôi – Hôm thốt lên nghiêm khắc – Điều này sẽ gây nhiều rắc rối cho cuộc điều tra, chẳng hạn, tôi tin rằng cả bãi cỏ lẫn dây trường xuân trên tường đều có thể kể được nhiều điều cho những cặp mắt giàu kinh nghiệm.

- Biết làm sao được, ông Hôm. Công tước đã gắng giữ kín việc này. Ngài e sợ rằng biết đâu những nỗi bất hoà trong gia đình mình lại trở thành đối tượng cho những lời đơm đặt. Điều đó luôn khiến ngài kinh tởm.

- Các nhà chức trách địa phương đã tiến hành điều tra vụ chạy trốn của Huân tước Xôntayrơ chưa?

- Rồi, thưa ông! Thế nhưng, than ôi, điều đó đã không đem lại kết quả gì cả. Đầu tiên chúng tôi lần theo dấu vết của những kẻ tẩu thoát. Có người báo cho tôi là một chàng trai cùng một cậu bé đã rời khỏi ga chỗ chúng tôi từ chuyến tàu sáng. Tuy nhiên, vào chiều hôm qua người ta đã bắt giữ được họ ở Livêrpulơ và sự nhầm lẫn lập tức được sáng tỏ. Thế là tôi hoàn toàn thất vọng. Sau một đêm thao thức, tôi quyết định đi đến chỗ ông bằng ngay chuyến tàu đầu tiên.

- Sau lúc cảnh binh bị cuốn theo dấu vết giả, có lẽ công việc điều tra hiện trường vẫn chưa được tiến hành đến nơi đến chốn?

- Tự nhiên họ ngừng cuộc điều tra lại!

- Như thế nghĩa là ba ngày đã trôi qua một cách vô ích. Điều này thật đáng công phẫn!

- Thực đúng như vậy! Ông rất có lý.

- Dẫu sao vẫn có thể tìm ra manh mối. Tôi sẵn lòng bắt tay vào công việc. Hãy nói cho biết ông đã xác định mối quan hệ giữa cậu bé chạy trốn và người giáo viên dạy tiếng Đức chưa?

- Không có mối quan hệ nào giữa họ cả.

- Người thầy có dạy cậu ta ở lớp chứ?

- Không.

- Các xe đạp khác vẫn không bị đụng đến sao?

- Không.

-  Ông tin chắc vậy à?

- Hoàn toàn tin.

- Tôi hy vọng ông nghĩ rằng anh chàng dạy tiếng Đức đã ra đi bằng xe đạp trong một đêm thanh vắng với cậu bé trên tay?

- Cố nhiên, không.

- Vậy lúc bấy giờ ông giải thích tất cả chuyện đó ra sao?

- Có thể họ lấy xe để đánh lạc hướng. Sau đấy họ giấu xe đạp vào một nơi nào đấy, còn chính họ lại đi bộ.

- Cũng có thể. Nhưng, như chính ông đã thừa nhận đó là cách đánh lạc hướng kỳ quái. Các xe đạp khác vẫn ở trong kho chứa đồ à?

- Vâng.

- Phải chăng tốt hơn cả đối với anh ta là giấu xe đạp đi, nếu anh ta muốn đưa các ông tới ý nghĩ cho rằng họ ra đi bằng xe chứ không phải đi bộ?

- Quả vậy! Ông hoàn toàn có lý.

- Không, lý luận này quả có chỗ chưa ổn. Song, bản thân việc mất chiếc xe đạp có thể là khởi điểm cho sự điều tra tiếp theo. Nói cho cùng, đấy không phải là vật để cất giấu hoặc để huỷ hoại. Chỉ còn một câu hỏi này nữa: có ai đến thăm cậu bé trước hôm cậu tẩu thoát không?

- Không.

- Có thể có thư gửi cho cậu ta chứ?

- Có một lá thư.

- Ai gửi?

- Cha cậu ta.

- Ông mở hộp thư của học sinh chứ?

- Không.

- Thế tại sao ông cho rằng lá thư được chuyển đến từ cha cậu ta?

- Trên phong bì có gia huy và địa chỉ được viết bằng chính nét chữ nguệch ngoạc của Công tước. Ngoài ra, bản thân Công tước cũng nhớ lại là đã viết thư cho con trai.

- Cậu bé nhận được các lá thư trước khi nào?

- Những ngày sau cùng không có lá thư nào gửi cho cậu ta cả.

- Từ Pháp có ai gửi thư về cho cậu ta không?

- Không. Một lần cũng không.

- Tất nhiên ông hiểu tôi đang hướng tới cái gì rồi. Hoặc là người ta dùng sức mạnh để cướp Huân tước Xôntayrơ, hoặc là cậu ta tự đi theo ý muốn của mình. Giả định cuối cùng có thể là cậu bé đã không dám làm một hành động như thế nếu thiếu sự tác động từ bên ngoài. Còn nếu không một ai đến chỗ cậu ta thì sự tác động chỉ còn ở các lá thư. Tôi coi trọng việc biết ai là người liên lạc thư tín với cậu bé là vì thế!

- Chắc gì ở đây tôi có thể giúp được ông. Theo chỗ tôi biết, chỉ có người cha viết thư cho cậu ta thôi!

- Bức thư của người cha đến đúng vào ngày cậu bé chạy trốn. Mối quan hệ giữa cha và con ra sao? Có tốt không?

- Công tước không bao giờ ban cho ai tình thân ái của mình – ngài bị cuốn hút vào những công việc quốc gia đại sự. Chắc gì những tình cảm cha con bình thường lại có thể gần gũi với trái tim ngài. Nhưng, theo cách riêng của mình, ngài quan hệ với người con cũng không đến nỗi nào.

Tuy vậy, trái tim của đứa trẻ hoàn toàn hướng về phía người mẹ?

- Vâng.

- Bản thân cậu bé có nói như thế không?

- Không.

- Vậy ai nói? Công tước nói chăng?

- Ồ! Tất nhiên là không.

- Thế thì do đâu ông biết được điều đó?

- Tôi phải trò chuyện với thư ký của Công tước, ông Đjâyimxơ Uail-xerơ. Ông ta đã tiết lộ với tôi về tâm trạng của Huân tước Xôntayrơ.

- Hiểu rồi! Nhân tiện xin hỏi luôn, bức thư cuối cùng của Công tước đã được tìm thấy trong phòng của cậu bé sau cuộc chạy trốn phải không?

- Không, cậu ta cầm theo người… Ông Hôm, có lẽ đã tới lúc chúng ta cần ra ga rồi thì phải?

- Bây giờ tôi phái người đi gọi xe. Sau 1 giờ nữa chúng tôi sẽ sẵn lòng giúp ông. Ông Khaxtâyblơ, nếu ông có ý định đánh điện về nhà thì hãy làm sao cho mọi người chỗ ông đều nghĩ rằng cuộc điều tra hãy còn đang được tiến hành ở Livêrpulơ. Vì dường như người ta đã thả đàn chó săn ra rồi thì phải. Do không bị quấy rầy, trong thời gian đó tôi sẽ bình tâm làm một chút gì đó ở ngay cạnh cửa ra vào của trường ông. Có thể những chiếc mũi thính cũng chẳng thể đánh hơi nổi hai con chó săn già đời như người hầu cận tận tâm của ông đây và Oátxơn, người bạn của tôi. Chúng tôi sẽ bày cách phát hiện được cái gì đó ngay tại chỗ.

Buổi chiều, những cơn gió lành lạnh dễ chịu của xứ Jiêrbơ, nơi có khu trường quý tộc  của tiến sĩ Khaxtâyblơ, hiu hiu thổi đến chỗ chúng tôi. Chúng tôi đi tới cạnh trường thì trời đã tối hẳn. Một tấm danh thiếp nằm ngay trên bàn ở phòng chờ. Người hầu phòng thầm thì với viên giám đốc về một chuyện gì đó. Và thế là ông ta quay trở lại chỗ chúng tôi với một vẻ thật xúc động.

- Công tước đang ở đây – Ông nói – Công tước và ông Uailzerơ hiện đang chờ tôi trong phòng làm việc. Chúng ta cùng vào đi! Tôi sẽ giới thiệu các ông với Công tước.

Cố nhiên, qua các bức thư tôi có biết người hoạt động nhà nước danh tiếng nhất này. Nhưng hoá ra ông không hoàn toàn giống như trong các bức ảnh chụp: ăn vận lịch sự, ông đứng trên tấm thảm cạnh lò sưởi ngay trước mặt chúng tôi. Dáng điệu ông oai vệ, khuôn mặt hẹp, chiếc mũi dài khoắm khoắm nhô ra một cách kỳ cục. Ông trông nhợt nhạt như xác chết. Bộ râu dài sáng màu hung lấp loáng sắc vàng của dây đồng hồ trong lần áo gilê trắng của ông đặc biệt chứng tỏ vẻ nhợt nhạt ấy. Viên Cựu bộ trưởng lạnh lùng nhìn chúng tôi. Đứng cạnh Công tước là thư ký riêng của ông: Uailzerơ. Đó là một chàng trai có vóc người tầm thước, bộ mặt cáu kỉnh linh hoạt, đôi mắt sâu thông minh đúng như dự đoán của tôi. Anh ta bắt đầu câu chuyện bằng một giọng điệu rất quả quyết, thậm chí cay độc:

- Tiến sĩ Khaxtâyblơ! Tôi đã ở chỗ ông ngay từ sáng nay, song, đáng tiếc là tôi đến muộn và đã không thể ngăn cản chuyến đi của ông tới Luân Đôn. Như mọi người cho tôi biết thì ông đến chỗ thám tử Sơlốc Hôm để uỷ thác cho ông ta điều tra vụ này. Tiến sĩ Khaxtâyblơ, Công tước tỏ ra ngạc nhiên khi ông chưa xin ý kiến Người mà đã dám hành động như vậy!

- Khi tôi nhận thấy sự truy tìm của cảnh binh đã không đưa tới cái mà…

- Công tước không hề tin vào điều đó.

- Nhưng ông Uailzerơ!...

- Tiến sĩ Khaxtâyblơ! Như ông đã biết đấy, Công tước không muốn chuyện này lan rộng ra. Ngài cho là không nên thổ lộ với người ngoài vẫn hơn.

- Dễ dàng khắc phục tình trạng này – Viên tiến sĩ hoảng sợ lúng túng nói – ông Sơlốc Hôm có thể trở về Luân Đôn bằng chuyến tàu sáng.

- Không có ý định như vậy! Tôi không có ý định như vậy đâu, tiến sĩ ạ! – Hôm cười một cách nhã nhặn – Khí trời phương Bắc sảng khoái và tốt lành đối với sức khoẻ tới mức tôi quyết định nghỉ ngơi ở đây, trên những bình nguyên này, một vài ngày. Tôi sẽ tiêu khiển trong những điều kiện cho phép, chẳng hạn tôi sẽ tìm chỗ ăn nghỉ tại vườn nhà ông hay ở khách sạn nông thôn. Điều này cố nhiên chỉ tuỳ thuộc vào ông.

Người tiến sĩ bất hạnh rơi vào tình trạng hoang mang cực độ. Nhưng đúng lúc ấy giọng nói trầm trầm của viên Công tước có bộ râu hung hung đã kịp thời vang lên cứu thoát ông ta. Giọng nói ấy chẳng khác gì tiếng chiêng mà người ta thường dùng để gọi mọi người về ăn cơm cho đúng giờ.

- Ông Tailzerơ nói phải đấy, tiến sĩ Khaxtâyblơ ạ! Đáng lẽ ông cần trao đổi với tôi thì hơn. Tuy nhiên, nếu ông đã thổ lộ tất cả công việc này với ông Hôm thì từ phía chúng ta việc chối từ sự giúp đỡ của ông ây chỉ là một hành vi xuẩn ngốc. Ông Hôm, ông chẳng việc gì phải lui tới khách sạn nông thôn. Tôi sẽ vui mừng đón ông về nghỉ ngay tại chỗ chúng tôi ở Khôzenherơ – Khôl.

- Xin cảm tạ đại nhân! Nhưng, theo yêu cầu của công việc, tôi cần phải ở lại đây, ngay tại nơi đã xảy ra biến cố.

- Tôi không muốn ép buộc ông đâu, ông Hôm ạ! Song nếu ông thấy cần thu thập những tin tức nào đó từ tôi hay từ ông Uailzerơ, chúng tôi sẽ sẵn lòng giúp đỡ.

- Có lẽ tôi sẽ phải đến thăm Khôzenherơ – Khôl – Hôm nói – Còn bây giờ, thưa ngài, tôi chỉ muốn biết ngài giải thích việc biến mất một cách đầy bí ẩn của con ngài như thế nào?

- Thật khó trả lời quá, thưa ông!

- Xin lỗi ngài nếu tôi đụng phải vấn đề khiến ngài cảm thấy khó chịu nhưng không còn cách nào hơn. Ngài có cho rằng nữ Công tước đã lôi kéo cậu bé không?

Viên Cựu bộ trưởng chần chừ rồi cuối cùng nói:

- Không, tôi không nghĩ như vậy!

- Thế thì có thể nảy ra cách giải thích khác: có lẽ kẻ nào đã bắt cóc cậu bé để chuộc tiền chăng?

- Không, thưa ông!

- Còn một câu hỏi nữa, thưa đại nhân! Tôi được biết ngài đã viết thư cho con trai ngài vào đúng ngày cậu bé biến mất phải không?

- Không, chuyện đó xảy ra ngày hôm trước.

- Hoàn toàn chính xác. Có điều cậu bé đã không nhận được thư của ngài vào chính ngày hôm đó, có đúng không ạ?

- Vâng.

- Trong lá thư đó chắc không có điều gì có thể làm cậu bé xúc động hoặc đem lại cho cậu ta ý nghĩ chạy trốn chứ ạ?

- Tất nhiên không, thưa ông!

- Chính tay ngài chuyển lá thư đi phải không ạ?

Viên thư ký ở phía sau Công tước bực dọc trả lời:

- Công tước không có thói quen tự mình chuyển thư từ cho người nhận. Lá thư ấy được lưu lại trên bàn cùng với những lá thư khác trong phòng làm việc. Và tôi đã nhét tất cả vào thùng bưu chính.

- Ông có tin là trong số các lá thư ấy có bức thư chuyển cho đứa bé không?

- Đúng vậy! Tôi đã nhìn thấy nó.

- Ngài đã viết bao nhiêu lá thư vào ngày hôm ấy, thưa đại nhân?

- Hai mươi hoặc ba mươi gì đấy! Tôi có phạm vi giao thiệp thư tín rất rộng. Tuy nhiên, theo tôi, chúng ta đã phần nào đi ra ngoài thực chất của công việc rồi đấy!

- Không. Tại sao như thế được! - Hôm nói.

- Chính tôi đã khuyên cảnh binh hướng sự điều tra xuống phía Nam nước Pháp – Công tước tiếp tục – Xin nhắc lại: tôi không cho rằng nữ Công tước có khả năng đẩy người con trai tới hành động kỳ lạ ấy được. Nhưng do tính bướng bỉnh cộng với sự xúi bẩy và hỗ trợ của anh chàng người Đức, đứa bé có thể chạy tới chỗ mẹ mình. Còn bây giờ, tiến sĩ Khaxtâyblơ, xin được phép từ biệt ông.

Tôi cảm thấy Hôm còn muốn hỏi một vài câu nữa, song viên Công tước ngay lập tức đã kết thúc câu chuyện. Phép xã giao sành sỏi của viên quý tộc đã không cho phép ông bàn bạc công chuyện thuộc gia đình mình với người ngoài. Và hình như ông ta e ngại rằng mỗi câu hỏi mới sẽ lại soi dọi ánh sáng không thương tiếc vào phần cuộc đời che đậy kỹ lưỡng của ông.

Ngay sau khi viên công tước và ông Uailzerơ đi khỏi, bạn tôi với sự sốt sắng thành bản tính của mình đã bắt tay ngay vào công việc.

Sự quan sát kỹ lưỡng căn phòng của cậu bé không đem lại kết quả gì ngoài kết luận dứt khoát là cậu ta chỉ có thể chạy trốn qua phía cửa sổ. Trong phòng của người giáo viên dạy tiếng Đức cũng không tìm thấy tang vật gì mới trong số đồ đạc của ông ta. Dây trường xuân phía dưới cửa sổ đã không chịu nổi sức nặng của cậu bé. Soi đèn trên bãi cỏ, chúng tôi nhận ra ở đó có những vết hằn sâu. Cỏ bị xéo nát – đó là bằng chứng duy nhất về cuộc chạy trốn ban đêm còn chưa được sáng tỏ này.

Để tôi ở lại một mình, Sơlốc Hôm bỏ đi, và anh trở về vào khoảng mười hai giờ đêm. Anh thu được tấm sơ đồ địa phương ở đâu đó. Anh trải nó trên giường trong phòng nghỉ rồi đặt cây đèn vào chính giữa. Sau đấy anh châm thuốc hút và bắt đầu chăm chú xem xét tấm sơ đồ. Thỉnh thoảng anh dùng chiếc tẩu thuốc bằng hổ phách đang bốc khói chỉ cho tôi coi những điểm cần lưu ý.

-  Công việc này càng ngày càng cuốn hút tôi hơn, Oátxơn ạ! – Hôm nói – Đó là một công việc tuyệt diệu, rất tuyệt diệu…Song lúc này, khi tôi mới bắt đầu tìm hiểu, tôi chỉ muốn anh chú ý tới một vài chi tiết địa lý có thể mang ít nhiều ý nghĩa trong quá trình điều tra. Hãy nhìn vào tấm sơ đồ này: 

- Ô chữ nhật có nét gạch chéo này là trường học. Chúng ta sẽ cắm kim găm vào đó. Còn đây là đường nhựa. Nó chạy qua khu trường theo hướng đông – tây. Trong khoảng một dặm không có những con đường nhánh từ đây đi các hướng khác. Nếu những kẻ chạy trốn đi băng đường bộ thì không thể không đi qua con đường này!

- Đúng vậy!

- Theo sự trùng hợp may mắn của các sự kiện, chúng ta có thể tin chắc rằng một cái gì đó đã diễn ra trên con đường vào đêm hôm ấy. Thế còn chỗ này, nơi tẩu thuốc của tôi đang chỉ đây, từ 12 giờ đêm đến 6 giờ sáng có cảnh binh túc trực. Như anh thấy đấy, đây là ngã ba đầu tiên ở hướng đông của con đường. Người cảnh binh không rời trạm gác của mình lấy một phút. Anh ta khẳng định rằng chắc chắn anh ta sẽ nhận ra người đàn ông và cậu bé nếu quả họ có đi qua đấy. Tôi mới nói chuyện với anh ta vào tối nay, và theo tôi, chúng ta có thể tin vào lời của anh ta. Thế nghĩa là phần này của con đường được loại trừ ra. Còn bây giờ chúng ta xem tình hình ra sao ở phía tây của con đường. Ở đó có khách sạn “Bò vàng”. Nữ chủ nhân của khách sạn đang bị bệnh. Bà phái người đi Mếctôn để mời bác sĩ. Nhưng người bác sĩ này lại đang thăm một bệnh nhân khác. Chỉ vào sáng sớm hôm sau ông ta mới đến được chỗ bà. Vậy là ở khách sạn, trong khi chờ đợi bác sĩ, suốt đêm mọi người không ngủ được. Thỉnh thoảng, người ta nhìn ra ngoài đường xem bác sĩ đã đến chưa. Theo lời của những người này thì không một ai đi qua khách sạn cả. Nếu tin theo lời của họ thì phần đường phía tây sẽ không còn làm chúng ta nghĩ ngợi gì nữa. Vì vậy, những  người  chạy trốn đã chọn một con đường khác nào đó. 

- Họ đi bằng xe đạp chăng? – Tôi nói.

- Đúng vậy, bằng xe đạp. Bây giờ chúng ta rẽ sang hướng đó và tiếp tục lập luận của mình. Nếu những kẻ chạy trốn không đi trên đường cái, thì họ hoặc là đi theo hướng bắc, hoặc là đi theo hướng nam của ngôi trường. Đó là điều chắc chắn. Vậy chúng ta thử cân nhắc hai giả định này xem sao. Phía nam khu trường có một cánh đồng rộng lớn. Cánh đồng bị phân cách thành những mảnh nhỏ. Mỗi mảnh được ngăn với mảnh khác bởi hàng rào xây bằng đá. Không có khả năng qua đó bằng xe đạp. Vậy cần loại bỏ giả định này. Giờ chúng ta hướng sự quan sát sang phía bắc. Ở đây, chúng ta trông thấy một cánh rừng nhỏ được gọi là “Mũi dao lệch”. Phía sau khu rừng sâu chừng mười dặm có một cánh đồng lầy lội kéo dài, càng về hướng bắc càng nhiều gò đống. Chênh chếch phía trái cánh đồng là Khôzenherơ – Khôl – đến đây theo đường cái mất 10 dặm, còn theo đường chim bay mất chừng 6 dặm. Cánh đồng này hiu quạnh và vắng vẻ. Vài trại chăn nuôi trâu bò nằm rải rác trên đó. Cừu, bò và chim đầm lầy – đó là cư dân duy nhất của vùng này. Xa hơn như chính anh trông thấy đấy, còn có một con đường nhựa chạy qua. Dọc theo con đường này có chừng hai, ba biệt thự, một nhà thờ và một khách sạn. Phía sau là những quả đồi cao và dốc. Tôi tin là cần phải hướng sự tìm kiếm của chúng ta về phía đó.

- Nhưng còn xe đạp! – Tôi nhắc lại.

- Xe đạp thì đã sao nào? – Hôm cáu kỉnh nói – Những người đi xe đạp cừ khôi có phải chỉ đi trên đường cái thôi đâu! Hơn nữa, ở cánh đồng lại có những con đường mòn. Vả lại, vào đêm hôm đó trăng lại rất sáng… Vậy còn có gì khó nào?

Có tiếng gõ cửa khẩn cấp. Sau đấy tiến sĩ Khaxtâyblơ bước vào phòng chúng tôi. Ông cầm trong tay chiếc mũ cátkét màu xanh lơ với phù hiệu trắng trên lưỡi trai.

- Vật mới tìm được đấy! – Ông ta reo lên – Thật là may mắn! Thế là cuối cùng chúng ta đã lần ra dấu vết của cậu bé. Đây là chiếc mũ cátkét của cậu ta.

- Các ông tìm thấy ở đâu?

 - Trên xe mui chỗ người zigan. Những người này lưu lại trong trại người zigan trên cánh đồng. Họ nhổ trại vào ngày thứ ba. Hôm nay, cảnh binh bất thình lình ập tới chỗ họ, lục soát trong xe. Và đây là cái được tìm thấy!

- Cái này rơi vào tay họ bằng cách nào vậy? Họ nói những  gì?

- Họ lảng tránh, họ nói láo. Họ thề thốt rằng đã tìm thấy chiếc mũ trên cánh đồng vào sáng hôm thứ ba. Không, quân vô lại ấy chắc biết cậu bé ở chỗ nào rồi! Thật là may mắn, người ta đã tống giam cả lũ. Nỗi kinh hoàng của pháp luật sẽ tháo lưỡi chúng ra. Không chỉ nỗi kinh hoàng mà có thể còn cả ví tiền của Công tước nữa!

Tiến sĩ bước ra khỏi căn phòng.

- Thế là được rồi! – Hôm nói – Dẫu sao điều này cũng khẳng định lý thuyết của tôi. Rõ ràng, chỉ sự tìm kiếm trên cánh đồng mới đem lại một kết quả nào đấy. Ở đây, nếu cảnh binh không bắt được những người zigan thì họ quả không làm được gì cả. Hãy nhìn vào sơ đồ này, Oátxơn! Con suối chảy qua cánh đồng. Ở khoảng giữa khu trường và Khôzenherơ – Khôl nó hoá thành đầm lầy. Tiết trời bây giờ hanh khô, do vậy việc tìm kiếm dấu vết sẽ không khó khăn lắm. Có thể còn lưu lại một cái gì đó giữa đầm lầy. Ngày mai tôi sẽ rẽ vào chỗ anh sớm hơn. Chúng ta sẽ gắng làm sáng tỏ câu chuyện bí hiểm này.

Ngày hôm sau, khi thức giấc vào lúc mờ sáng, tôi nhận ra bóng dáng cao gầy của Hôm cạnh giường tôi. Anh mặc áo quần tề chỉnh. Và rõ ràng anh đã kịp tiến hành một cuộc dạo chơi.

- Tôi đã khảo sát bãi cỏ và kho để xe đạp – Bạn tôi nói – Sau đó tôi đi dạo ở khu rừng “Mũi dao lệch”. Hãy dậy đi, Oátxơn! Cacao đã được chuẩn bị ở phòng bên rồi. Tôi sẽ yêu cầu anh đi ngay đấy! Ngày hôm nay chúng ta cần làm nhiều việc lắm!

Gương mặt bạn tôi ửng đỏ, đôi mắt anh sáng lên như vẫn thường thấy ở những người mong mỏi bắt tay ngay vào công việc ưa thích của mình. Đó là Hôm thân yêu của tôi – một người sôi động, giàu nghị lực, hoàn toàn khác anh chàng xanh xao ưa trầm ngâm, thích mơ mộng ở phố Bâycơ. Và, khi ngắm nhìn vẻ ngoài chững chạc, tràn trề sức lực của anh, tôi chợt hiểu một ngày bận rộn đang chờ đợi chúng tôi.

Thế nhưng, ngày hôm đó lại bắt đầu bằng nỗi thất vọng chua chát nhất. Lòng tràn đầy hy vọng, chúng tôi đi đến cánh đồng than bùn màu nâu. Ở đó có rất nhiều con đường ngang dọc bị đàn cừu dẫm mòn. Chẳng bao lâu chúng tôi đi tới cánh đồng cỏ màu xanh sáng đã hoá thành đầm lầy ngăn cách chúng tôi với Khôzenherơ – Khôl. Nếu chạy về nhà thì cậu bé không thể băng qua cánh đồng này được! Tại đây tất phải lưu lại những dấu vết của cậu ta và những dấu vết của ông thầy người Đức. Nhưng chúng tôi không hề tìm thấy những dấu vết như thế. Bạn tôi đi dọc theo bên rìa của cánh đồng cỏ màu xanh lục. Anh chau mày chăm chú quan sát từng vệt sẫm trên bề mặt cánh đồng. Ở đây có rất nhiều vết chân cừu. Đi tiếp vài dặm nữa, chúng tôi nhận thấy những vết móng chân bò cái. Đây là tất cả những gì lọt vào mắt chúng tôi.

- Bế tắc rồi! – Hôm buồn bã đưa mắt nhìn quanh cánh đồng đang trải ra trước mắt chúng tôi – Tại đây còn có những bãi lầy và giữa những bãi lầy này có một lối hẹp đi qua. Hãy nhìn! Hãy nhìn kìa! Cái gì thế này?

Chúng tôi bước vào lối mòn có in hình một dải đen đen. Những vết bánh xe đạp in rõ theo chính giữa lối mòn trên mặt đất ẩm ướt.

- U ra! – Tôi reo lên – Xe đạp đây rồi!

Nhưng Hôm lắc đầu, khuôn mặt anh biểu lộ không hẳn là nỗi sung sướng mà đúng hơn là sự ngạc nhiên và lo ngại. Anh nói:

- Một chiếc xe đạp nào đấy chứ không phải chiếc xe đạp chúng ta đang tìm kiếm. Tôi được biết 12 vết lốp xe đạp khác nhau. Như anh thấy đấy, vết lốp xe này là của hãng “Đan lốp” và lại còn có miếng vá nữa. Khaizegêrơ có loại lốp của hãng “Pan mê rốp” với những  đường vạch dọc kia. Giảng viên dạy toán Êvilingơ cho tôi biết điều đó. Cho nên, không phải Khaizegêrơ mà một người khác đã qua đây!

- Nghĩa là chính cậu bé?

- Ôi! Giá như chúng ta xác định rằng cậu ta có xe đạp! Tuy nhiên, người ta cam đoan với chúng ta là cậu bé không có xe. Những  dấu vết này, như chính anh có thể nhận thấy đấy, được bắt đầu từ khu trường.

- Hay là theo hướng tới trường.

- Không phải, Oátxơn thân mến ạ! Vết bánh xe sau luôn sâu hơn vì nó phải chịu một trọng lượng lớn hơn. Đây này, anh thấy chưa? Ở một vài chỗ vết xe sau trùng với vết bánh xe trước ít rõ hơn và đã xoá mờ nó. Không, người đi xe đạp chắc phải đi ra từ khu trường. Cũng có thể người này không có quan hệ gì tới sự truy tìm của chúng ta. Song, trước khi tiếp tục tìm kiếm, chúng ta hãy theo dấu vết này mà đi ngược trở lại vậy.

Chúng tôi đã làm như thế. Đi chừng 200 – 300 acxơ tới chỗ con đường mòn rẽ ngoặt từ vạt đất bị hoá lầy đột nhiên vết lốp xe biến mất. Con suối nhỏ lại tiếp tục cắt ngang lối mòn, và ở bên kia con suối vết xe đạp lại xuất hiện, mặc dầu những con bò cái đã kịp xéo lên chúng. Sau đấy, con đường mòn ăn sâu vào cánh rừng “Mũi dao lệch”. Cánh rừng hầu như tiếp liền ngay với toà nhà của trường. Rõ ràng người đi xe đạp đã xuất phát từ cánh rừng này. Hôm ngồi xuống một tảng đá, tay chống cằm. Anh ở trong tư thế hoàn toàn bất động. Trong thời gian này, tôi đã kịp hút hết hai điếu thuốc. Cuối cùng, anh bạn tôi nói:

- Thôi được! Một kẻ có đầu óc phòng xa cố nhiên có thể thay thế bánh xe đạp của mình để đánh lẩn dấu vết. Nhưng việc điều tra tội lỗi của một kẻ có con mắt nhìn xa trông rộng như vậy quả là một vinh hạnh lớn đối với tôi. Ta hãy tạm gác vấn đề nan giải này lại     và hãy quay lại chỗ đầm lầy vì ở đằng ấy cần được quan sát kỹ hơn nữa.

Chúng tôi tiếp tục xem xét tỉ mỉ phần đất lầy lội của cánh đồng. Chẳng bao lâu chúng tôi đã nhận được phần thưởng xứng đáng với công lao của mình. Hôm nhận ra còn một lối mòn bẩn thỉu khác nữa. Anh đi tới gần lối mòn và vui sướng reo lên. Những  vệt mảnh như dây điện thoại chạy dài theo chính giữa lối mòn. Đó là  dấu lốp xe đạp “Panmêrốp”.

 - Ngài Khaizegêrê đã qua đây! – Hôm thốt lên đầy xúc động – Vậy là, Oátxơn ạ, những  suy nghĩ của tôi không đến nỗi tồi lắm!

- Xin chúc mừng anh!

- Thế nhưng còn lâu nữa mới tới được kết quả cuối cùng. Xin anh đừng bước vào lối mòn. Hãy đi theo vết này! Có lẽ chỉ chốc lát nữa thôi nó sẽ đột ngột kết thúc.

Tuy vậy, ở phần này của cánh đồng vẫn luôn gặp phải những chỗ sình lầy. Và mặc dầu lốp xe đạp thường biến mất, nhưng mỗi lần như thế, chúng tôi lại tìm thấy nó.

- Anh hãy để ý xem ở đây, người đi xe đạp có đạp vào pêđan không? – Hôm nói – Điều này thật dễ thấy. Anh nhìn vào những  vết lốp xe trước và sau mà coi, chúng đều rõ như nhau. Và chỉ có thể giải thích là do người đi xe đã dồn trọng lượng về phía tay lái như những tay đua vẫn thường làm. Trời! Anh ta ngã kìa!

Trên lối mòn bẩn thỉu có một vệt loang dài và rộng. Xa hơn chút xíu thấy có những  vết giầy, và sau đó lốp xe đạp lại xuất hiện.

Hôm nhặt một cành cây có hoa bị gãy từ dưới đất lên. Khủng khiếp thay những bông  hoa màu vàng bị vấy vệt đỏ. Trên lối mòn và trong bụi cây, những  vết máu khô thẫm lại.

- Công việc tồi quá! – Hôm nói – Rất tồi! Thôi, Oátxơn, không đi về hướng này nữa. Hãy lùi lại phía kia vậy! Nào, xem ta có thể tìm gì ở đây nào?

Anh ta ngã, bị thương… đứng dậy… rồi lại ngồi lên xe đạp… tiếp tục đi. Có đàn bò đã qua lối mòn này, nhưng không phải bò đực đã húc anh ta! Có điều không gặp những vết khác ở đây. Đi lên phía trước, Oátxơn! Những vệt máu, những vết lốp xe đạp – Hãy cứ theo những  dấu vết này, chúng ta ắt sẽ tìm ra anh ta!

Sự truy tìm của chúng tôi không kéo dài. Vết xe đột nhiên bắt đầu rẽ theo lối mòn bóng lên vì ẩm ướt. Tôi đưa mắt nhìn về phía trước. Bất thình lình những ánh kim loại loé lên ngay trước mặt tôi. Chúng tôi lôi từ lùm cây ra một chiếc xe lốp hãng “Panmêrốp”. Một pêđan bị uốn cong, tay lái và bánh trước bê bết máu. Cách không xa có một chiếc giầy trồi lên trên cỏ. Chúng tôi chạy bổ đến đó và nhìn thấy người lái xe đạp bất hạnh – người cao, để râu, đeo kính. Mắt kính phải bị vỡ. Một quả đấm trời giáng vào sọ là nguyên nhân gây ra cái chết của anh ta. Sau khi bị thương, anh còn có thể đi xe đạp thêm được vài mét nữa. Điều đó chứng tỏ sức khỏe phi thường và sức mạnh tinh thần đáng ngạc nhiên của anh. Anh ta không mang tất, còn sau lần áo vétston chúng tôi nhận ra chiếc áo ngủ. Không còn nghi ngờ gì nữa, trước mắt chúng tôi là người giảng viên Đức đang nằm.

Hôm thận trọng xoay thi thể trở lại để xem xét. Sau đấy anh ngồi xuống và trầm ngâm suy nghĩ. Nhìn vào khuôn mặt đầy lo âu của anh, tôi hiểu rằng vật mới tìm được này không hoàn toàn đẩy việc điều tra của chúng tôi về phía trước. Cuối cùng, Hôm nói:

- Thú thật, tôi không rõ chúng ta cần làm gì, Oátxơn ạ! Tôi định tiếp tục đi. Sự tìm kiếm của chúng ta đã kéo dài đến mức chúng ta không thể mất thời giờ thêm nữa. Từ một phương diện khác, chúng ta cần báo cho cảnh binh. Lẽ nào lại có thể để xác người bất hạnh này ở đây được!

- Hãy viết vài chữ cho tôi! Nhưng thiếu anh, thiếu sự hỗ trợ của anh, tôi không thể tiến hành công việc được. Kìa! Có ai đó đang gạt than bun kia kìa! Hãy nhờ người ấy đi gọi cảnh binh lại đây vậy.

Tôi thực hiện ngay yêu cầu của Hôm, và anh thì phái người chủ trại đang tái người vì lo sợ chuyển mảnh giấy cho tiến sĩ Khaxtâyblơ.

- Thế đó, Oátxơn ạ! – Bạn tôi lại bắt đầu nói – Sáng nay tôi và anh  đã  tìm được hai  dấu vết. Dấu vết thứ nhất là lốp xe đạp hãng “Pamnêrốp”. Và như anh đã thấy, nó dẫn dắt chúng ta qua những  đâu rồi. Vật tìm được thứ hai của chúng ta là vết lốp xe đạp bị vá của hãng “Đanlốp”. Trước khi tìm hiểu dấu vết thứ hai này chúng ta hãy cùng xác định những  gì đã biết để phân biệt cái chủ yếu từ cái thứ yếu. Trước hết tôi muốn nhấn mạnh rằng cậu bé đã bỏ chạy theo ý muốn của mình. Cậu ta bò qua cửa sổ và lẻn đi một mình hoặc cùng người báo tin cho mình. Đó là điều chắc chắn.

Tôi gật đầu tán thành.

- Thế đấy! Còn bây giờ chúng ta trở lại với anh chàng người Đức bất hạnh này. Cậu bé kịp mặc áo quần – nghĩa là cậu ta đã có chuẩn bị để chạy trốn. Nhưng anh chàng người Đức rõ ràng là mặc quần áo một cách vội vã nên đã bỏ chạy mà không mang tất chân.

- Chắc chắn như vậy!

- Cái gì buộc anh ta nhảy qua cửa sổ? Chính là vì anh nhìn thấy cậu bé chạy trốn.

Anh muốn đuổi kịp và đưa cậu ta trở lại. Anh vớ lấy xe đạp của mình, đuổi theo cậu bé và chết trên đầm lầy.

- Đúng, hình như là thế!

- Bây giờ tôi sẽ đưa ra cái phần đáng tranh luận hơn cả trong những kiến giải của tôi. Rượt theo cậu bé, một người đàn ông chỉ cần chạy theo là đủ rồi, vì đuổi theo đứa trẻ thì chẳng lấy làm gì khó khăn lắm! Thế mà anh chàng người Đức, theo ý kiến của tiến sĩ Khaxtâyblơ là một tay lái xe đạp cừ khôi, lại xử sự theo một cách khác. Anh ta kịp vào kho chứa đồ lấy xe đạp của mình. Từ đó có thể rút ra kết luận thế này: Anh ta nhận thấy cậu bé sử dụng phương tiện di chuyển ưu việt hơn đôi chân của mình.

- Nói cách khác, cậu ta đã lấy xe đạp của một ai đó phải không?

- Chúng ta hình dung kết cục của cuộc tẩu thoát ấy như thế này: anh chàng người Đức chết cách ngôi trường 5 dặm. Cần lưu ý là anh ta chết không phải do viên đạn mà cậu bé rất có thể bắn vào anh ta. Anh ta chết bằng quả đấm không chút thương tiếc vào đầu, quả đấm của một người có đôi tay rắn khỏe. Nghĩa là cậu bé có người bạn đường và họ lỉnh nhanh tới mức một tay lái xe đạp cừ khôi chỉ đuổi kịp họ ở dặm đường thứ 5. Theo sự quan sát tại nơi xảy ra tấm thảm kịch, chúng ta chỉ tìm thấy những dấu vết của móng bò cái và chỉ có vậy mà thôi! Tôi đã đi một vòng rộng chừng 50 bước vẫn không nhận thấy một lối mòn nào khác. Người lái xe đạp thứ hai không có liên quan gì tới vụ giết người, và ở đây không có vết chân người.

- Này Hôm! – Tôi thốt lên – Điều đó thật khó tin!

- Hoan hô! - Anh nói – Kết luận thật chí lý! Trong sự trình bày các sự kiện của tôi có một cái gì đó thật khó tin – Đúng thế, tôi có sai lầm. Song, trong suốt thời gian điều tra, anh luôn ở bên tôi và chính mắt anh đã nhìn thấy tất cả. Vậy tôi sai lầm ở chỗ nào?

- Có thể anh ta bị thương vào đầu trong khi ngã.

- Ở giữa đầm lầy này sao, Oátxơn?

- Tôi rối trí mất rồi, Hôm ạ!

- Thôi đi, chúng ta đã giải đáp được những câu hỏi còn hóc búa hơn thế! Tài liệu giúp cho tư duy của chúng ta đã đầy đủ. Chỉ cần vận dụng chúng một cách khôn khéo nữa thôi. Nào, hãy tiếp tục đi, Oátxơn! Những chiếc lốp xe hãng “Panmêrốp” có thể đã nói hết cho chúng ta rồi đấy. Giờ thử xem chiếc lốp xe vá của hãng “Đanlốp” sẽ đưa chúng ta đến đâu?

Chúng tôi đi theo vết này. Nhưng chẳng bao lâu, những quả đồi thoai thoải phủ những  lùm cây thấp đã giăng dài trước mặt chúng tôi. Con suối đã ở lại phía sau. Đi tiếp sẽ không có ý nghĩa gì cả, bởi vì những vết lốp xe hãng “Đanlốp” có thể dẫn đến Khôzenherơ – Khôl với những chiếc tháp nhô lên về phía trái, hoặc có thể đưa tới những túp nhà màu sáng thấp lè tè mà nếu phán đoán theo tấm sơ đồ thì sau những túp nhà này có con đường cái chạy  qua.

Lúc chúng tôi chỉ cách khách sạn cũ kỹ rất xấu xí với con gà trống trên tấm biển chừng vài bước, đột nhiên Hôm kêu lên một tiếng, nắm lấy vai tôi khỏi ngã. Một chân anh bị sái, và như mọi người đều biết, trong những trường hợp như thế con người trở nên bất lực hoàn toàn. Anh tập tễnh bước đến trước cửa khách sạn nơi có một người đàn ông trung niên lực lưỡng, da ngăm đen, với chiếc tẩu thuốc trên môi đang ngồi.

- Xin chào ngài Riubin Khaizơ! – Hôm nói.

- Ông là ai? Sao biết tên tôi? – Sau khi ném ra một cái nhìn hằn học và ngờ vực, ông ta hỏi.

- Tên ông được ghi ở tấm biển ngay trên đầu ông kia kìa! Xin cho chúng tôi biết ông có chiếc xe ngựa nào không!

- Không.

- Tôi không thể bước nỗi bằng chân phải được.

- Hãy dừng bước nếu không thể bước nổi.

- Vậy tôi di chuyển bằng cách nào được?

- Hãy di chuyển bằng nạng vậy!

Các câu trả lời của ông Riubin Khaizơ thật bất nhã, thế mà Hôm đã chịu đựng được sự thô lỗ của ông ta bằng một lòng từ tốn đáng kinh ngạc. Anh nói:

- Hỡi con người đáng mến! Xin hãy nghe đây, ông không thấy điều rủi ro gì đã xảy ra với tôi ư? Chúng tôi phải đến nơi chúng tôi cần đến. Vậy bao giờ chúng tôi mới đến được?

- Bao giờ đến ấy ạ? Tôi không quan tâm đến chuyện đó! – Ông ta trả lời.

- Tôi đến đấy vì một việc quan trọng. Hãy cho tôi mượn xe đạp của ông tôi sẽ trả ơn một cách thích đáng.

- Chủ nhà vểnh tai nghe.

- Ông cần đi đâu?

- Đến Khôzenherơ – Khôl.

- Không phải đến thăm Công tước chứ? - Chủ khách sạn vừa chế nhạo nhìn vào bộ quần áo cáu bẩn của chúng tôi vừa hỏi.

Hôm phá lên cười thân thiện:

- Công tước sẽ đón tiếp chúng tôi một cách niềm nở.

- Tại sao?

- Vì chúng tôi đến với ngài bằng những tin tức tốt lành về đứa con bị thất lạc của ngài.

Ông Khaizơ giật mình:

- Phải chăng các ông đã tìm thấy?

- Từ Livêrpulơ người ta cho biết rằng cậu ta hiện đang ở đấy. Thế đó, rồi sẽ tìm được cậu bé!

Một bóng đen chợt thoáng qua bộ mặt thô bạo lởm chởm râu của ông ta. Khaizơ tự nhiên trở nên tốt bụng:

- Tôi từng là người đánh xe ngựa ở chỗ Công tước. Rồi đột nhiên ngài đãi ngược tôi. Thằng tiếp cỏ khô vu khống huyên thuyên về tôi với ngài. Rồi ngài thanh toán tiền cho tôi và thậm chí không tiến cử tôi nữa. Song, dầu sao tôi cũng rất vui bởi huân tước trẻ tuổi đã được tìm thấy ở Livêrpulơ. Thôi được, tôi sẽ giúp các ông chuyển tin tức tốt lành này tới Khôzenherơ – Khôl.

- Xin cảm ơn ngài! – Hôm nói – Chúng tôi sẽ ăn tối rồi ông cho chúng tôi mượn xe đạp của ông chứ?

- Tôi không có xe đạp.

Hôm nhìn viên chủ khách sạn đầy ngụ ý.

- Tôi nói với ông là tôi không có xe đạp mà. Các ông sẽ đi bằng xe ngựa vậy!

- Thôi được! – Hôm nói – Ông cho chúng tôi ăn cái gì đã rồi ta sẽ bàn tính chuyện đó sau.

Khi chúng tôi còn lại một mình trong nhà bếp được lát bằng đá, chân Hôm tự dưng hết đau. Đã chiều rồi, chúng tôi cảm thấy đói mà vẫn không rời khỏi bàn. Đắm chìm trong ý nghĩ của mình, một vài lần Hôm yên lặng đi đến gần chiếc cửa sổ trông ra phía sau ngập ngụa  rác rưởi. Ở một góc sân, chỗ đóng móng ngựa, một cậu thiếu niên lem luốc đang làm việc. Còn góc sân khác là chuồng ngựa. Sau một lần đi tới cửa sổ như thế, Hôm ngồi xuống bàn và đột nhiên nhổm phắt dậy kêu to:

- Rõ rồi, Oátxơn! Tôi đã tìm ra rồi! – Anh bắt đầu nói – Giờ đây tất cả đã rõ ràng, Oátxơn! Anh có nhận ra các vết móng bò cái này không?

- Có.

- Ở đâu?

- Khắp nơi. Trên đầm lầy và cạnh chỗ Khaizegêrơ bị giết.

- Đúng. Còn bây giờ, Oátxơn, hãy nói xem có nhiều bò cái lọt vào mắt chúng ta không kìa?

- Tôi không nhìn thấy bò cái.

- Kỳ lạ thật, Oátxơn ạ! Khắp mọi nơi đều có vết móng bò cái mà chính bò cái lại không trông thấy ở đâu cả. Quả là kỳ lạ phải không?

- Vâng, đúng vậy!

- Bây giờ, Oátxơn! Anh hãy ráng sức nhớ và trình bày xem anh đã trông thấy những  vết này trên lối mòn như thế nào?

- Sao, tôi trình bày?

- Hãy nhớ lại xem! Đôi lúc nó như thế này… - Anh bắt đầu xếp những mẩu vụn bánh mì trên bàn: - :::: - và đôi lúc lại như thế này : - : . : . : - Ở một chỗ khác lại như thế này kia: - : . :. : - Anh có nhớ không?

- Không.

- Còn tôi thì nhớ và sẵn lòng thề nguyền. Tuy vậy, chúng ta sẽ còn quay trở lại đây, và sẽ kiểm tra lại tất cả ngay tại chỗ. Tôi có quẫn trí không nếu tôi không rút ra được những kết luận thoả đáng từ điều đó.

- Những kết luận gì ?

- Những kết luận như thế này: những con bò cái đáng ngạc nhiên ở chỗ người ta có thể điều khiển chúng bằng bất cứ nước đi nào của ngựa – nước kiệu, nước đại và nước một. Hãy nhớ lấy lời của tôi, Oátxơn ạ. Mưu chước quỷ quyệt như thế lẽ nào không phải của tên chủ quán ăn thôn quê này! Ngoài sân không có ai cả trừ cậu bé ở xưởng đóng móng ngựa. Chúng ta sẽ làm một cuộc đột kích xem tình hình ở đó ra sao!

Trong chuồng ngựa có hai con ngựa bẩn thỉu lông bù xù đang đứng. Hôm nâng chân của một con ngựa lên coi và cười lớn:

-Những cái móng thì cũ, còn đinh đóng lại thì mới. Sự nghiệp này ngang hàng với những sự nghiệp có tính cổ điển, nó hoàn toàn xứng đáng với điều đó. Bây giờ ta sẽ quan sát xưởng đóng móng ngựa xem sao.

Cậu thiếu niên bận bịu với công việc của mình nên không mảy may chú ý đến chúng tôi. Tôi thấy Hôm nhanh nhẹn nhìn quanh khu xưởng ngập đầy sắt vụn và dăm bào. Bất thình lình có những bước chân vọng lại từ phía sau. Quay lại, chúng tôi nhìn thấy người chủ nhà. Đôi lông mày ông ta giao vào nhau thành một đường kẻ dài trên đôi mắt loé lên những tia sáng độc ác. Bộ mặt sạm đen của ông thỉnh thoảng nhăn nhúm lại bởi chứng co giật. Ông ta lăm lăm trong tay một chiếc dùi cui bịt sắt hướng về phía chúng tôi với vẻ hăm doạ đến mức chúng tôi buộc phải vui lòng rút khẩu súng lục từ trong túi ra.

- Quân cảnh binh chó má! – Ông ta kêu lên – Bọn bay làm gì ở đây?

- Hãy rộng lòng tha thứ, ông Riubin Khaizơ – Hôm điềm tĩnh nói – Có thể nghĩ là ông sợ chúng tôi tìm ra một cái gì đấy liên quan tới chính công việc đó ở đây chăng?

Bằng sức mạnh tinh thần hiếm có, Riubin Khaizơ trấn tĩnh lại. Ông ta cong môi lên trong một nụ cười giả tạo – với tôi, nụ cười này còn khủng khiếp hơn cả vẻ ngoài hung dữ của ông.

- Hãy tìm đi, xin mời! – Ông ta nói – Tìm thấy cái gì đó là việc của các ông. Nhưng tôi không thích thấy những người lạ tự ý sục sạo khắp sân nhà tôi đâu. Vì vậy, thưa các ngài, hãy trả tiền đi và tránh xa đây càng nhanh càng tốt!

- Chớ giận chúng tôi, ông Riubin Khaizơ – Hôm nói – Quả thực chúng tôi chỉ muốn nhìn những con ngựa của ông thôi! Vậy mà có lẽ chúng tôi sẽ đi bộ đến Khôzenherơ – Khôl, vì từ đây tới đó không thật xa lắm thì phải?

- Từ đây đến cổng chính đúng hai dặm đường, không hơn. Đi theo con đường kia kìa! Nhớ rẽ trái!

Ông ta tiễn chúng tôi ra khỏi sân bằng một cái nhìn u ám.

Chúng tôi đi theo con đường ấy không xa, bởi vì Hôm dừng lại cạnh chỗ rẽ đầu tiên khi biết chắc là bấy giờ không có một ai còn nhìn thấy chúng tôi cả.

- Cuộc đón tiếp thật “nồng nhiệt” như vẫn thấy trong các trò chơi trẻ con ấy. Càng rời xa khách sạn tôi càng cảm thấy lạnh lẽo hơn. Không, đi khỏi đây bây giờ là quá sớm!

- Tôi cho rằng cái lão Riubin Khaizơ ấy biết tất cả. Trong cuộc đời mình tôi chưa phải nhìn thấy một bộ mặt nào hung ác hơn thế!

- Không đúng vậy sao? Một kẻ ác độc thực sự! Còn những con ngựa và xưởng đóng móng ngựa thì thế nào? Thật là một nơi đáng lưu ý, cái “Con gà trống ưa ẩu đả” ấy. Nào, chúng ta hãy xem xem cái gì sẽ xảy ra ở đây, chỉ có điều là phải bí mật và thận trọng.

Quả đồi thoai thoải ở phía sau chúng tôi rắc đầy những tảng đá xảm. Lúc đầu trèo lên phía trên sườn đồi, nhìn về phía Khôzenherơ – Khôl, bất chợt tôi trông thấy một người đi xe đạp đang lao nhanh trên đường.

- Hãy cúi thấp xuống, Oátxơn! - Hôm kêu lên sau khi lấy bàn tay nặng trịch của mình ấn vào vai tôi.

Chúng tôi vừa kịp ẩn mình vào sau tảng đá thì người đó lao vút qua. Một khuôn mặt hoảng sợ, tái mét thấp thoáng trước mặt tôi trong bụi bặm bốc lên từ xe đạp. Mồm há rộng, cái nhìn chết cứng của đôi mắt trợn trừng lên một cách man dại. Đó chính là bức biếm họa kỳ quặc của Đjâyimxơ Uailzerơ đỏm dáng và đĩnh đạc mà chúng tôi mới biết hôm qua.

- Viên thư ký của Công tước! – Hôm thốt lên  - Hãy mau mau lên Oátxơn! Chúng ta xem ông ta cần gì ở đây!

Nhảy lên trên những  tảng đá, chúng tôi men theo sườn dốc đi lên. Từ đó chúng tôi nhìn thấy cửa khách sạn. Chiếc xe đạp của Uailzerơ dựng ở cạnh tường. Không có sự hoạt động đáng chú ý nào ở trong nhà, cũng không một ai  nhìn qua các cửa sổ.

Mặt trời khuất sau các đỉnh tháp cao của Khôzenherơ – Khôl. Hoàng hôn buông xuống cánh đồng.

Chẳng bao lâu, trong bóng đêm dày đặc của khách sạn, một chiếc xe hai bánh với những cây đèn ló thắp sáng ở bên cạnh được đẩy ra từ tàu ngựa. Chỉ một phút sau ngựa đã phi như bay qua chúng tôi hướng về phía Trextêrơ Phinđơ.

- Như thế là thế nào, Oátxơn ? – Hôm thầm thì.

- Tựa như cuộc tẩu thoát vậy!

- Trong xe chỉ có một người đi thôi!

- Tôi nhìn thấy rõ mà. Nhưng người đó không phải là Đjâyimxơ Uailzerơ, bởi vì, hãy nhìn ông ta đang ngồi kia kìa!

Hình viên thư ký in rõ giữa khung cửa sáng bừng. Anh rướn cổ về phía trước, nhìn vào bóng đêm, rõ ràng anh đang ngóng chờ một ai đó. Vài phút trôi qua. Cuối cùng, trên đường có thể nghe thấy những bước chân vọng lại. Trong ánh sáng đổ xuống từ những  cánh cửa ra vào thấp thoảng bóng của một người nào nữa.  Rồi cánh cửa khép lại. Toàn bộ khách sạn lại chìm trong bóng tối. Thế rồi, ở một trong những cửa sổ phía trên, ngọn đèn bàn được thắp sáng.

- Có khách lạ tới thăm “Con gà trống ưa ẩu đả” ! - Hôm nói.

- Vào tửu quán từ một hướng khác?

- Đúng rồi! Cả hai chắc có lẽ không phải là người tới thăm bình thường mà là khách mời của chủ. Ông Đjayimixơ Uailzerơ cần gì trong cái sào huyệt này, lại vào thời gian muộn màng như thế? Ông ta hẹn gặp ai ở đây chăng? Hãy mạnh dạn lên, Oátxơn! Chúng ta sẽ quan sát họ gần hơn một chút nữa!

Chúng tôi tụt xuống đường len lén tới gần những cánh cửa của khách sạn. Xe đạp của Uailzerơ vẫn đứng tựa vào tường như trước. Hôm quẹt diêm và soi vào bánh sau của chiếc xe đạp. Tôi nghe thấy tiếng kêu khe khẽ đầy vẻ ngạc nhiên của Hôm khi ánh lửa soi vào mảng vá trên lốp xe đạp hãng “Đanlốp”. Cửa sổ có đèn sáng đồng thời ở ngay trên đầu chúng tôi.

- Cần ghé nhìn trong đó dù chỉ thấy chút ít thôi, Oátxơn! Giá anh đứng tựa vào tường kênh tôi lên thì tôi sẽ tìm cách làm được việc đó.

Một loáng sau, Hôm đã đứng trên vai tôi và ngay tức khắc lại tụt xuống dưới.

- Đi thôi bạn thân mến! – Anh nói - Ngày hôm nay thế là đủ rồi! Chúng ta đã làm tất cả những  gì có thể làm được. Chúng ta sẽ không làm mất thời giờ thêm nữa, vì đoạn đường từ đây đến trường không phải gần lắm.

Cả hai chúng tôi đều mệt mỏi. Suốt quãng thời gian chúng tôi lê bước chậm chạp theo cánh đồng, hầu như Hôm không hé răng nói lấy nửa lời. Không rẽ vào khu trường, chúng tôi đến thẳng ga để chuyển điện đi. Sau đấy tôi nghe thấy anh đang an ủi tiến sĩ Khaxtâyblơ. Ông ta bị sửng sốt bởi cái chết bi thảm của người thầy giáo. Đã rất muộn rồi mà tôi vẫn còn trông thấy anh trong phòng mình – anh vẫn dồi dào sinh lực và tươi tắn như sáng ngày hôm trước.

- Mọi chuyện đều diễn ra rất tốt đẹp bạn thân mến ạ! Tôi hứa với anh là vào tối mai chúng ta sẽ tìm được lời giải cho câu đố này.

Sáng ngày hôm sau, vào lúc 11giờ sáng, chúng tôi đã ở trên con đường trồng cây nổi tiếng của Khôzenherơ – Khôl. Người hầu phòng ra đón chúng tôi cạnh cửa lớn và dẫn chúng tôi vào phòng làm việc của Công tước. Đjayimixơ Uailzerơ đã đứng ngay trước mặt chúng tôi. Anh ta cử xử rất khiêm tốn và lịch sự, nhưng trên bộ mặt giần giật của anh, trong đôi mắt né tránh của anh, thoáng hiện một nỗi khiếp sợ.

- Các ông muốn thăm Công tước phải không? Than ôi! Ngài đang cảm thấy trong người không được khoẻ lắm. Ngài bị đau đớn bởi tấm thảm kịch mà hôm qua bằng điện tín mà tiến sĩ Khaxtâyblơ đã báo cho chúng tôi biết.

- Ông Uailzerơ, tôi cần gặp Công tước.

- Nhưng ngài không rời khỏi phòng mình được.

- Vậy, tôi sẽ đến chỗ ngài.

- Ngài đang trên giường.

- Dù thế nào tôi cũng nài xin được tiếp kiến ngài! - Giọng điệu lạnh lùng không cho phép phản đối của Hôm đã khiến viên thư ký tin rằng đôi co với con người này chỉ bằng thừa.

- Thôi được! Ông Hôm, tôi sẽ báo có ngài đến.

Trước lúc Công tước có mặt ở phòng làm việc, gần một tiếng đã trôi qua. Đôi mắt ông hõm sâu hơn, hai tay khuỳnh khuỳnh của ông lộ vẻ thiếu cương quyết – cứ như là ông trở nên già hơn so với ngày hôm qua. Với vẻ lịch sự đến tao nhã, ông cúi chào chúng tôi và ngồi xuống ghế bành.

- Tôi nghe đây, ông Hôm!

Thế nhưng bạn tôi lại nhìn chằm chằm vào viên thư ký đang đứng cạnh chủ nhân của mình.

- Sự có mặt của ông Uailzerơ khiến tôi ít nhiều gò bó thưa ngài!

Mặt viên thư ký tái đi. Anh ta ném vào Hôm cái nhìn thật độc địa.

- Nếu ngài muốn…

- Được, được, cứ để chúng tôi ở đây… Được rồi, ông Hôm, ông có điều gì muốn nói với tôi phải không?

Bạn tôi chờ cánh cửa khép lại đằng sau viên thư ký rồi bắt đầu:

- Thưa ngài! Từ lời của tiến sĩ Khaxtâyblơ, tôi và bạn cộng sự của tôi, bác sĩ Oátxơn  được biết ngài có hứa sẽ trả tiền thù lao cho công vịêc điều tra mà ngài đang quan tâm. Tôi muốn trực tiếp nghe ngài nói về điều đó.

- Được ạ!

- Nếu người ta nói với tôi là đúng thì ngài ấn định trả năm ngàn bảng Anh cho ai chỉ ra cho ngài biết nơi con trai ngài đang ở.

- Hoàn toàn đúng.

- Và một nghìn bảng Anh cho ai chỉ ra kẻ đang giam giữ cậu nhà.

- Hoàn toàn đúng.

- Cố nhiên ở đây ngụ ý rằng không chỉ là kẻ bắt cóc mà còn là kẻ có âm mưu bắt cóc.

- Đúng, đúng! – Không kìm được lòng mình Công tước thốt lên – Ông Hôm, nếu ông làm sáng tỏ bí mật này, ông sẽ không phải than phiền về tính keo kiệt của tôi đâu!

Người bạn của tôi cọ cọ hai tay vào nhau một cách thèm thuồng. Điều này khiến tôi ngạc nhiên vì trước đó tôi hiểu anh như một người có những nhu cầu bình thường nhất trên đời.

- Tập séc của ngài đang ở trên bàn thì phải? Xin ngài ghi cho tôi tấm séc sáu ngàn bảng Anh. Ngân phiếu xin chuyển tới nhà băng ở phố Ocxphôrđơ, nơi có tài khoản vãng lai của tôi.

Công tước ưỡn thẳng người trong ghế bành dò xét bạn tôi bằng cái nhìn lạnh như tiền.

- Ông đùa đấy à, ông Hôm? Đây không phải là đề tài thích hợp cho sự bông đùa.

- Ngài nói sao, thưa ngài! Tôi không bao giờ lại không nghiêm túc.

- Vậy điều đó có nghĩa là làm sao?

- Điều đó có nghĩa là tôi sẽ nhận phần thưởng cho công lao của mình. Tôi biết nơi trú chân của con trai ngài, tôi cũng biết những người, đúng hơn là một người đang lưu giữ cậu nhà ở chỗ mình.

Bộ râu màu hung của Công tước tựa như ánh sáng loá lên bởi ánh lửa xuất hiện trên vẻ nhợt nhạt thiếu sinh lực của bộ mặt ông. Ông ta khó nhọc nói:

- Con tôi ở đâu?

- Trong khách sạn “Gà trống ưa ẩu đả”, cách cổng lớn của công viên ngài hai dặm. Ít ra cậu nhà đã ở đó vào ngày hôm qua.

Công tước ngã người vào ghế bành:

- Vậy ông kết tội ai?

Câu trả lời sau đó của Hôm khiến cho tôi vô cùng sửng sốt. Anh bước nhanh về phía trước, đụng tay mình vào viên công tước:

- Tôi kết tội ngài! Còn bây giơ, thưa ngài, xin ngài làm ơn đưa cho tôi tấm ngân séc sáu ngàn bảng Anh.

Không bao giờ tôi có thể quên được giây phút ấy. Từ ghế bành, Công tước nhổm phắt dậy, thế rồi đột nhiên hai tay ông chới với tựa như ông đang gắng đứng vững bên bờ vực thẳm? Sau đó, bằng sức mạnh ý chí siêu phàm và bằng sự trợ giúp của tính kiềm chế quý tộc, ông ta lại ngồi xuống ghế tay ôm lấy mặt. Một phút…, rồi một phút nữa trôi qua…

- Hãy nói thẳng ra, ông biết gì nào? – Không hề cất đầu lên, con người bất hạnh ấy hỏi.

- Tôi trông thấy ngài cùng với cậu nhà vào tối qua.

- Ngoài bạn ông ra, còn có ai biết về chuyện đó nữa không?

- Tôi chưa nói cho ai biết cả.

Năm ngón tay run rẩy của viên công tước mở tập séc ra rồi cầm lấy bút.

- Tôi không bội ước đâu, ông Hôm ạ. Ông sẽ nhận tấm séc như đã hứa. Mặc dầu số tiền này chỉ để trả cho những tin tức mà ngoài nổi cay đắng ra chúng không mang lại cho tôi điều gì khác nữa. Nhưng khi đưa ra lời ban thưởng tôi đâu có thể ngờ là các sự kiện lại xoay chuyển như thế! Tuy vậy, tôi hy vọng ông và bạn ông chắc là những người biết điều.

- Tôi chưa hiểu ngài muốn nói gì, thưa ngài?

- Được, tôi sẽ nói thẳng ra vậy. Ông Hôm ạ, nếu những tình tiết của vụ việc này không một ai biết ngoài hai ông ra thì số tiền không chỉ có thế. Tôi phải cho ông mười hai ngàn bảng Anh. Không đúng vậy sao !

 Nhưng Hôm mỉm cười và lắc đầu:

- Ôi! Thưa ngài! Không thể dễ dàng thu xếp tất cả chuyện đó như mới thoạt nhìn đâu. Một ai đó phải trả lời về cái chết của người thầy giáo chứ!

- Thế nhưng Đjâyimixơ không can dự vào đấy! Không thể trút tất cả tội lỗi lên đầu ông ta được. Giết người, đấy là công việc của bàn tay kẻ bần tiện, của bàn tay tên tàn bạo mà ông ta chỉ là người bất hạnh vì đã lợi dụng sự giúp đỡ của nó mà thôi!

- Còn tôi thì lại giữ cái nhìn như thế này, thưa ngài: khi con người đứng trước con đường dẫn đến tội ác thì anh ta cần phải gánh lấy trách nhiệm đạo đức do tất cả những hậu quả của hành động mình gây ra.

- Trách nhiệm đạo đức! Đúng! Nhưng đừng bắt anh ta phải trả lời trước pháp luật. Không thể khép một người vào tội sát nhân nếu anh ta thậm chí không có mặt và lúc giết người ; cũng không thể khép người ấy vào tội sát nhân khi việc giết người đã khiến anh ta công phẫn chẳng kém gì ông. Sau khi biết chuyện đó, Đjâyimixơ không chịu nổi sự day dứt của lương tâm và thú nhận ngay với tôi tất cả. Sau đấy, ngay lập tức ông ta tuyệt giao với kẻ sát nhân. Ông Hôm! Hãy cứu ông ta! Hãy cứu đi! Tôi van ông đấy, hãy cứu ông ta đi!

Tính kiềm chế quý tộc của viên Công tước biến đi đâu mất. Với bộ mặt méo xệch, viên đại thần chạy lăng quăng khắp phòng, đôi tay ông vung vẫy một cách mạnh mẽ. Cuối cùng, ông tự trấn tĩnh lại, ngồi xuống và nói:

- Tôi đánh giá cao việc ông đã đến đây. Nào, ít ra ta cũng bàn bạc xem cần áp dụng những  biện pháp nào để giúp tôi khỏi bị lăng nhục!

- Nào! – Hôm nói – Nhưng chỉ khi chúng ta đã cởi mở với nhau đến tận cùng. Tôi sẽ làm tất cả những gì mà sức tôi cho phép nếu tôi biết đích xác các chi tiết của công việc này. Tôi rất hiểu là những lời nói của ngài có quan hệ tới ông Đjayimixơ Uailzerơ. Như vậy, ngài khẳng định rằng ông ta không phải là kẻ giết người?

- Đúng. Kẻ giết người đã lẩn trốn!

Hôm lạnh lùng mỉm cười:

- Thưa ngài! Hình như ngài chưa được biết những công tích của tôi trong lĩnh vực này thì phải. Nếu không phải thế thì ngài đã không nghĩ là có thể dễ dàng giấu diếm tôi như vậy được! Hôm qua, vào lúc 11 giờ đêm, ông Riuben Khaizơ đã bị bắt tại Trextêrơphinđơ theo chỉ thị của tôi. Viên chỉ huy cảnh binh ở đấy đã tin cho tôi về điều này vào sáng nay. Tôi nhận được điện của ông ta trước lúc tôi rời khỏi khu trường để đến đây.

Công tước ngả người ra sau ghế bành ngạc nhiên nhìn bạn tôi.

- Khả năng của ông liệu có giới hạn không, ông Hôm ! - Ông ta thốt lên – Thế nghĩa là Khaizơ đã bị bắt? Thôi được! Có thể đó là điều mừng. Nhưng hiện việc hắn ta bị bắt có ảnh hưởng gì tới số phận của Đjayimixơ Uailzerơ không?

- Tới viên thư ký của ngài?

- Không, thưa ông, tới con tôi.

 Lần này Hôm thật sự ngạc nhiên:

- Thưa ngài! Xin nói với ngài rằng tôi không phỏng đoán được một cái gì tương tự như thế. Có thể ngài hãy giải thích tất cả chuyện đó chi li hơn được không Công tước.

- Tôi sẽ không giấu diếm điều gì. Ông nói đúng: chỉ có lòng thành thực hoàn toàn  (mặc dầu nó hành hạ tôi) mới có thể làm giảm nhẹ tình trạng căng thẳng mà Đjayimixơ Uailzerơ điên dại vì ghen ghét đã đặt cả hai chúng tôi vào đó. Lúc con trẻ, ông Hôm ạ, tôi đã yêu như người ta yêu chỉ một lần trong đời. Tôi ngỏ lời cầu hôn với người đàn bà tôi yêu dấu, nhưng nàng cự tuyệt lời cầu hôn của tôi vì lo ngại rằng cuộc hôn nhân như thế sẽ huỷ hoại con đường công danh của tôi. Nếu nàng còn sống thì tôi đã không lấy một người nào khác. Nhưng nàng đã mất và để lại cho tôi một đứa con trai. Tôi nuôi nấng cháu và lo ngại về những ký ức của mẹ cháu còn lưu giữ trong cháu. Tôi không thể công khai thừa nhận mình là cha của cháu, tuy nhiên đứa con của tôi đã được giáo dục tốt nhất. Khi đã lớn khôn, cháu vẫn thường xuyên sống cùng tôi. Tình cờ cháu biết được bí mật của tôi và từ đấy cháu gắng lạm dụng quyền làm con của mình bằng mọi cách. Điều này  đẩy tôi vào tình trạng lo ngại bị tố giác. Sự hiện diện của cháu ở Khôzenherơ – Khôl ở chừng mực nào đó đã là nguyên nhân của sự tuyệt giao giữa tôi và vợ tôi. Và điều sau đây mới thật nặng nề. Ngay từ ngày đầu tiên cháu đã căm ghét đứa con nhỏ của tôi, kẻ thừa kế hợp pháp của tôi một cách dữ dội nhất.

Chắc ông sẽ hỏi tại sao do những chuyện ấy mà tôi vẫn tiếp tục giữ Đjayimixơ Uailzerơ ở nhà mình? Câu trả lời của tôi sẽ thế này: vì tôi nhận thấy bóng dáng của mẹ cháu, người đã bắt tôi phải chịu nhiều đau khổ. Không chỉ ở nét mặt, mà còn ở cử chỉ, ở dáng hình cháu luôn gợi trong tôi nỗi nhớ về tính dịu dàng của nàng. Từ biệt cháu ư? Tôi không đủ sức làm việc đó. Nhưng cuối cùng, tôi bắt đầu lo sợ cháu sẽ gây ra một chuyện gì đấy với Arturơ – Huân tước Xôntuyrơ. Và thế là tôi chuyển đứa bé đến ký túc xá chỗ tiến sĩ Khaxtâyblơ.

Đjayimixơ Uailzerơ điều hành mọi công việc của tôi, do vậy cháu biết Khaizơ, người đã từng là tá điền của tôi. Tôi không hiểu cháu có thể có điều gì chung với cái tên vô lại ai cũng biết tiếng này hay không, nhưng chúng đã kết bạn với nhau. Vì thế, tôi luôn để mắt tới mối quan hệ của cháu với người bạn xấu xa ấy. Sau khi quyết định bắt cóc Huân tước Xôntayrơ, cháu biến tên này thành kẻ đồng loã với mình.

Ông còn nhớ là tôi đã viết cho Arturơ bức thư trước ngày Huân tước chạy trốn chứ? Đjayimixơ đã mở phong bì ra, bỏ vào đó mẩu thư yêu cầu Arturơ gặp mình ở cánh rừng “mũi dao lệch”, cách không xa khu trường. Chú bé đã đi đến gặp vì mẩu thư có vẻ như được viết theo yêu cầu của nữ Công tước. Đjayimixơ đến khu rừng thưa bằng xe đạp. Sau đấy, chính cháu đã thú nhận với tôi là đã làm Arturơ tin rằng bà mẹ đang buồn phiền vì Huân tước, rằng bà ở cách đấy không bao xa, rằng nếu Huân tước đi tới khu rừng này vào  lúc nửa đêm thì người dẫn đường và ngựa sẽ chờ ở đó. Cậu bé bất hạnh bi sa vào bẫy. Đúng giờ hẹn, cậu đi đến khu rừng thưa và nhận ra Khaizơ ở đấy. Khaizơ cũng cưỡi lên ngựa và điều khiển con Pôni (4). Arturơ ngồi lên yên và họ bắt đầu lên đường. Sau mới vỡ lẽ ra rằng - Đjayimixơ Uailzerơ chỉ đến hôm qua mới biết người ta đang đuổi theo họ. Khaizơ dùng dùi cui đánh vào đầu người đuổi theo vài lần. Anh đã chết vì thương tích. Khaizơ đã đưa Arturơ tới khách sạn của mình, nhốt cậu bé ở lầu trên, bắt bà Khaizơ – một người đàn bà phúc hậu nhưng hoàn toàn lệ thuộc vào người chồng hung dữ của mình – coi giữ đứa bé.

Ông Hôm, vậy sự việc đã diễn ra như thế nào vào hai ngày trước hôm chúng tôi gặp ông… ? Tôi biết về tất cả việc này không hơn ông đâu. Nếu ông hỏi tôi là cái gì đẩy Đjayimixơ Uailzerơ tới một hành động như vậy thì tôi sẽ trả lời: đó là lòng cuồng tin, óc mù quáng trong nỗi căm phẫn của cháu đối với hầu tước Xôntayrơ. Đjayimixơ Uailzerơ cho rằng tất cả thái ấp của tôi cần được chuyển giao cho cháu, rằng cháu không thể bình tâm để bàn về quyền thừa kế tài sản đang tồn tại ở chỗ chúng tôi. Do vậy, không chỉ lòng căm ghét điên cuồng mà còn sự tính toán ích kỷ đã thôi  thúc cháu làm việc đó. Cháu yêu cầu tôi để cho cháu quyền thừa kế thái ấp của tôi theo di chúc mà không biết đến nguyên tắc Mayôrát  (4). Chỉ có như vậy cháu mới trả lại Arturơ cho tôi. Cháu biêt rất rõ là không đời nào tôi lại giao cháu cho cảnh binh. Những dự định của Đjayimixơ là như vậy. Nhưng những dự định ấy hoàn toàn là chỉ là những dự định mà thôi. Bởi vì các sự kiện đã đảo lộn nhanh tới mức khiến cháu không thành công trong công việc thực hiện kế hoạch của mình.

Ông đã phát hiện ra thi thể cuả Khaizegêrơ, và ông lập tức đặt vấn đề kết thúc ý đồ độc ác này. Đjayimixơ hoảng sợ khi nghe biết về cái chết của người thầy giáo. Chúng tôi biết chuyện đó vào ngày hôm qua lúc đang ngồi ở đây, tại phòng làm việc này, qua bức điện báo của tiến sĩ Khaxtâyblơ. Bức điện đã đẩy Đjayimixơ vào tình trạng lo sợ vì sự phỏng đóan mơ hồ hành hạ tôi trong suốt thời gian đó đã thành hiện thực. Tôi kết tội cháu thẳng thừng. Cháu thành thật nhận tất cả lỗi lầm, thế nhưng ngay tức khắc cháu van nài tôi trì hoãn hai ngày để tên tòng phạm bỉ ổi của cháu được cứu thoát. Tôi đã nhân nhượng như đã từng nhân nhượng cháu trong mọi trường hợp. Khi đó Đjayimixơ lao đến khách sạn, báo cho Khaizơ biết trước và giúp hắn chạy trốn. Tôi không thể đi đến lúc còn sáng sủa vì như vậy sẽ gây ra nhiều lời đồn đại. Tôi chờ tối hẳn mới vội vàng đến chỗ Arturơ yêu quý của tôi. Chú bé vẫn bình an vô sự. Có điều, ông không thể hình dung nổi vụ giết người đã gieo một ấn tượng khủng khiếp như thế nào xuống đứa bé - ấn tượng hiện rõ trong đôi mắt của nó. Nhớ tới lời hứa, bất đắc dĩ tôi để Arturơ lại khách sạn chừng ba ngày nhờ sự trông nom của bà Khaizơ. Bởi vì không thể báo tất cả những điều này cho cảnh binh mà lại không tố giác kẻ giết người, và việc bắt Khaizơ sẽ làm Đjayimixơ bất hạnh của tôi khốn khổ.

Ông Hôm, ông năn nỉ đòi hỏi lòng chân thực qua lại với nhau, và xin được phép nắm lấy câu nói hớ này của ông. Tôi đã kể cho ông nghe mọi chuyện không giấu diếm điều gì. Xin ông cũng hết lòng thành thật với tôi.

- Được, thưa ngài! - Hôm trả lời - Điều đầu tiên tôi muốn nói với ngài là trước pháp luật tình trạng của ngài cực kỳ nghiêm trọng. Ngài đã che dấu tội hình ngài đã giúp kể giết người chạy trốn, vì chắc là Đjayimixơ Uailzerơ đã lấy tiền từ túi ngài giúp cho việc tẩu thoát.

Viên công tước nghiêng đầu im lặng.

- Đúng. Tình trạng rất nghiêm trọng. Thế nhưng dưới con mắt của tôi thì thái độ cư xử của ngài với đứa con nhỏ của mình còn đáng lên án hơn, thưa ngài! Để cậu bé trong cái ổ gian phi ấy những ba ngày!

- Chúng đã cam đoan với tôi là…

- Lẽ nào có thể trông cậy vào lời thề thốt của những hạng người ấy! Ngài không biết rằng chúng có thể giấu biệt cậu bé đến một nơi xa hơn hay sao? Chiều theo đứa con trai tội lỗi của mình, ngài đã buộc đứa trẻ vô tội kia phải chịu cảnh nguy hiểm không cần thiết! Không, không thể biện hộ cho hành động của ngài được!

Viên đại quan kiêu hãnh vốn không quen nghe những lời chống đối như thế mà lại ở ngay trong dinh thự của mình. Mặt ông ta đỏ lên, song lương tâm buộc ông phải câm lặng.

- Tôi sẽ giúp ngài nhưng với điều kiện: Hãy gọi người hầu lại đây và yêu cầu anh ta thực hiên mệnh lệnh của tôi.

Không nói lấy một lời, công tước đưa tay ra ấn nút chuông điện, một người đầy tớ bước vào phòng.

- Có lẽ anh sẽ vui lòng khi biết huân tước Xôntayrơ đã được tìm thấy - Hôm nói với người hầu - Công tước ra lệnh hãy mau chóng phái một cỗ xe ngựa đến tìm huân tước ở khách sạn “Gà trống ưa ẩu đả”… Còn bây giờ, - Hôm nói khi người hầu đã chạy ra khỏi phòng làm việc mặt rạng rỡ lên vì vui sướng - sau khi đã đảm bảo cho một tương lai gần nhất, chúng ta có thể đối xử một cách khoan dung hơn với dĩ vãng chưa thật xa lắm. Chừng nào đã được phục hồi thì tôi, với tư cách một thành viên không chính thức, sẽ không thấy cần thiết báo cho chính quyền về tất cả những gì tôi biết. Khaizơ – đấy là chuyện khác. Giá treo cổ đang chớ hắn. Tôi sẽ không nhúng tay để cứu mạng sống của hắn. Còn việc hắn có tiết lộ bí mật của ngài hay không – tôi không biết, vì tôi không bắt mình phải đoán trước. Tuy nhiên, ngài có thể gợi ý để hắn chỉ nói những điều vô nghĩa ngoài trách nhiệm của hắn. Ở Sở Cảnh binh người ta sẽ kết án do đã bắt cóc chú bé để nhận tiền chuộc. Nếu ở đó, người ta không dò xét gì sâu hơn, thì tôi chưa thấy những căn cứ đưa họ đến đây. Có điều, tôi muốn nói với ngài rằng việc ông Đjâyimxơ vẫn còn lưu lại ở nhà ngài sẽ chẳng có gì là tốt lành cả!

- Chính tôi cũng đã biết điều đó, ông Hôm ạ! Tôi đã đi đến một quyết định: cháu sẽ vĩnh viễn rời khỏi Khêlzenhexơ – Khôl và sẽ lên đường tìm hạnh phúc ở Úc châu!

- Thưa ngài! Ngài đã nói rằng Đjayimixơ Uailzerơ là trái táo bất hoà giữa ngài và phu nhân của ngài. Vậy giờ đây, ngài không gắng hoà giải với Công tước phu nhân và thu xếp ổn thoả cuộc sống gia đình của mình hay sao?

- Tôi cũng đã nghĩ đến điều đó ông Hôm ạ! Ngay sáng nay tôi đã viết thư cho Công tước phu nhân rồi!

- Nếu vậy – Hôm vừa nói vừa đứng dậy – Tôi và bạn tôi có thể tự chúc mừng vì việc lưu lại không lâu của chúng tôi ở chỗ ngài đã đem lại những kết quả không đến nỗi tồi. Chỉ còn một vấn đề tôi chưa được rõ lắm. Những con ngựa của Khaizơ được đóng móng thế nào để người ta có thể nhầm vết móng của nó với vết móng của bò cái? Ai đã mách hắn làm chuyện đó?  Không phải ông Uailzerơ chứ?

Đôi lông mày của Công tước nhíu lại căng thẳng. Ông yên lặng đến một phút. Thế rồi, ông mở cửa phòng bên cạnh hiện đang được dùng làm bảo tàng của gia đình mình. Ông dẫn chúng tôi đến gần chiếc tủ trưng bày ở góc xa của căn phòng, chỉ cho chúng tôi xem những hàng chữ dưới tấm kính: “Những chiếc móng sắt ngựa này đã được tìm thấy trong các cuộc khai quật tại một khu vực thuộc chế độ nông nô ở Khôlzenhexơ – Khôl. Chúng được dùng cho ngựa nhưng người ta đã rèn chúng dưới hình thức móng bò cái được tách đôi. Rõ ràng, vào thời đại trung cổ các quan đại phu phong kiến khi đi cướp bóc đã sử dụng biện pháp này nhằm đánh lạc hướng những người đuổi bắt”.

Hôm nâng nắp kính lên rồi lấy tay xoa vào một trong những cái móng sắt ngựa. Bàn tay anh dính vết bẩn đen thẫm bùn sình lầy vẫn chưa được khô hẳn.

- Cám ơn ngài! – Bạn tôi nói – Đây là điều thứ hai ở chỗ ngài khiến tôi đặc biệt quan tâm.

- Thế còn điều thứ nhất?

Hôm gập tấm séc làm đôi, thận trọng đặt nó vào giữa cuốn sổ của mình.

- Tôi là người không thật giàu có lắm! – Anh nói và nhét cuốn sổ tay sâu hơn vào túi trong của áo vetston.

 

………………………………………………………………………………….

(1) Huân tước Ađmiraltâyxtva: Bộ trưởng hàng hải.

        (2) Hôraxơ: Nhà thờ cổ La Mã.

(3) Pô ni: Một loài ngựa.

        ( 4) Mayôrát: Nguyên tắc thừa tự đảm bảo tất cả của cải hoàn toàn thuộc về người con trai cả trong dòng họ.

Comments