Con chó của dòng họ Baxkêrvili


                                               
                                        CHƯƠNG I

                                                                     NGÀI  SƠLỐC HÔM

        

             Sơlốc Hôm ngồi vào bàn và ăn sáng. Thường thì anh đứng lên hoàn toàn muộn, nếu không tính đến không ít trường hợp anh tuyệt nhiên buộc mình phải nằm xuống. Tôi đứng trên tấm thảm nhỏ cạnh lò sưởi tay vân vê chiếc gậy mà người khách đến thăm chúng tôi ngày hôm qua bỏ quên. Chiếc gậy to và tốt có chỗ phồng lên ở nắm tay cầm được coi là “bằng chứng đáng tin cậy”. Mảnh bạc bề rộng chừng một tấc Anh được đóng vào ngay dưới chỗ phồng lên của chiếc gậy. Và hàng chữ sau được kẻ trên mảnh bạc: “Đgiêmxơ Môrtimêrơ, Tr. K.Kh.O, từ những người bạn của ông theo Tr. K.l” và năm: “1884”. Vào những thời trước đây các bác sĩ gia đình đáng kính thường đi lại bằng những chiếc gậy chống chắc chắn, nặng trịch vững chãi như thế.

- Này, Oátxơn, về cái ấy ý kiến của anh ra sao?

Hôm ngồi quay lưng về phía tôi, và tôi cứ nghĩ rằng các cử chỉ của tôi không lọt vào sự chú ý của anh.

- Do đâu anh biết tôi đang quan tâm tới cái gì vậy? Cứ như là mắt của anh ở phía sau gáy ấy!

- Không do cái gì cả, tuy nhiên trước mắt tôi là một chiếc ấm pha cà phê bằng bạc bóng loáng – Anh trả lời – Không, quả vậy, Oátxơn ạ, anh sẽ nói gì về chiếc gậy của vị khách chúng ta. Tôi và anh đã bỏ lỡ cơ hội để biết ông ta đến đây để làm gì. Chúng ta đã không gặp may nên buộc lòng phải đặc biệt chú ý tới kỷ vật vô tình này. Hãy tìm hiểu chiếc gậy và qua đó hãy thử nhớ lại người chủ của nó, còn tôi thì sẽ lắng nghe anh.

- Theo tôi – Tôi lên tiếng khi gắng hết sức tuân theo phương án của người bạn tôi – Bác sĩ Môrtimêrơ là một thầy thuốc thành đạt trạc tuổi trung niên. Ông ta được tất cả bạn bè kính trọng vì họ hy vọng vào ông bởi những dấu hiệu đáng chú ý như thế.

- Được đấy! – Hôm nói – Thật là tuyệt vời!

- Ngoài điều này ra, tôi có khuynh hướng cho rằng ông ta là bác sĩ nông thôn, thành thử ông phải đi bộ trên một chặng đường xa.

- Tại sao vậy?

- Bởi vì, chiếc gậy của ông ta trước đây rất tốt, giờ đã bị mòn vẹt đi đến mức tôi không thể hình dung nổi nó lại ở trong tay một bác sĩ thành phố. Chiếc đầu bịt sắt dầy đã mòn vẹt hẳn đi – rõ ràng bác sĩ Môrtimêrơ đã ra đi cách đây nhiều dặm đường.

- Lập luận thật là sáng suốt! – Hôm nói.

- Còn hàng chữ “Từ những người bạn theo Tr.K.l”. Tôi cho rằng những chữ cái “K. l” có nghĩa là hội đúng hơn là Hội những người đi săn. Ông đã giúp đỡ các thành viên của nó với tư cách là thầy thuốc và họ đã tặng ông món quà nhỏ mọn này.

- Oátxơn, anh đã đạt được kết quả không thể ngờ tới đấy! – Hôm nói, ngả người ra ghế và bắt đầu húi thuốc – Tôi không thể không chú tới điều này: trong khi mô tả những cống hiến khiêm nhường của tôi, do tính lịch thiệp nằm trong bản chất của mình, anh thường hạn chế những khả năng vốn có trong mình. Nếu ánh hào quang rực rỡ không xuất phát từ ngay chỗ anh thì trong mọi trường hợp anh đều là chất truyền dẫn ánh sáng. Có nhiều người tài năng không trội hẳn lên nhưng lại có khả năng tuyệt vời kích thích tài năng ở người khác! Tôi chịu ơn anh nhiều lắm, bạn thân mến của tôi ạ!

Lần đầu tiên tôi nghe lời thừa nhận như thế từ miệng Hôm. Cũng cần phải nói rằng những lời nói của anh đã khiến tôi rất hài lòng, bởi vì thói dửng dưng của con người này đối với sự thán phục của tôi với anh, đối với những mưu toan của tôi nhằm công bố phương pháp làm việc của anh đã chạm lòng tự ái của tôi không phải một lần. Ngoài ra, tôi tự hào vì tôi đã thành công không chỉ trong việc nắm bắt phương pháp của Hôm mà còn vận dụng nó trong công việc, và do vậy xứng đáng với lời khen ngợi của bạn tôi.

Hôm cầm lấy chiếc gậy từ tay tôi, chăm chú xem xét bằng mắt thường đến vài phút. Rồi sau đó rõ ràng là có một cái gì đấy khiến anh quan tâm nên Hôm đặt điếu thuốc về một phía, đi đến cạnh cửa sổ và bắt đầu quan sát chiếc gậy qua kính phóng đại.

- Chẳng có gì đặc biệt cả nhưng quả là thú vị – Anh nói khi trở lại chỗ quen thuộc của mình ở cạnh đi văng – Không còn nghi ngờ gì nữa, ở đây có những chứng cứ nào đó làm cơ sở cho một vài suy luận của chúng ta.

- Phải chăng đã có một cái gì đó lọt ra ngoài sự chú ý của tôi? – Tôi hỏi, không khỏi có cảm giác tự mãn – Hy vọng là tôi đã không bỏ qua một cái gì đó thật sự quan trọng chứ?

- Than ôi! Oátxơn yêu quý của tôi ơi, phần lớn các kết luận của anh đều sai lầm. Khi tôi cho rằng đối với tôi anh là một chất kích thích tốt thì thành thật mà nói điều đó cần được hiểu thế này: những sơ sót của anh sẽ luôn luôn dẫn tôi đi đến con đường đúng đắn. Thế nhưng, bây giờ anh đã lầm lẫn không như thế. Hiển nhiên con người này hành nghề không phải ở thành phố. Ông ta buộc lòng phải đi bộ trên một con đường khá xa.

- Thế nghĩa là tôi nói đúng?

- Chỉ trong quan hệ này thôi! Vâng, đúng vậy.

- Nhưng đó chưa phải là tất cả ư?

- Không, không, Oátxơn yêu quý của tôi ạ, chưa phải là tất cả, hoàn toàn chưa phải là tất cả. Chẳng hạn thế này nhé: cứ giả định rằng bác sĩ nhận tặng vật tương tự từ một bệnh viện nào đó chứ không từ các hội  thợ săn và khi trước cửa bệnh viện có chữ cái “Tr. K” thì cái tên này tự nhiên là Treringe – Krôxơ.

- Rất có thể anh đúng.

- Tất cả đều gợi nên sự giải thích như thế. Còn nếu chúng ta thừa nhận phán đoán của tôi là có cơ sở, chúng ta sẽ có thêm nhiều tư liệu bổ sung cho việc tái lập đặc điểm của người khách mới biết đến này của chúng ta.

- Được. Chúng ta cứ giả định chữ cái “Tr. K.l” nghĩa là: “Treringơ – Krôxơ – Lêtrebnhisa”. Vậy từ đó có thể dẫn đến những kết luận tiếp theo như thế nào?

- Không có ý nghĩa gì nảy ra trong đầu anh hay sao? Anh đã quen với phương pháp của tôi. Hãy thử vận dụng nó đi nào!

- Kết luận hiển nhiên là: trước khi rời đến nông thôn con người này đã hành nghề ở Luân Đôn.

- Nếu chúng ta tiếp tục đi xa hơn một chút thì sẽ ra sao? Hãy xem xét điều này từ một góc nhìn nào đó: tại sao người ta tặng ông ta món quà? Bạn bè của ông cảm thấy cần thiết mang tới biếu ông chiếc gậy này để biểu lộ mối thiện cảm của mình khi nào? Rõ ràng là vào lúc bác sĩ Môrtimêrơ rời khỏi bệnh viện sau khi quyết định hành nghề riêng lẻ. Người ta đã biếu ông món quà, điều đó chúng ta đã biết. Giả định rằng: ông ta thay công việc ở bệnh viện bằng việc hành nghề ở nông thôn. Chúng ta sẽ kết luận không một chút đắn đo rằng món quà được tặng trong quan hệ với việc ra đi của ông. Liệu có đúng không?

- Điều đó có thể như vậy.

- Bây giờ anh hãy lưu ý là ông ta không phải là một trong những bác sĩ chỉ đạo chuyên môn của bệnh viện được, vì chỉ những bác sĩ với việc hành nghề vững vàng ở Luân Đôn mới được chấp thuận ở cương vị đó. Những bác sĩ này chưa hẳn đã rời khỏi Thủ đô. Vậy lúc đó ông ta làm gì? Nếu làm ở bệnh viện mà không được làm bác sỹ chỉ đạo chuyên môn có nghĩa ông ta chỉ là người khám bệnh ở phòng khám và sống ở trong bệnh viện – vai trò chỉ lớn hơn một chút so với một thực tập sinh. Ông rời khỏi chỗ đó năm năm trước đây – hãy nhìn vào năm tháng ghi trên chiếc gậy. Như vậy, Oátxơn yêu quý của tôi ạ, người bác sĩ gia đình luống tuổi giàu kinh nghiệm của chúng ta đã biến mất, thay thế ông, trước mắt chúng ta là một con người rất dễ mến trạc ba mươi tuổi, chưa lành nghề, đãng trí và yêu con chó của mình đến âu yếm. Con chó này tôi đoán áng chừng là lớn hơn con chó teriê và nhỏ hơn con maxtíp (1).

Tôi phá lên cười hoài nghi, còn Sơlốc Hôm thì ngả lưng vào đi văng thả lên trần nhà những vòng khói nhỏ biến đổi nhẹ nhàng trong không khí.

- Cái liên quan tới điểm sau cùng thì cần phải kiểm tra lại – Tôi nói – Tuy nhiên, bây giờ chúng ta sẽ tìm ra sự hiểu biết nào đấy về tuổi tác con người ấy và về con chó của ông ta.

Tôi rút từ giá sách của mình ra một cuốn sách hướng dẫn y học và lật tìm cái tên cần thiết. Có vài tên Môrtimêrơ ở đó, nhưng tôi lập tức tìm thấy vị khách của chúng tôi và đọc thành tiếng tất cả những gì có quan hệ đến ông.

“Môrtimêrơ  Đjiêmxơ từ năm 1882 là thành viêncủa Hội phẫu thuật nhà nước. Grimpenơ Đartmurơ, địa phận Đêvônsirơ. Từ năm 1882 đến năm 1884 – Bác sĩ khám bệnh của nhà thương Treringơ – Krôxơ. Được giải thưởng Đjiêkxôn theo phân khoa bệnh lý học so sánh vì “Không cần còi bệnh bằng nguyên tắc atavizmơ”; thành viên của Hội bệnh lý học Thụy Điển. Tác giả các bài báo “Những hiện tượng atavizmơ đặc biệt” (Dao Chích – 1882); “Chúng ta có tiến bộ hay không?” (“Người truyền tin tâm lý học”, tháng 3 – 1883). Bác sỹ nông thôn thường đến Grimbenơ, To6rxti và Khai – berơn”.

- Không một lời nào nói về Hội thợ săn cả, Oátxơn ạ – Với nụ cười tinh quái, Hôm nói – Nhưng đúng là một bác sĩ nông thôn như anh nhấn mạnh một cách tinh tế. Sự suy diễn của tôi là đúng. Cái gì liên quan tới những tính từ nếu không lầm thì tôi đã sử dụng là: dễ mến, chưa lành nghề và đãng trí. Tôi biết được điều đó qua kinh nghiệm – chỉ những người dễ mến mới nhận những món quả lúc chia tay, chỉ những người chưa lành nghề mới đổi phạm vi hành nghề từ Luân Đôn về nông thôn, và chỉ những người đãng trí mới có thể để lại chiếc gậy cùng tấm danh thiếp sau khi chờ đợi hơn một tiếng đồng hồ trong phòng khách của anh.

- Còn con chó?

- Con chó đi theo chủ. Chiếc gậy được làm bằng gỗ cứng, con chó cầm vào đoạn giữa, rồi ngậm chặt bằng răng, dấu vết của hàm răng in hẳn rất rõ. Phỏng đoán theo khoảng cách giữa các dấu vết, răng hàm rộng là chó teriê, còn hẹp là chó maxtíp. Có thể là … Trời ơi! Này, tất nhiên là giống chó tóc xoăn.

Khi nói đến đó, Hôm bắt đầu đi đi lại lại trong phòng, rồi dừng lại cạnh cửa sổ. Trong những lời nói sau cùng của anh vang lên niềm tin quả quyết tới mức khiến tôi nhìn anh ngơ ngác.

- Hãy nghe đây, bạn của tôi, tại sao anh không tin vào điều đó? Nguyên do đơn giản là tôi đã trông thấy con chó ở cạnh cửa ra vào của chúng ta, và đấy, tiếng chuông của chủ nó đấy. Đừng đi khỏi đây, Oátxơn, tôi yêu cầu anh đấy. Anh là bạn đồng nghiệp với ông ta, sự có mặt của anh sẽ giúp tôi nhiều. Đấy, con chó đấy, một phút bất hạnh, Oátxơn! Anh nghe thấy những bước chân trên cầu thang, những bước chân ấy đột nhập vào cuộc sống của anh, nhưng chúng mang theo điều thiện hay điều ác lại chưa biết được. Cái gì thám tử  Sơlốc Hôm cần thiết cho con người khoa học, bác sĩ  Đjiêmxơ Môrtimêrơ này vậy?... Hãy vào đi!

Vẻ ngoài của vị khách khiến tôi ngạc nhiên, vì tôi nghĩ là mình sẽ được trông thấy một bác sĩ nông thôn điển hình. Bác sĩ Môrtimêrơ té ra là một người gầy gò, cao ngẳng, cái mũi dài hao hao giống mỏ chim trồi lên giữa cặp mắt xám ghé sát ánh lên rạng rỡ dưới gọng kính vàng. Ông ta ăn mặc giống như một bác sĩ nhưng hơi luộm thuộm một chút: áo và quần tây sờn rách. Ông gù lưng mặc dầu chưa già và rướn rướn cổ một cách quái dị khi đưa đôi mắt thiện cảm nhìn chúng tôi. Ngay lúc vị khách của chúng tôi vừa bước vào phòng, cái nhìn của ông lập tức hướng vào chiếc gậy trong tay Hôm, rồi với một tiếng kêu vui sướng ông rướn cả người về phía Hôm.

- Thật là may mắn! Tôi không thể nhớ được là tôi đã để nó ở chỗ nào, ở đây hay là ở hãng tàu thuỷ. Mất cái gậy ư, điều đó thật là khủng khiếp!

- Vậy kỷ niệm chăng? – Hôm hỏi.

- Vâng, thưa ông.

- Của bệnh viện Treringơ – Krôxơ phải không?

- Vâng, những người bạn ở đó tặng nhân ngày cưới của tôi.

- Ôi, điều ấy thật tồi tệ! - Hôm lắc đầu nói.

Bác sĩ Môrtimêrơ bắt đầu chớp mắt một cách ngạc nhiên.

- Điều ấy có gì là xấu xa?

- Chỉ vì ông đã phá vỡ quá trình suy luận của chúng tôi. Thế nghĩa là món quà cưới?

- Đúng, thưa ông. Tôi lấy vợ, đã rời bỏ bệnh viện và cùng với nó là toàn bộ hy vọng về cương vị bác sĩ chỉ đạo chuyên môn của tôi. Cần tậu một ngôi nhà riêng.

- Ôi thế đấy, chúng tôi đã không quá lầm lẫn – Hôm nói – Còn bây giờ bác sĩ Đjiêmxơ Môrtimêrơ…

- Thế nào ông! Tôi không có trình độ bác sĩ đâu, tôi chỉ là thành viên của Hội phẫu thuật nhà nước.

- Rõ ràng ông là người của nếp tư duy khoa học chứ?

- Tôi chỉ có một vài mối quan hệ với khoa học thôi, ông Hôm ạ! Có thể nói thế này, tôi thu nhặt những vỏ sò trên bờ đại dương vô cùng tận của nhận thức. Nếu tôi không lầm, thì tôi đang có diễm phúc tiếp chuyện với ông Hôm, và không phải với…

- Không, bác sĩ Oátxơn đấy – Ngay trước mặt ông ấy.

- Rất sung sướng được làm quen, thưa ông. Tên của ông thường được nhắc đến cùng với tên của bạn ông. Ông Hôm, ông khiến tôi vô cùng quan tâm. Tôi cảm thấy bất ngờ vì sọ của ông kéo dài đến thế và cánh cung lông mày của ông lại được phát triển mạnh đến thế. Cho phép tôi sờ vào đường thóp của ông. Thưa ông, người nào mà có cái sọ của ông thì có thể làm nổi bật bất kỳ viện bảo tàng nhân chủng học nào cho tới khi được thừa nhận là người phát triển bình thường nhất. Xin đừng cho tôi là nịnh bợ, nhưng quả thật là tôi ganh tị với sọ ấy đấy.

Sơlốc Hôm mời vị khách kỳ lạ của chúng tôi ngồi xuống ghề bành.

- Tôi với ông, cả hai rõ ràng đều là những người nhiệt tâm với công việc của mình, thưa ông – Anh nói – Nếu suy luận theo ngón tay trỏ của ông thì ông ưa loại thuốc cuốn hơn. Xin đừng khách khí, hãy cứ hút đi!

Bác sĩ Môrtimêrơ rút thuốc từ túi ra và ông vấn giấy với một sự khéo léo đến kinh ngạc. Những ngón tay dài và hơi run run của ông chuyển động mau lẹ và thiếu bình tĩnh nhu thứ râu sờ ở loài sâu bọ.

Hôm yên lặng, song những cái nhìn nhanh và thoáng qua lướt tới người tiếp chuyện thú vị của chúng tôi rõ ràng lại chứng tỏ rằng con người này làm anh rất quan tâm.

- Thưa ông, tôi cho rằng – cuối cùng anh bắt đầu – ông cho tôi một vinh hạnh bởi cuộc viếng thăm hôm qua và hôm nay của mình chắc không chỉ vì để khám nghiệm cái sọ của tôi?

- Không, thưa ông, tất nhiên là không! Sự thật là tôi rất may mắn khi một cơ hội như thế đã xảy ra với tôi nhưng đưa tôi đến với ông hoàn toàn không phải chuyện đó, ông Hôm ạ. Tôi là người tuyệt nhiên không có thói quen thực hành, hơn nữa trước mắt tôi đột nhiên xuất hiện một nhiệm vụ cực kỳ nghiêm trọng và cực kỳ khủng khiếp. Tôi coi ông là một chuyên gia lỗi lạc thứ hai ở châu Âu…

- Vậy kia đấy, thưa ông! Cho phép tôi tò mò hỏi ai có vinh dự ở vị trí thứ nhất vậy? – Với một giọng bực bội Hôm hỏi.

- Với nếp tư duy khoa học, các công trình của ngài Bêrtilôn khiến cho mọi người vô cùng kính trọng.

- Vậy thì tại sao ông không đến chỗ ông ta?

- Tôi nói là về “nếp tư duy khoa học”, thưa ông. Còn với tư cách là nhà thực hành thì ông không nhường ai, điều này được mọi người thừa nhận! Thưa ông, hy vọng là tôi không cho phép mình nói quá mức…

- Chỉ là chuyện vặt vãnh – Hôm trả lời – Tuy nhiên, bác sĩ Môrtimêrơ ạ, ông sẽ xử sự hoàn toàn đúng nếu ngay bây giờ xin đừng lạc đề nữa, ông hãy kể cho tôi nghe công việc ra sao và để giải quyết nó ông yêu cầu sự giúp đỡ như thế nào của tôi.

 

                                                                                     CHƯƠNG II

                                    LỜI NGUYỀN CỦA DÒNG HỌ BAXKÊRVILI

 

           -  Trong túi tôi  có một bản chép tay – Bác sĩ Đjiêmxơ Môrtimêrơ nói.

-  Tôi nhận ra điều đó ngay từ lúc ông mới vào kia – Hôm nói.

-  Bản chép tay xa xưa lắm rồi.

- Đầu thế kỷ XVIII nếu không phải là đồ giả mạo.

- Do đâu ông biết được điều đó, thưa ông?

- Khi nói chuyện với tôi ông luôn chỉ cho tôi thấy mép bản chép tay đó rộng hai tấc Anh. Sẽ là một chuyên gia tồi nếu anh ta không thể xác định được năm tháng của tài liệu tính chính xác đến một, hai thập kỷ. Có thể ông chưa có dịp đọc công trình nhỏ nhoi của tôi về vấn đề này? Tôi xác định năm của văn bản chép tay của ông là 1730.

- Năm chính xác là 1742 – Bác sĩ Môrtimêrơ rút thủ bản từ túi bên phải áo vét tông ra – Vật quý báu của dòng họ này được ngài Tsartizơ Baxkêrvili trao cho tôi giữ gìn. Cái chết đường đột và bi thảm của ngài ba tháng trước đây đã làm xúc động cả Đêvônsirơ. Tôi coi mình không chỉ là bác sĩ của ngài Tsarlizơ mà còn là người bạn tâm tình của ngài. Ngài là một người có quyền lực, thông minh, rất từng trãi, tuyệt đối không thích mơ tưởng như người phục vụ dễ bảo của ông đây. Ngài có quan hệ tới tài liệu này nghiêm trọng đến mức ngài đã sẵn sàng đi đến cái chết mà số phận dành cho mình.

Hôm đưa tay ra nhận thủ bản rồi trải nó ra trên gối.

- Oátxơn, hãy xem chữ cái “Đ”. Đó là một trong những đặc điểm có thể giúp tôi xác định năm tháng của tài liệu.

Qua vai anh, tôi nhận ra những tờ giấy đã úa vàng. Phía trên trang giấy có dòng chữ: “Lâu đài Baxkêrvili”. Còn phía dưới có các con số to, nét chữ rộng rãi: “1742”.

- Đây có lẽ là bản ghi chép gì đó?

- Vâng, Bản ghi chép một truyền thuyết lưu truyền trong dòng họ Baxkêrvili.

- Nhưng tôi rất hiểu là ông đến xin ý kiến của tôi về những vấn đề thiết thực nhất và gần gũi nhất đối với chúng ta về mặt thời gian.

- Vâng, cấp bách và gần gũi! Vấn đề không thể trì hoãn được, cần phải giải quyết nó trong vòng một ngày đêm. Thủ bản rất ngắn và nó có quan hệ trực tiếp tới vụ án. Nếu được phép của ông, tôi sẽ đọc nó cho ông nghe.

Sau khi ngả người vào lưng ghế bành, Hôm khép đầu ngón tay lại với nhau, nhắm mắt lại với tư thế hoàn toàn thoải mái. Bác sĩ Môrtimêrơ quay người về phía ánh sáng, và bằng giọng cao rít ông bắt đầu đọc câu chuyện thời xưa lý thú sau đây:

“Có nhiều bằng chứng về con chó của dòng họ Baxkêrvili, thế nhưng khi là con cháu trực tiếp của Gugơ Baxkêrvili và khi được nghe nhiều về con chó này từ cha mình – còn người thì nghe từ ông nội của ta, ta đặt ra nhiệm vụ phải viết lại câu chuyện này rất chân thật để không thể hoài nghi về điều gì cả. Và ta muốn con cháu của ta, các người sẽ hoàn toàn tin chắc rằng quan toà tối cao – Người trừng phạt chúng ta do những lỗi lầm của chúng ta – có quyền tha thứ cho chúng ta với lòng nhân từ vốn có của người rằng không có lời nguyền rủa nặng nề nào lại không thể chuộc tội bằng lời cầu nguyện. Hãy quên những trái độc của quá khứ, nhưng hãy giữ mình đừng làm những việc sai trái trong tương lai, rồi Đấng tối cao không ban thưởng tự do cho những dục vọng đen tối vốn chỉ là nguyên nhân của cái ác trong cả dòng họ của chúng ta.

Hãy nhớ rằng và thời đại của Vôxtanhiơ vĩ đại (tôi khuyên các người bằng mọi cách để đọc lịch sử của ngài được huân tước Klarênđônơ, một người đàn ông rất thông thái viết ra), Gugơ là chủ nhân của thái ấp Baxkêrvili. Thật công bằng mà nói, có thể gọi Gugơ của dòng họ này là người mãnh liệt, hoài nghi và vô thần. Những người láng giềng đã tha thứ tất cả lỗi lầm của ông vì thánh thần không bao giờ trú ngụ trên địa phận của chúng ta, nhưng khuynh hướng ưa thích những truyện cười xằng bậy và tàn nhẫn vốn nằm trong bản tính của Gugơ đến mức tên ông gắn với truyện ngụ ngôn ở miệng lưỡi khắp Đêvôn. Chuyện xảy ra thế này, ông Gugơ có yêu (miễn là có thể gọi dục vọng đen tối này của ông bằng một cái tên rất trong sạch như thế) con gái của một điền chủ, đất đai của ông ta nằm gần thái ấp của Baxkêrvili. Nhưng cô gái trẻ tuổi nổi tiếng là người khiêm nhường và đức hạnh đã kinh hãi khi nghe cái tên của ông và đã lẩn tránh ông bằng mọi cách. Thế là một lần (điều này xảy ra vào ngày Mikhailốp), Gugơ Baxkêrvili lựa sáu người táo tợn và trác táng nhất trong số các “đồng chí” cùa mình lẻn tới trang trại. Khi biết rằng cha và các anh em của cô gái đi vắng, ông đã bắt cô gái mang đi. Sau khi trở về lâu đài Baxkêrili, ông giấu nữ tù nhân của mình tại một trong những buồng kín ở lầu trên, còn chính ông theo thói quen, bắt đầu đánh chén cùng với các “đồng chí” của mình. Cô gái bất hạnh gần như bị mất trí khi nghe thấy những tiếng hát, lời quát tháo và sự chửi rủa khủng khiếp vọng tới từ phía dưới, bởi vì theo sự chứng kiến của những người biết Gugơ thì trong cơn say ông chẳng giữ mồm giữ miệng gì cả và hình như những lời tựa như là xúc phạm tới thánh thần có thể thiêu cháy con người khi con người ấy cảm thấy chính mình bị xúc phạm. Và cuối cùng, nỗi khiếp đảm đã đẩy cô gái tới một hành động mà ngay cả người đàn ông khôn khéo và dũng cảm nhất cũng bó tay. Sự thể thế này: cô túm lấy thành mành, theo dây trừơng xuân lần xuống đất, rồi theo bức tường phía nam của lâu đài băng qua đầm lầy về nhà cha mình, cách thái ấp Baxkêrvili tới ba dặm đường.

Sau một thời gian, Gugơ yêu cầu khách khứa mang nữ tù nhân của mình tới ăn uống nhưng có thể trong đầu óc của ông nảy ra ý nghĩ gì đó xấu xa hơn. Ông nhận thấy lồng chim trống không và con chim đã bay mất. Khi ấy, quỷ dữ đã chiếm lĩnh ông, bởi lẽ sau khi băng theo cầu thang chạy xuống phòng ăn ông đã nhảy chồm lên bàn, quẳng bình rượu và bát đĩa ra khắp nơi và công khai thề rằng sẽ hiến cả thể xác lẫn tâm hồn mình cho sức mạnh của cái ác chỉ cần rượt đuổi kịp kẻ chạy trốn. Do kinh ngạc bởi cơn giận lôi đình của ông, mọi người đều đứng cả dậy. Một người say rượu nhất và nhẫn tâm nhất trong số họ la lên rằng phải thả chó để lần theo vết của kẻ tẩu thoát. Nghe được những lời ấy, Gugơ chạy ra khỏi lâu đài, ra lệnh những người chăn ngựa thắng yên con ngựa cái khoang của mình và thả đàn chó ra. Sau khi cho đàn chó ngửi hơi chiếc khăn quàng cô gái đánh rơi, ông phi ngựa theo vết đàn chó săn sủa ầm ĩ qua khu đầm lầy tràn ngập ánh trăng.

Các bạn hữu của ông đứng im lặng một thời gian do chưa thấu hiểu ngay vì sao cảnh nhốn nháo ấy lại xảy ra. Nhưng rồi những hành vi hung bạo sẽ được thực hiện trên khoảng rộng rãi của đầm lầy than bùn đã kịp đến với lý trí bao phủ bởi hơi men của họ. Thế là tất cả bắt đầu nhao lên: người đòi ngựa, kẻ đòi súng ngắn, một số người khác thì đòi rượu tiếp. Sau đấy, khi hồi tỉnh lại, cả bọn gồm ba mươi người nhảy lên ngựa liên kết thành một đoàn truy kích. Trăng chiếu sáng rỡ ràng. Tất cả những người đuổi bắt phi thành một hàng theo con đường mà họ dự đoán là cô gái cần phải chạy qua nếu cô có ý định trở về nhà của mình.

Vượt qua chừng một hoặc hai dặm đường, họ gặp một người chăn bò cùng một đàn gia súc. Họ hỏi ông ta là có nhìn thấy kẻ chạy trốn không. Ông ta, như người ta kể lại, ban đầu không thể thốt ra lấy một lời vì kinh sợ, nhưng sau đó đã thú nhận là có nhìn thấy cô gái bất hạnh mà đàn chó đã lao theo dấu vết của cô. “Nhưng tôi còn nhìn thấy một cái khác – Ông ta nói thêm – Gugơ Baxkêrvili phi ngang qua tôi trên con ngựa cái hoang còn con chó lừng lững chạy theo ông. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy con quỷ của địa ngục như thế ở sau lưng mình”.

Lũ người say chửi rủa người chăn bò và tiếp tục lên đường. Thế nhưng chẳng bao lâu họ đã cảm thấy rởn tóc gáy khi nghe thấy tiếng móng ngựa gõ thình thịch. Con ngựa cái khoang không có người cưỡi sũi bọt mép lao vút qua họ, dây cương rối lung tung. Các đãng tử tụ họp thành một nhóm lòng tràn ngập nỗi kinh hoàng. Tuy nhiên rồi tất cả lại tiếp tục lao về phía trước. Mặc dầu vậy có một người từ trong số họ ở lại một mình, tách rời đồng bọn, sung sướng quay ngựa lui trở lại phía sau. Họ tiến chậm chạp về phía trước và cuối cùng họ nhận ra đàn chó. Cả đàn từ lâu vốn nổi tiếng là thuần giống và hung dữ giờ sủa một cách rầu rĩ tụ tập chen chúc cạnh triền dốc dẫn tới một cái hốc sâu. Một vài con lén lút chạy lánh xa một bên, những con khác lông xù, mắt sáng lấp lánh, rán sức lết tới kẽ đá hẹp mở ra trước mắt chúng.

Các kỵ sĩ dừng lại. Có thể đoán là họ đã tỉnh táo hơn nhiều so với lúc mới khởi hành. Phần đông trong số họ không dám nhích tới phía trước lấy một bước, song có ba người quả cảm nhất và say rượu nhất đã dùng ngựa đi sâu vào hốc núi. Ở đó có một bãi cỏ rộng mở trước mặt họ. Trên bãi cỏ nổi rõ hai cột đá lớn được dựng ở đây từ thời xa xưa. Ánh trăng toả sáng xuống đồng cỏ. Nằm giữa bãi cỏ là người con gái bất hạnh bị chết vì kinh hãi và kiệt sức. Ba đãng tử liều lĩnh cảm thấy tóc trên đầu mình dựng lên không phải do vẻ ngoài của cơ thể không còn sự sống của cô gái, cũng không phải do vẻ ngoài của thi thể Gugơ Baxkêrvili nằm cạnh cô. Không! Đứng trên Gugơ là một con quái vật gớm ghiếc. Một con thú to, lông đen, giống vẻ ngoài của con chó nhưng cao và to hơn tất cả những con chó mà một lúc nào đó nó buộc phải nhìn thần chết. Con quái vật ray nát cổ Gugơ và sau khi ngoảng cái mõm đầy máu về phía họ thì mắt nó cháy rực lên. Lúc đó họ la hét, lòng tràn ngập nỗi khiếp đảm. Rồi họ vừa không ngừng kêu la vừa lao vun vút trên đầm lầy. Một người trong số họ, như người ta nói, đã chết ngay đêm ấy do bị ám ảnh bởi những cái được chứng kiến, còn hai người kia thì cho đến cuối đời mình vẫn không thể hoàn hồn bởi sự chấn động vô cùng nặng nề ấy.

Hỡi con cháu của ta, truyền thuyết về con chó từ thời xưa đã là nguyên do của biết bao tai họa giáng xuống dòng họ chúng ta là như vậy. Và nếu ta có định chép lại truyền thuết này cũng chỉ để hy vọng rằng cái điều được biết đến khiến chúng ta dằn vặt vì khủng khiếp ít hơn là so với các điều ước đoán và cái điều nói nửa chừng.

Có cần phủ nhận rằng nhiều người trong dòng họ chúng ta đã qua đời bởi một cái chết đường đột khủng khiếp và bí ẩn? Và cái điều tiên đoán sẽ không lưu lại trong chúng ta bằng sự khoan dung chưa được nói ra. Bởi lẽ sự tiên đoán sẽ không làm những người vô tội được sinh ra vào nhánh thứ ba và thứ tư kinh ngạc, thế nhưng sự báo thù lại đe doạ họ như được nói tới trong Phúc âm. Ta giao phó các  con cháu của ta cho lời tiên đoán ấy và xin cầu nguyện: Hãy tránh đi vào khu đầm lầy vào ban đêm khi uy lực của cái ác hoàn toàn thống trị ở đó.

(Được viết bằng dạng chữ của Gugơ Baxkêrvili dành cho các con trai Rôđjiêrơ và Đjiônơ, ta đồng thời ra lệnh cho các người phải giữ bí mật tất cả điều này đối với em gái của các người, Êlizabet).

Đọc xong câu chuyện kỳ lạ đó, bác sĩ Môrtimêrơ dịch kính lên trán và dán mắt vào ông Sơlốc Hôm. Anh ngáp dài, ném mẩu thuốc vào lò sưởi.

- Thế nào? – Anh hỏi.

- Theo ông điều đó có thú vị không?

- Thú vị đối với những người ưa thích truyện cổ tích.

Bác sĩ Môrtimêrơ rút từ trong túi ra một tờ báo được gấp làm tư.

- Thôi được, ông Hôm, bây giờ tôi sẽ cho ông làm quen với tài liệu hiện đại hơn. Đây là số báo “Tin vắn Đêvônsirơ”, ra ngày 14 tháng 6 của năm nay. Trong đây có đăng bài tường thuật ngắn về các sự kiện liên quan tới cái chết của ngài Tsarlizơ Baxkêrvili được phát hiện vài ngày trước đó.

Người bạn tôi hơn rướn người về phía trước và cái nhìn của anh lập tức trở nên chăm chú. Người bác sĩ sửa lại chiếc kính, bắt đầu đọc:

“Cái chết mới được phát hiện cách đây không lâu của ngài Tsarlizơ Baxkêrvili -  ứng cử viên có triển vọng của đảng Tự do trong kỳ bầu cử sắp tới, đã gây ra một ấn tượng vô cùng nặng nề cho cả miền Trung Đêvôsirơ. Mặc dầu ngài Tsarlizơ đến định cư ở lâu đài Baxkêrvili hoàn toàn chưa lâu, nhưng do thái độ ân cần và hào hiệp của mình, ngài đã kịp chiếm được lòng yêu mến và kính trọng của tất cả những ai từng có công việc với ngài. Vào thời đại thống trị của óc đầu cơ ngày nay có thể dễ dàng nhận thấy rằng người kế tục của dòng họ xưa kia từng nổi danh một thời đã có thể nhờ bàn tay của mình để tạo lập cơ nghiệp và nhờ đó mà khôi phục sự cao quý đã có của tên tuổi mình. Như mọi người đã biết, ngài Tsarlizơ đã tiến hành việc kinh doanh rất có lãi ở miền Nam châu Phi. Khác với những người không chịu dừng lại trước khi bánh xe của số phận quay ngược lại với hướng đi của họ, ngài, với óc sáng suốt vốn là bản tính của mình, đã thu nhập thành công và trở về Anh Quốc với một khoản tiền đáng kể. Ngài đến ở lâu đài Baxkêrvili chỉ mới hai năm trước thế mà những lời đồn đại về sự cải thiện khác nhau của ngài và về kế hoạch xây dựng lai thái ấp, kế hoạch bị ngưng trệ bởi cái chết của ngài, đã kịp thời vang ra khắp mọi nơi. Do hiếm hoi con cái, lúc còn sống ngài đã nhiều lần bày tỏ ý định cải thiện sinh hoạt cho những người đồng hương của mình, và nhiều người trong số những cư dân ở đây đã có lý do riêng để thương tiếc ngài. Về sự quyên góp hào phòng của ngài Tsarlizơ cho nhu cầu từ thiện ở phạm vi địa phương cũng như toàn địa phận sẽ được nhiều lần nhắc lại trong những trang báo này của chúng tôi.

Không thể nói rằng cuộc điều tra đã làm sáng tỏ hoàn toàn tình trạng cái chết của ngài Tsarlizơ Baxkêrvili, mặc dầu cuộc điều tra đã kết thúc do những tin đồn nảy sinh từ những đầu óc mê tín ở địa phương. Chúng ta không có bất kỳ cơ sở nào để hoài nghi rằng cái chết đã xảy ra không phải vì một lý do duy nhất. Ngài Tsarlizơ goá vợ và có thể biểu thị thế này: đó là một con người có nhiều đức tính lạ lùng. Mặc dầu gia tài ngài lớn, ngài vẫn sống rất giản dị, tổng số người phục vụ trong nhà ở lâu đài Baxkêrlivi chỉ gồm cặp vợ chồng Berimôrơ. Ông chồng đảm trách việc quản lý còn bà vợ thì làm nội trợ. Trong những lời khai của họ – những lời khai này trùng hợp với những lời khai của các bạn hữu gần gũi với người đã khuất, vợ chồng Berimôrơ còn lưu ý là sức khoẻ của ngài Tsarlizơ vào thời gian gần đây rõ ràng có suy giảm. Theo lời của họ, ngài bị bệnh đau tim. Sự thay đổi rõ rệt của túi mật, tình trạng khó thở và tâm trạng sầu não đã xác nhận điều đó. Bác sĩ Đjiêmxơ Môrtimêrơ, người bạn thân thiết đồng thời là bác sĩ gia đình của người đã khuất cũng nhấn mạnh điều này trong bản cung khai của mình.

Từ phương diện thực tế cái chết diễn ra vô cùng đơn giản: ngài Tsarlizơ Baxkêrvili trước khi ngủ thường có thói quen đi dạo theo con đường rợp bóng cây nổi tiếng ở lâu đài Baxkêrvili. Vợ chồng Berimôrơ xác nhận là ngài không bao giờ thay đổi thói quen này. Ngày 4 tháng 6, ngài Tsarlizơ có nói rõ về dự định đi Luân Đôn vào ngày hôm sau và ra lệnh Benimôrơ chuẩn bị hành trang cho mình. Buổi tối, như lệ thường, ngài đi dạo và trong thời gian đó luôn luôn hút thuốc. Ngài Tsarlizơ không quay về nhà nữa. Lúc nửa đêm, khi nhận thấy cánh cửa dẫn tới lâu đài vẫn còn mở toang, Berimôrơ cảm thấy lo sợ bèn đốt đèn lên và đi tìm ông chủ của mình. Ngày hôm đó mưa ẩm, những vết chân của ngài Tsarlizơ in rõ trên con đường rợp bóng cây. Khoảng giữa con đường này có một cửa hàng rào nhỏ dẫn tới khu đầm lầy than bùn. Nếu phán đoán theo một vài tư liệu thì ngài Tsarlizơ có đứng cạnh chiếc cửa nhỏ này vài phút và sau đó tiếp tục đi… Thi thể được tìm thấy ngay cuối con đường.

Ở đấy có một điểm chưa được rõ: Berimôrơ cho hay là ngay khi ngài Tsarlizơ rời khỏi cửa hàng rào thì đặc điểm của vết chân ngài có thay đổi – Có lẽ ngài tiếp tục đi nhón trên mũi giầy. Vào thời gian này, một người Digan đi buôn nào đó tên là Mêrphi đi qua khu đầm lầy cách không xa con đường, ông ta nghe thấy những tiếng kêu, nhưng không thể xác định là những tiếng kêu đó vọng tới từ hướng nào. Bởi vì, theo sự thú nhận của ông thì ông ta đang trong cơn say nặng. Không tìm thấy dấu tích bạo lực nào trên cơ thể của ngài Tsarlizơ. Thực tế thì sự khám nghiệm y học đã lưu ý tới bộ mặt bị biến dạng đến khó nhận ra của người chết – Ban đầu thậm chí bác sĩ Môrtimêrơ cũng không tin rằng người bạn, người bệnh của ông đang nằm trước mặt mình. Tuy nhiên, hiện tượng tương tự vẫn thường đi kèm cái chết do ngạt thở và do sự suy kiệt trong hoạt động của tim. Điều này được xác nhận trong kết quả ca phẫu thuật đem lại sự thật đầy đủ về tật hở van tim nội tạng mãn tính. Trên cơ sở những tư liệu của phẫu thuật y học, sự điều tra đã đi tới kết luận cái chết mới phát hiện như sau: tình trạng vụ án giảm nhẹ đến mức đáng kể, bởi vậy mong sao người thừa kế ngài Baxkêrvili sẽ đến ở lâu đài Baxkêrvili và tiếp tục những sáng kiến cao cả mà người đi trước đã phải ngừng lại bởi cái chết bi thảm nói trên. Nếu những kết luận chính xác của người điều tra chưa chấm dứt, những dự đoán lãng mạn trong sự liên quan tới cái chết của ngài Tsarlizơ đã lan truyền khắp địa phận từ miệng người này sang miệng người khác, thì khó lòng tìm ra chủ nhân của lâu đài Baxkêrvili. Như người ta nói thì người họ hàng gần gũi nhất của ngài Tsarlizơ là ông Genri Baxkêrvili (nếu ông còn sống), con trai người em giữa của người đã khuất. Theo nguồn tin cuối cùng có được của chúng tôi thì con người trẻ tuổi này hiện đang sống ở Mỹ. Giờ đây các biện pháp đã được chấp nhận là tìm kiếm ông ta và thông báo về tài sản kế thừa to lớn mà ông ta được nhận”.

Bác sĩ Môrtimêrơ gập tờ báo lại bỏ vào túi.

- Đó là tất cả những gì được thông báo về cái chết của ngài Tsarlizơ Baxkêrvili, ông Hôm ạ!

- Ông đã giúp tôi làm quen với vụ án không bị tước mất một vài điều đáng quan tâm, tôi rất biết ơn ông vì điều đó – Sơlốc Hôm nói – Vào thời gian trước đây, tôi có dịp đọc vụ án này trên báo, nhưng khi ấy tôi bận tâm với lịch sử những bức tượng quý trong cung điện của Giáo hoàng ở La Mã và gắng phụng sự Giáo hoàng tới mức đã bỏ qua một vài vụ án thú vị ở Anh Quốc… Có nghĩa đây là toàn bộ những tin tức về cái chết của ngài Tsarlizơ?

- Vâng.

- Vậy thì ông hãy cho tôi được biết những sự thật chưa được công bố đi – Anh ngả người vào lưng ghế bành, đan những ngón tay vào nhau, có vẻ của vị quan toà công minh và nghiêm khắc.

- Tôi chưa từng bày tỏ điều này đối với bất kỳ ai – Bác sĩ Môrtimêrơ bắt đầu, rõ ràng là ông rất xúc động – Tôi không trình bày nhiều điều trong quá trình điều tra bởi nguyên do đơn giản là con người khoa học cảm thấy ngượng ngùng khi tán đồng những dư luận nảy sinh từ đầu óc mê tín. Tôi cho rằng bài báo có lý: làm trầm trọng thêm tiếng tăm ảm đạm của lâu đài Baxkêrvili có nghĩa là bắt nó phải chịu một cuộc sống vất vưỡng không có chủ nhân. Dựa vào những nguyên nhân này tôi thích im lặng hơn bởi sự cởi mở thái quá sẽ không đem lại một lợi ích nào cả. Nhưng với ông tôi có thể nói thẳng.

Khu đầm lầy có than bùn là một nơi hoàn toàn vắng vẻ. Cho nên những láng giềng gần gũi ít hay nhiều cũng thường xuyên cố gắng gặp gỡ nhau. Còn về phần mình, tôi rất hài lòng khi sống qua nhiều thời gian trong địa giới của ngài  Tasrlizơ Baxkêrvili. Nếu không tính đến ông Phrênkiêndơ ở lâu đài Lêphtêrơ và nhà tự nhiên học, ông Xteptôn thì ở chỗ chúng tôi trong khoảng nhiều dặm đường không gặp một người nào có học thức cả. Ngài Tsarlizơ ưa sống cô độc, thế nhưng bệnh tình của ngài đã khiến chúng tôi gần gũi nhau và những quan tâm chung lại củng cố thêm sự gần gũi ấy. Ngài đã chuyển về từ Nam Mỹ những tư liệu khoa học rất quý và chúng tôi đã dùng nhiều buổi tối thú vị để trao đổi về giải phẩu học so sánh Busmerơ và Gôttentôtơ(2).

Thời gian gần đây, cứ mỗi tháng tôi lại cảm thấy rõ rệt hơn là thần kinh của ngài Tsarlizơ căng thẳng đến tột độ. Ngài tin vào truyền thuyết tôi vừa đọc cho ông nghe, nên lúc dạo chơi trên lãnh địa của mình ông quyết định không đi vào khu đầm lầy vào ban đêm. Ông Hôm, ông có thể cho là xằng bậy nhưng ngài Tsarlizơ đã tin chắc là lời nguyền khủng khiếp đè nặng lên dòng họ ngài, và bởi vậy, những tấm gương mà ngài rút ra từ quá khứ của gia đình mình đều không hay. Ý tưởng về một bóng ma nào đó ám ảnh dai dẳng không cho ngài được yên tĩnh. Ngài thường hỏi tôi là khi đi thăm bệnh nhân, tôi có nhìn thấy cái gì lạ lùng không, có nghe thấy tiếng chó sủa không. Câu hỏi sau ngài Tsarlizơ hỏi rất thường xuyên và giọng ngài run run vì lo ngại.

Tôi còn nhớ y nguyên là ba tuần trước khi sự cố bi thảm xảy ra tôi đã đến lâu đài Baxkêrvili vào buổi chiều. Tsarlizơ đứng ở cửa ra vào. Tôi bước xuống từ chiếc xe ngựa hai bánh. Lúc đến gần ngài, tôi đột nhiên nhận thấy ngài đang nhìn qua vai tôi tới một chỗ nào đó. Trong mắt ngài biểu lộ sự khiếp đảm đến vô chừng. Bất thình lình tôi ngoảnh đầu lại và trong khoảng khắc kịp nhìn thấy ở ngay cuối con đường rợp bóng cây một động vật gì đó trông từa tựa con nai, đen và lớn. Ngài Tsarlizơ xúc động và hoảng sợ tới mức tôi buộc phải đi tới nơi con vật thoáng xuất hiện và nhìn xem nó lẩn vào đâu. Nhưng ở đấy không còn gì cả.

Sự cố này đã gây một ấn tượng rất nặng nề đối với người bạn của tôi trong suốt buổi tối tôi ở chỗ ngài. Và thế là, đến một lúc nào đấy, sau khi giải thích cho tôi biết nguyên do nỗi lo ngại của mình, ngài yêu cầu tôi giữ gìn thủ bản này và tôi coi việc cần thiết trước tiên là giúp ông làm quen với nó. Tôi nhắc đến trường hợp ít ý nghĩa này chỉ bởi vì ngài có nhận ra một vài ý nghĩa gì đó trong những bi kịch tiếp theo, thế nhưng khi đó tôi cho điều này là hoàn toàn vô lý, nó không hề biện minh chút nào cho nỗi lo lắng của bạn tôi.

Theo lời khuyên của tôi, ngài Tsarlizơ đã dời đến Luân Đôn. Tim ngài hoạt động vẫn không bình thường, còn nỗi hoảng sợ không cho ngài yên tĩnh lấy một phút đã thể hiện rõ rệt về tình trạng suy thoái của sức khoẻ ngài, mặc dầu nguyên do của nỗi hoảng sợ này theo ý tôi chỉ là do tưởng tượng mà ra. Tôi tính rằng vài tháng sống ở thành phố sẽ tác động tới ngài Tsarlizơ tích cực hơn và ngài sẽ trở về với một tâm trạng hoàn toàn mới. Ông Xtepltôn, người luôn luôn biểu lộ sự quan tâm sâu sắc đối với sức khoẻ người bạn của cả hai chúng tôi cũng tán đồng với ý kiến đó. Và thế là nỗi bất hạnh ghê gớm đã bột phát xảy ra vào ngày những giờ phút sau đấy.

Viên quản gia Berimôrơ sau khi tìm thấy thi thể của ngài Tsarlizơ trong đêm đã nhanh chóng phái người chăn ngựa Pêrkinxơ phi ngựa đến chỗ tôi. Tôi làm việc muộn, nên đã kịp đến lâu đài Baxkêrvili rất nhanh, không quá một giờ đồng hồ. Tất cả những sự thật được nhắc đến trong bản điều tra được tôi soát lại và đối chiếu cái này với cái kia. Tôi đi theo vết của ngài Tsarlizơ trên suốt con đường rầm rì cây cối, xem xét kỹ chỗ cạnh cửa hàng rào, nơi chắc có lẽ ngài đã dừng lại, để ý tới đặc điểm thay đổi của vết chân ngài và dám chắc rằng ngoài những vết đó ra, chỉ có những dấu vết khác của Berimôrơ trên đá sỏi rải mỏng. Cuối cùng, tôi tỉ mỉ khám nghiệm thi thể mà trước khi tôi đến đã không một ai được phép tới gần. Ngài Tsarlizơ nằm sấp, dang hai tay ra, còn những ngón tay ngài thì bám chặt vào đất, chứng co giật làm bộ mặt của ngài méo mó đến mức tôi đã không nhận ra ngay được thi  thể. Không có sự xây xát nào ở ngài. Thế nhưng Berimôrơ đã khai không đúng trong bản điều tra. Theo lời của ông ta thì trên mặt đất cạnh thi thể không nhận thấy một dấu vết nào cả. Ông ta quả thật không để ý đến chúng, còn tôi thì nhận ra. Cạnh ngài Tsarlizơ không xa xuất hiện những dấu vết rất mới và rất rõ…

- Những dấu vết?

- Vâng, những dấu vết.

- Đàn ông hay đàn bà?

Bác sĩ Môrtimêrơ kinh ngạc nhìn chúng tôi và trả lời gần như thầm thì:

-Ông Hôm, đó là những vết chân của một con chó khổng lồ!

 

 

                                                                                             CHƯƠNG III

                                                                             NHIỆM VỤ

            

          Phải thú nhận là những lời này đã khiến tôi lạnh cả xương sống. Suy từ giọng nói run rẩy của người bác sĩ, chúng tôi cũng bị xúc động mãnh liệt bởi câu chuyện này. Cả người Hôm ngả về phía trước. Trong mắt anh loé lên những tia sáng lạnh lùng và hằn học – dấu hiệu đích xác của mối quan tâm đã thức dậy.

- Chính mắt ông đã nhìn thấy?

- Vâng, như tôi đang nhìn thấy ông đây!

- Vậy mà ông chẳng nói gì về chuyện đó!

- Mà để làm gì chứ?

- Có phải không một ai ngoài ông ra nhìn thấy không?

- Những dấu vết đó ở cạnh thi thể ba mươi thước, và có lẽ quả thật chưa có ai chú ý tới chúng. Chính tôi cũng sẽ không nhận thấy nếu không nhớ tới truyền thuyết kia.

- Chắc trên đầm lầy có nhiều chó bergiê?

- Tất nhiên. Nhưng đó không phải chó bergiê.

- Ông có nói là những vết chân rất lớn phải không?

- Rất lớn.

- Thế nhưng, chúng không tới gần thi thể ngài Tsarlizơ?

- Không.

- Thời tiết lúc đó ra sao?

- Ẩm và lạnh.

- Tuy nhiên không có mưa chứ?

- Không.

- Con đường ấy có gì?

- Dọc theo con đường có hàng rào xanh và cao, giữa là lòng đường rộng chừng 8 phitơ.

- Nếu tôi hiểu ông chính xác thì trên con đường có cửa hàng rào nhỏ?

- Vâng, cửa hàng giậu này dẫn tới khu đầm lầy.

- Tới đó không còn lối đi nào khác.

- Không.

- Có đúng là để tới con đường chỉ có thể đi thẳng từ nhà hoặc đi qua cửa hàng rào dẫn ra đầm lầy không?

- Có một lối khác – qua nhà hóng mát của cuối con đường.

- Ngài Tsarlizơ đã đến đó?

- Không. Ngài nằm cách đó khoảng năm mươi bước.

- Bác sĩ Môrtimêrơ, bây giờ xin ông làm ơn trả lời một câu hỏi rất quan trọng của tôi: Những dấu vết mà ông nhận thấy không ở trên cỏ mà trên con đường chứ?

- Không thấy dấu vết trên cỏ.

- Chúng ở phía có cửa hàng giậu của con đường phải không?

- Vâng, ngay ở rìa đường gần cửa hàng rao.

- Rất tuyệt! Còn một câu hỏi nữa: Cửa hàng rào chắc là được đóng kín?

- Không chỉ được đóng kín mà còn được khoá bằng ổ khoá treo.

- Cửa cao bao nhiêu?

- 4 phitơ.

- Nghĩa là có thể trèo qua được?

- Vâng.

- Không tìm thấy một cái gì ở ngay cạnh cửa hàng rào chứ?

- Không, không tìm thấy cái gì thật đặc biệt cả.

- Trời ơi! Phải chăng ông đã không để mắt đến đó.

- Không, chính tôi nhìn mà.

- Và đã không tìm thấy được gì?

- Khó lòng có thể nhận biết một cái gì ở đó cả. Rất có thể ngài Tsarlizơ đã đứng cạnh cửa hàng rào chừng năm mười phút.

- Tại sao ông lại nghĩ như thế?

- Bởi vì tàn thuốc ngài hút đã hai lần rơi xuống.

- Tuyệt vời! Điều đó thật bổ ích! Có đúng vậy không? Oátxơn? Mà sao lại không có dấu vết?

- Sỏi đã phủ trên vết của ông nên tôi không nhận ra dấu vết khác.

Không kìm lòng nổi, Hôm vỗ đánh đét vào đùi mình:

- Ôi nếu chính tôi ở đó – Anh thốt lên – Có lẽ đây là một vụ án rất lý thú. Những khả năng giàu có như thế phải để dành cho việc nghiên cứu khoa học nghiêm túc! Sỏi đá – đấy là trang sách, mà ở đó tôi có thể đọc được tất cả! Còn bây giờ mưa đã tẩy sạch nó, những gót giầy của các điền chủ hiếu kỳ đã xéo lên nó … Ôi bác sĩ Môrtimêrơ, bác sĩ Môrtimêrơ! Tại sao ông không gọi tôi ngay? Thật tội lỗi biết chừng nào!

- Tôi không thể đến chỗ ông được, ông Hôm, bởi lẽ khi đó tôi phải công bố tất cả những sự thực này và tôi đã giải thích cái gì đã giữ tôi lại từ bước chân này, ngoài ra và ngoài ra…

- Ông ngần ngại điều gì vậy?

- Có một lĩnh vực nào đó mà ở đây ngay cả những thám tử giàu kinh nghiệm nhất và sáng suốt nhất cũng phải bất lực.

- Ông ám chỉ rằng chúng ta đang có công việc với sức mạnh siêu nhiên chăng?

- Tôi không nói như vậy.

- Không nói, nhưng nghĩ, đúng không?

- Ông Hôm ạ, từ khi nỗi bất hạnh xảy ra, một vài trường hợp rất ít liên quan tới tiến trình tự nhiên của sự vật đã đến với tôi.

- Ví dụ?

- Tôi đã nói rằng có một ai đó trong số những cư dân ở địa phương trước khi xảy ra cái chết bi thảm của ngài Tsarlizơ đã trông thấy trong khu đầm lầy một sinh vật kỳ lạ rất phù hợp với sự mô tả về con quỷ của dòng họ Baxkêrvili, và không giống với bất cứ loài động vật nào được khoa học biết đến. Tất cả những người trông thấy nó đều khẳng định một điều: Đấy là bóng ma có kích thước khổng lồ, người toả sáng và trông rất quái đản. Tôi tìm hỏi những người này. Họ gồm ba người: vị láng giềng của chúng tôi, một người có cái nhìn đối với mọi vật rất tỉnh táo, người thợ rèn địa phương và một điền chủ. Tất cả họ, khi kể về bóng ma kỳ lạ nọ hầu như đều nhắc lại việc mô tả con chó được nói tới trong truyền thuyết. Hãy tin tôi, ông Hôm, nỗi khiếp đảm thống trị tất cả chúng tôi và không ai dám vào khu đầm lầy vào ban đêm, có chăng chỉ những người táo bạo liều lĩnh nhất mới cả gan làm việc đó.

- Một nhà khoa học như ông lại tin vào hiện tượng siêu phàm này sao?

- Chính tôi cũng không rõ mình tin cái gì.

- Cho đến giờ hoạt động trinh thám của tôi chỉ diễn ra trong phạm vi của thế giới này – Hôm nói – Tôi đấu tranh với cái ác theo sức lực và khả năng khiêm tốn của mình; có điều chống lại chính ông tổ của cái ác thì đối với tôi sự thật là quá sức đấy. Tuy nhiên, ông sẽ không bắt đầu phủ nhận rằng vết tích trên sỏi là một cái gì rất hiện thực chứ?

- Cũng không thể cho rằng con chó là không hiện thực nếu nó đã có thể cắn chết người. Ở con chó có cái gì đấy rất ma quái.

- Tôi nhận thấy ông đã chuyển hẳn sang chỗ đứng của những nhà thần bí rồi đấy, bác sĩ Môrtimêrơ ạ! Vậy thì ông sẽ nói với tôi thế nào? Nếu ông đứng trên quan điểm ấy thì ông cần đến tôi để làm gì? Ông nói với tôi là việc tìm hiểu thực trạng cái chết của ngài Tsarlizơ là vô ích, và trong khi đó ông lại yêu cầu tôi nắm bắt lấy thực trạng của nó.

- Tôi chưa hề yêu cầu ông làm việc đó.

- Nếu thế tôi có thể giúp ông được gì?

- Bằng lời khuyên. Hãy nói cho tôi biết tôi cần xử sự với ngài Genri Baxkêrvili như thế nào? – Bác sĩ Môrtimêrơ nhìn đồng hồ – Một giờ mười lăm phút nữa ngài sẽ đến nhà ga Vatêriô.

- Đó là người thừa tự?

- Vâng. Sau khi ngài Tsarlizơ qua đời chúng tôi dò hỏi tin tức về ngài và phát hiện ra ngài đang điều hành kinh tế trong trang trại của mình ở Canađa. Phán đoán theo các ý kiến nhận xét thì đó là một người trẻ tuổi tuyệt vời, đáng kính trọng. Bây giờ tôi nói chuyện với ông không phải với tư cách một bác sĩ mà với tư cách một người được ngài Tsarlizơ tin cậy uỷ thác cho việc thực hiện di chúc.

- Không có người nào khác có kỳ vọng đoạt gia tài chứ?

- Không. Người họ hàng duy nhất khác mà chúng ta đã biết đôi nét về ông, đó là Rôđjiêrơ Baxkêrvili em trai của ngài Tsarlizơ bất hạnh. Có ba anh em tất cả. Người em giữa chết vào thời trai trẻ là cha của Genri, em út là Rôđjiêrơ trong gia đình bị coi là người tồi tệ nhất. Ông được độc quyền thừa kế tài sản của dòng họ Baxkêrvili, và là người giống chân dung dòng họ của Gugơ như hai giọt nước. Ở Anh Quốc, Rôđjiêrơ sống không quen và đã buộc lòng ẩn mình ở vùng Trung Mỹ nơi ông chết vào năm 1876 do bệnh sốt rét vàng. Genri là người nối dõi cuối cùng của dòng họ Baxkêrvili. Một giờ 5 phút nữa tôi sẽ phải gặp ngài ở sân ga Vatêrlô. Ngài báo là sáng hôm nay ngài đến Xautgêmptôn. Vậy đấy, ông Hôm ạ, ông hãy khuyên xem tôi với ngài cần ở đâu bây giờ?

- Vì sao ông ta không đến ngay thái ấp của dòng họ mình?

- Vâng, vấn đề ấy cũng nảy sinh trong suy nghĩ của tôi. Nhưng, xin nhớ rằng tất cả những người trong dòng họ Baxkêrvili sống ở đó đều chết một cách bi thảm. Trước khi chết, ngài Tsarlizơ đã nói là cấm chỉ tôi đưa người nối dõi cuối cùng của dòng họ xa xưa này đến chỗ khủng khiếp đó. Đồng thời không thể quên điều này: sự phát đạt của vùng ngoại vi nghèo nàn, buồn bã ấy của chúng tôi phụ thuộc vào chỗ ngài Genri có đồng ý sống ở thái ấp của mình hay không. Nếu lâu đài không có người ở thì tất cả những sáng kiến của ngài Tsarlizơ sẽ bị lãng quên. Tôi  e rằng mối quan tâm riêng của tôi đối với sự phát triển của địa phương chúng tôi sẽ không thắng nổi. Cho nên tôi đến đây nhờ ông khuyên bảo.

Hôm trầm ngâm suy nghĩ, cuối cùng anh nói:

- Tôi hiểu thế này: ông cho rằng sức mạnh tội lỗi nào đó làm cho Đarđmurơ trở nên khá nguy hiểm đối với dòng họ Baxkêrvili. Có đúng không?

- Dẫu sao cũng có một vài cơ sở để tin vào mối nguy hiểm như thế.

- Thôi được. Nhưng nếu lý thuyết về những sức mạnh siêu nhiên của ông là đúng thì chúng có thể huỷ diệt con người trẻ tuổi này không chỉ ở Đêvônsirơ mà còn ở cả Luân Đôn. Thật khó hình dung ra một con quỷ chỉ có uy lực trong phạm vị hẹp như thế. Bởi vì đây không phải là một bộ phận nào đấy của uy quyền giáo xứ.

- Nếu ông không có dịp gặp những hiện tượng ấy, ông Hôm, xin ông đừng bắt đầu cười cợt như thế. Theo ông, vậy là con người trẻ tuổi này không thể chịu số phận khác được, dù ở Đêvônsirơ hay ở Luân Đôn cũng vậy sao? Năm mươi phút nữa ngài sẽ đến. Hãy khuyên tôi nên làm gì?

- Tôi khuyên ông, thưa ông, hãy đi gọi xe mui mang theo con chó săn đang đứng ở cạnh cửa ra vào theo mình và đi đến nhà ga để đón ông Genri Baxkêrvili.

- Còn sau đó?

- Sau đó ông sẽ chờ đến khi tôi nghĩ ra kế hoạch hành động tiếp theo. Cho tới lúc đó xin ông đừng hỏi ông ta điều gì cả.

- Ông cần bao nhiêu thời gian để làm việc đó?

- Một ngày đêm. Tôi sẽ rất đội ơn ông, bác sĩ Môrtimêrơ ạ, nếu ông có mặt ở đây vào mười giờ sáng mai và đưa ông Genri Baxkêrvili cùng đi. Tôi cần làm quen với ông ta.

- Được, ông Hôm ạ!

Ông ta ghi lại ngày và giờ của cuộc gặp gỡ trên cổ tay áo, rồi lơ đễnh nhìn quanh và bước nhanh ra khỏi phòng.

Hôm gọi giật ông ta từ đầu cầu thang:

- Còn một vấn đề nữa, bác sĩ Môrtimêrơ, ông có nói là bóng ma đã xuất hiện ở đầm lầy vào buổi sớm phải không?

- Vâng, cả ba người đều kể như vậy.

- Sau khi ngài Tsarlizơ chết thì không có gì nữa chứ?

- Tôi không biết, tôi không nghe thấy gì nữa.

- Cám ơn ông. Chúc ông mọi sự tốt lành.

Hôm ngồi xuống chỗ mình ở góc đi văng mỉm cười điềm tĩnh và hài lòng, nụ cười đó thường hiện trên gương mặt anh khi có một nhiệm vụ xứng đáng nào đó đặt ra cho mình.

- Anh đi chứ, Oátxơn?

- Được thôi, nếu tôi không thể giúp được anh điều gì.

- Không, bạn thân mến ạ, tôi sẽ nhờ anh giúp sức khi cần bắt tay vào hành động. Vụ án thật tuyệt vời! Có quan hệ với hàng loạt sự kiện. Khi qua Brêđli anh nhớ rẽ vào chỗ ông ta và yêu cầu ông chuyển cho tôi một phuntơ thuốc loại nặng nhất ấy. Cám ơn ông ấy trước. Gắng đừng trở về trước buổi tối đấy! Và khi đó tôi sẽ vui sướng trao đổi cùng anh về những cảm tưởng của nhiệm vụ vô cùng thú vị đặt ra trước chúng ta vào sáng nay.

Sự cô độc và yên tĩnh cần thiết cho người bạn tôi vào những giờ phúc căng thẳng của lao động trí óc khi anh cân nhắc mọi chi tiết nhỏ nhất của vụ án, thiết lập giả thuyết này đều giả thuyết khác, đối chiếu chúng với nhau và đi đến khẳng định những thông tin nào là căn bản và có thể xem nhẹ thông tin nào. Bởi vậy, tôi ở câu lạc bộ suốt cả ngày và trở về phố Bâykơ lúc 9 giờ tối.

Tôi đẩy cửa phòng khách và cảm thấy hoảng hốt -  ở nhà chúng tôi có hoả hoạn chăng? Bởi vì trong phòng đầy khói, ngọn lửa đèn dầu lập lòe hơi choán lấy anh một chút. Nhưng không cần sự cứu giúp của tôi: mùi hăng hăng của thứ thuốc lá rẻ tiền và nặng nhất đã xộc vào mũi khiến tôi ngay tức khắc thấy ngột ngạt. Xuyên qua bức màn khói tôi nhận ra Hôm đang ngồi thoải mái trong ghế bành. Anh mặc áo dài, môi ngậm chặt chiếc tẩu thuốc bằng gốm màu xám đen của mình. Xung quanh anh bày la liệt những cuộn giấy gì đó.

- Bị cảm lạnh sao Oátxơn?  - Anh hỏi.

- Không. Quả thật cái thứ hương trầm có chất độc này thật khó thở.

- Vâng, hình như anh nói đúng. Có hơi nhiều khói thuốc ở đây.

- Hơi nhiều sao! Chẳng thể thở nổi!

- Vậy thì hãy mở cửa sổ ra. Tôi thấy anh suốt ngày ở câu lạc bộ?

- Hôm, bạn yêu quý!

- Có đúng không?

- Tất nhiên là đúng, nhưng như anh…

Anh nhìn vào bộ mặt bối rối của tôi và phá lên cười.

- Sự hồn nhiên của anh, Oátxơn ạ, quả là đáng khâm phục! Nếu anh biết được tôi sảng khoái như thế nào khi qua anh để kiểm tra trí lực khiêm tốn của mình! Trang quân tử từ nhà ra đi vào thời tiết ảm đạm có mưa. Buổi chiều anh ta trở về sạch sẽ không có lấy một vết bẩn. Cái mũ lễ và đôi giầy cao cổ ở anh ta vẫn sáng loáng như trước. Quả thật là anh ta đã ngồi lì suốt ngày ở đâu đó. Anh ta không có những người bạn thân thiết. Vậy, anh ta ở đâu? Phải chăng điều này đã quá rõ ràng?

- Đúng, rất rõ ràng.

- Trên đời này đầy rẫy những điều hiển nhiên như thế, vậy mà không mấy ai nhận ra chúng. Anh nghĩ thế nào, tôi đã ở đâu?

- Anh cũng ngồi lì suốt ngày phải không?

- Ồ không.Tôi đã kịp đến Đêvônsirơ.

- Đến trong tâm tưởng?

- Hoàn toàn đúng. Cơ thể của tôi ở lại đây trên chiếc ghế bành này, buồn quá, tôi đã kịp uống hai ấm cà phê lớn và hút hết một khối lượng thuốc lá cực kỳ lớn. Anh vừa ra khỏi nhà, tôi đã phải tới Xtênphirđơ để lấy tấm bản đồ khu đầm lầy Đartmurơ. Tâm hồn tôi đi lang thang khắp khu này suốt cả ngày. Tôi tự an ủi hy vọng là bây giờ tôi đã nắm vững được những chỗ ấy đến mức độ cần thiết.

- Bản đồ tỉ lệ lớn phải không?

- Vâng, rất lớn – Anh giở một phần tấm bản đồ này ra và đặt nó lên đầu gối – Đây chính là khu vực khiến chúng ta lưu tâm, ở giữa là lâu đài Baxkêrvili.

- Bao quanh lâu đài là rừng?

- Rất đúng. Ở đây con đường nhiều bóng cây không được nổi rõ, nhưng tôi cho rằng nó ở bên phải song song với khu đầm lầy. Đây là khu nhà nhỏ chính là làng Grimpenơ, nơi đóng bản doanh của người bạn chúng ta, bác sĩ Môrtimôrơ. Anh thấy đấy, cách năm dặm bao quanh đó rất ít thấy cư dân sinh sống. Còn đây là biệt thự Lêphtơrơ mà bác sĩ Môrtimêrơ có nhắc đến; ở đây chắc có căn nhà của nhà tự nhiên học Xteplôn ở, nếu tôi nhớ không sai họ của ông ta. Còn đây là hai trang trại: “Các cột đá”  “Đầm lầy ẩm ướt”. Cách các trang trại này 14 dặm có nhà tù khổ sai Prinxtaunơ. Cảnh hoang vắng trải ra giữa các điểm riêng rẽ này và bao quanh chúng đã tước đi dấu hiệu sự sống của khu đầm lầy. Đấy là sân khấu nơi tấn bi kịch này đã được trình diễn và rất có thể sẽ được trình diễn lại một lần nữa nhờ sự giúp đỡ của chúng ta.

- Đúng vậy, chỗ đó rất hoang dã.

- Sân khấu được dàn xếp như không thể tốt hơn thế. Nếu như con quỷ thật sự mong muốn ngăn cản công việc của con người…

- Nghĩa là anh cũng có khuynh hướng nhận ra một sức mạnh siêu tự nhiên trong tất cả những cái đó?

- Chẳng lẽ những kẻ tiếp tay cho con quỷ lại không được phủ bằng thịt và máu? Để bắt tay vào việc, chúng ta cần phải giải quyết hai câu hỏi: thứ nhất, ở đây có tội ác không? thứ hai, tội ác ở đâu và nó được tiến hành như  thế nào? Cố nhiên, nếu bác sĩ Môrtimêrơ dự đoán đúng và ở đây chúng ta phải đương đầu với những sức lực nằm ngoài quy luật của tự nhiên thì lúc ấy chúng ta buộc lòng phải hạ vũ khí. Nhưng trước khi yên tâm về điều đó, chúng ta cần kiểm tra đến cùng tất cả các giả thuyết khác. Hãy đóng cửa sổ lại nếu anh không phản đối. Hình như đó là điều quái dị, nhưng theo tôi, sự tập trung của khói thuốc lá sẽ hỗ trợ cho sự tập trung của tư duy. Tôi còn chưa tới mức chui vào hòm trong thời gian suy nghĩ, nhưng kết luận lô gích rút ra từ lý thuyết của tôi chính là như thế. Mà anh đã kịp nghĩ về vụ án này chưa?

- Suốt cả ngày nó không rời khỏi đầu tôi.

- Anh đã đi đến kết luận như thế nào?

- Câu chuyện quả rắc rối.

- Đúng, câu chuyện rất độc đáo, đặc biệt là trong một vài chi tiết. Ví như đặc điểm thay đổi của các vết chân. Anh giải thích điều này thế nào?

- Bác sĩ Môrtimêrơ nói là hình như ngài Tsarlizơ đi nhón chân trên một phần của con đường.

- Ông ấy chỉ nhắc lại lời nói của một kẻ ngu dốt nào đó thốt ra vào thời điểm điều tra. Vì sao người này lại thấy cần đi nhón chân trên đường.

- Vậy sự thật ra sao?

- Ông ta chạy, Oátxơn ạ. Ông ta thoát nạn và ba chân bốn cẳng chạy. Ông ta chạy và đồng thời tim của ông ta không chịu đựng được. Ông ta ngã và chết.

- Thoát nạn?  Vậy mối đe doạ từ ai?

- Tất cả vướng mắc là ở đó. Cứ xét theo một vài cứ liệu thì Tsarlizơ Baxkêrvili trước khi chạy đã mất trí vì sợ hãi.

- Tại sao anh nghĩ như thế?

- Cái khiến ông sợ hãi di chuyển tới chỗ ông từ khu đầm lầy – Nếu tôi không lầm – Mà nếu tất cả đều diễn ra như tôi dự đoán, thì chỉ có người mất trí mới có thể chạy không phải tới nhà mình mà ngược lại. Người Digan trong bản điều tra có nói rằng, ngài Tsarlizơ có kêu cứu, thế nhưng ông ta lại chạy về hướng ít hy vọng giúp đỡ hơn tất cả. Sau đó, còn một bí ẩn nữa: ông ta chờ ai vào buổi chiều hôm đó và tại sao cuộc gặp gỡ lại cần bố trí trên con đường nhiều bóng cây ấy mà không phải ở trong nhà?

- Anh cho rằng ông ta chờ một ai đó?

- Anh thử nghĩ mà xem: một người đứng tuổi bệnh tật đi dạo chơi vào buổi tối – Không có gì đáng ngạc nhiên về chuyện đó cả. Thế nhưng ngày hôm ấy ẩm ướt và lạnh lẽo. Như bác sĩ Môrtimêrơ khi để ý tới tàn thuốc lá đã khẳng định là ông ta đứng ở cạnh cửa hàng giậu năm thậm chí mười phút. Ông ta cần đứng vô ích ở đó để làm gì. Nhân thể nói thêm, ông ấy không thể từ chối việc quan sát, điều đó thật lạ lùng.

- Ông Tsarlizơ tiến hành những cuộc dạo chơi như thế hàng ngày vào các buổi tối.

- Và mỗi buổi tối, ông ta lại dừng lại ở cạnh cửa hàng giậu phải không? Chưa chắc. Ngược lại, có các cuộc gặp gỡ mà ông Tsarlizơ đã gắng giữ mình đứng cách xa khu đầm lầy. Còn đêm hôm đó ông ta chờ một người ở đây. Đó là đêm trước chuyến đi Luân Đôn đã định sẵn của ông. Hãy nhìn xem, Oátxơn, như tất cả đã đâu vào đấy – mắt xích này tới mắt xích khác. Còn bây giờ hãy làm ơn chuyển cho tôi cây đàn viôlông, chúng ta hãy gác bất kỳ sự lo lắng nào về vụ án này sang một bên với hy vọng là cuộc viếng thăm của bác sĩ Môrtimêrơ và ngài Genri Baxkêrvili sẽ đem lai những chất bồi bổ mới giúp ích cho suy nghĩ của chúng ta.

 

CHƯƠNG IV

NGÀI GENRI BAXKÊRVILI

 

           Chúng tôi ăn cơm sáng sớm hơn và Hôm choàng áo dài chuẩn bị đón tiếp các vị khách đến thăm. Các khách hàng của chúng tôi không chậm trễ đến một phút. Khi đồng hồ đánh mười tiếng, bác sĩ Môrtimêrơ cùng nam tước trẻ tuổi, vóc dáng không lớn, vạm vỡ và chắc nịch, ông ta gây một ấn tượng về một người khoẻ mạnh và rất linh hoạt: gương mặt ông biểu lộ một cái gì ương ngạnh, cặp mắt nâu sẫm dưới hàng lông mày đen rậm nhìn thẳng vào chúng tôi. Bộ complê màu da lươn cắt theo kiểu thể thao và nước da ngăm đen dạn dày sương gió nói về một con người tuyệt đối không ưa ru rú ở nhà mà hoàn toàn ưa làm lụng. Đồng thời, phong thái điềm tĩnh, tự tin chứng tỏ ông là một trang nam nhi chân chính.

- Ngài Genri Baxkêrvili – Bác sĩ Môrtimêrơ giới thiệu ông với chúng tôi.

- Đây chính là ông Hôm? – Vị nam tước hỏi – Thật là thú vị, ông Hôm, nếu bạn tôi không đề nghị đến thăm ông, thì tôi cũng sẽ đến chỗ ông theo sáng kiến của mình. Người ta nói rằng ông biết giải những bí ẩn khác nhau, và vì vậy sáng nay tôi bị đẩy đến đây không ngoài mong muốn của tôi.

- Mời ngài ngồi xuống đây, ngài Genri. Nếu tôi hiểu ngài không sai thì trong chuyến đi đến Luân Đôn này có một cái gì đó không hoàn toàn bình thường đã xảy ra với ngài?

- Tôi không đem lại cho chuyến đi ý nghĩa gì đặc biệt, ông Hôm ạ. Chắc có lẽ một ai đó đã cười cợt tôi. Nhưng sáng nay tôi nhận được lá thư này miễn là nó đáng được gọi bằng cái tên tương tự.

Ông ta đặt phong bì lên bàn và chúng tôi bắt đầu xem xét nó. Phong bì rất bình thường, làm từ giấy xám. Địa chỉ “Khách sạn Nôrxambêrlenơ”, “Ngài Genri Baxkêrvili” được viết bằng chữ cái in lớn. Trên dấu bưu điện có hàng chữ “Tseringơ – Krôxơ” và thời gian chuyển – chiều ngày hôm trước.

- Không một ai đó biết là ngài đã dừng lại ở khách sạn Nôrxambêrlenơ? – Hôm hỏi sau khi đưa cái nhìn tò mò về phía vị khách của chúng tôi.

- Không ai biết. Tôi quyết định nơi nghỉ chân chỉ sau khi gặp bác sĩ Môrtimêrơ.

- Nhưng bác sĩ Mêrtimêrơ rõ ràng cùng nghỉ chân ở đó?

- Không, tôi sống ở chỗ những người quen – Bác sĩ nói – Không một ai có thể biết là chúng tôi sẽ đến khách sạn này.

- Chà! Nghĩa là có ai đấy rất quan tâm với việc đi lại của các ông.

Hôm rút từ phong bì ra một tờ giấy gập làm tư, giở ra và đặt nó lên bàn. Ở giữa trang giấy chỉ có một câu duy nhất được lập nên bằng những chữ in dán từ chữ này đến chữ khác có nội dung như sau:

Nếu lý trí và cuộc sống còn quý giá đối với ngài thì hãy ở cách xa khu đầm lầy than bùn”. Các chữ “khu đầm lầy than bùn” được viết tay và bằng mực.

- Thế đấy, ông Hôm – Ngài Genri Baxkêrvili nói – Nếu có thể ông sẽ giải thích cho tôi được biết tất cả điều đó có nghĩa là thế nào và ai đã biểu lộ sự quan tâm đối với những công việc của tôi như vậy?

- Ông sẽ nói sao,bác sĩ Môrtimêrơ? Lần này thì ở đó hình như không có cái gì siêu phàm chứ?

- Vâng, thưa ông, nhưngrất có thể lá thứ được chuyển bởi một người tin rằng tất cả chuyện đó hoàn toàn là siêu nhiên.

- Câu chuyện nào? – Ngài Genri đanh giọng hỏi – Các ông chắc có lẽ hiểu công việc của tôi còn rõ hơn nhiều so với chính tôi đấy!

- Chúng tôi sẽ thổ lộ với ngài tất cả, ngài Genri ạ. Không như vậy ngài sẽ đừng rời khỏi đây, hãy tin vào lời nói của tôi – Sơlốc Hôm nói – Còn bây giờ hãy trở về tài liệu rất lý thú, nó được thảo ra và bỏ vào thùng bưu điện chiều qua. Oátxơn, chúng ta có báo “Taimơ” ngày hôm qua không?

- Ở trong góc ấy.

- Tôi có thể an ủi ngài thế nào đây? Hãy cho tôi cái trang có bài xã luận ấy – Anh lướt mắt nhanh trên trang báo – “Tự do của ngành thương mại”… Bài xã luận tuyệt vời! Hãy cho phép tôi đọc thành tiếng một đoạn: “Nếu ai đó thuyết phục ngài rằng ngành công nghiệp mà ngài đang có mối quan tâm riêng nằm dưới sự che chở của giá bảo trợ thì ngài hãy ở cách xa những người như thế ra, bởi vì lý trí cần mách bảo ngài rằng một hệ thống tương tự rồi cuối cùng sẽ phá rối hàng xuất cảnh của chúng ta, sẽ phá vỡ cuộc sống yên lành của gia đình chúng ta mà các nhu cầu của cuộc sống gia đình ấy hãy còn quý giá đối với tất cả chúng ta”. Oátxơn, anh nghĩ như thế nào về chuyện đó? – Hôm thốt lên, xoa tay một cách vui sướng – Ý tưởng xuất sắc ấy không đúng hay sao?

Bác sĩ Môrtimêrơ nhìn Hôm như những bậc lương y nhìn những bệnh nhân mắc bệnh nặng. Còn ngài Genri Baxkêrvili thì đưa cặp mắt màu sẫm nhìn về phía tôi, vẻ phân vân.

- Tôi rất không am hiểu những vấn đề giá biểu như thế – Ngài Genri nói – Tuy nhiên, tôi cảm thấy chúng ta đã hơi đi ra ngoài vấn đề chúng ta đang quan tâm rồi đấy!

- Ngược lại! Chúng ta đang đi ngay liền sau đó, ngài Genri ạ! Phương pháp của tôi quen thuộc với Oátxơn hơn ngài, thế mà tôi vẫn e rằng ý tưởng của đoạn vừa đọc thậm chí vẫn lọt ra ngoài nhận thức của anh ấy.

- Vâng, xin thú thực là tôi vẫn chưa thấy mối liên hệ giữa nó với bức thư như thế nào?

- Oátxơn thân mến của tôi, mối liên hệ chặt chẽ biết bao! Về thực chất cái này được xào xáo từ cái kia. “Nếu” “Ngài” “ở cách xa” “lý trí”, “cuộc sống”, “quý giá”. Lẽ nào anh không đoán ra những lời đó được lấy từ đâu?

- Ôi, trời ơi! Tất nhiên ông có lý, lời dự đoán thật xuất sắc biết bao – Ngài Genri thốt lên.

- Nếu ngài không còn nghi ngờ gì nữa thì hãy chú ý tới các từ “ở cách xa” – Chúng được cắt liền mạch.

- Ôi, đúng, đúng vậy!

- Ông Hôm! – Bác sĩ Môrtimêrơ ngạc nhiên nhìn bạn tôi và nói – Ông có biết không, chúng tôi cũng không tưởng tượng được là có thể có những chuyện như vậy! Do đâu mà ông đoán ra những từ được cắt ra từ văn bản của bài báo. Nói là văn bản báo chí nói chung thì dễ, đây lại chỉ ra tờ báo mà các chữ này lấy từ đấy ra thì thật khó. Điều đó hơn bất cứ một trí tưởng tượng nào! Ông đoán ra thế nào vậy?

- Bác sĩ ạ! Tôi cho rằng ông có thể phân biệt được xương sọ của người da đen với xương sọ của người Exkimô chứ?

- Tất nhiên, có thể.

- Bằng cách nào?

- Điều đó tuỳ vào khuynh hướng của tôi. Sự khác biệt giữa chúng rất rõ. Vòng cung phần trên lông mày, nét gãy của mặt, sự cấu tạo của hàm…

- Còn tôi cũng có khuynh hướng của mình. Theo cái nhìn của tôi thì sự khác nhau giữa Bôrgêxơ và Spônơ được bài xã luận báo “Taimơ” tập hợp với kiểu chữ lem nhem của các tờ lá cải rõ rệt không kém bằng sự khác nhau giữa người da đen và người Exkimô như ông vừa nói. Sự hiểu biết về các kiểu chữ in typô là một trong những yêu cầu sơ đẳng với người thám tử, mặc dầu cũng cần thú nhận là lúc còn trẻ tôi đã có lần nhầm lẫn giữa “Lindxơ Merkurie” với “Tin tức buổi sáng”. Thế nhưng không thể nhầm lẫn giữa xã luận của “Taimơ” với bất cứ tờ báo nào, những chữ này chỉ có thể được cắt ra từ đó. Bức thư được chuyển vào hôm qua. Vậy chúng ta trước tiên cần xem số báo ngày hôm qua.

- Ông Hôm! - Ngài Genri nói – Thế nghĩa là một ai đó đã thảo bức thư này sau khi đã cắt rời bằng kéo…

- Bằng kéo sửa móng tay – Hôm ngắt lời ông ta – Ngài hãy chú ý xem đoạn cắt ở chúng ngắn đến mức nào? Để cắt các từ “ở cách xa” phải tiến hành hai nhát cắt.

- Hoàn toàn đúng. Một người nào đấy đã cắt các chữ này bằng kéo với đoạn cắt ngắn và dán chúng…

- Bằng gôm Ả Rập! – Hôm nhắc.

- … và dán chúng bằng gôm Ả Rập trên giấy. Nhưng vì sao những chữ “khu đầm lầy có than bùn” lại viết bằng tay.

- Bởi vì tác giả bức thư không tìm được chúng trên báo. Tất cả những từ còn lại rất bình thường, có thể bắt gặp ở bất kỳ một văn bản nào. Còn các từ này rất hiếm khi bắt gặp.

- Lời giải thích rất giống với sự thật. Ông còn có thể đọc được điều gì ở đây nữa, ông Hôm?

- Có thể thu được một cái gì đó nữa mặc dầu tác giả của lá thư đã gắng huỷ tang chứng nhỏ nhất. Như ngay các ông cũng có thể thấy địa chỉ được viết bằng chữ cái in lớn. Tờ báo như “Taimơ” hiếm khi rơi vào tay những người bình thường. Quả là từ đó có thể rút ra kết luận, lá thư được một người có học thức thảo ra, nhưng người ấy lại gắng bộc lộ mình là người thiếu học thức bằng cách cố ý thay đổi nét chữ, chắc có lẽ e sợ rằng biết đâu ngài lại không nhận ra người viết, nếu không vào lúc này thì sau này. Ngoài ra cần chú ý điều này: các chữ dán không được khéo. Một vài chữ trồi lên trên hàng kẻ. Chẳng hạn chữ “cuộc sống” nằm hoàn toàn không ngay ngắn. Điều này chỉ ra tính không cẩn thận của tác giả bức thư có thể do lo lắng và vội vã. Tôi có thiên hướng cho rằng chỉ có kẻ lầm lỗi mới lo lắng và vội vã, bởi vị tất người này lại biểu lộ tính thiếu cẩn thận của mình trong một công việc có lẽ là nghiêm trọng như thế. Nếu quả là vội vàng thì thật là lạ khi biết một nguyên cớ như vậy. Bởi vì bức thư được gửi vào hôm qua cần bằng mọi cách để đến tay ngài Genri ở khách sạn. Có thể tác giả của bức thư sợ có sự cản trở nào đó chăng? Nhưng sự cản trở từ ai vậy?

- Hình như chúng ta bước vào lãnh vực của những giả định – Bác sĩ Môrtimêrơ nhận xét.

- Đúng hơn là lãnh vực mà tất cả những khả năng đều được cân nhắc để chọn lựa một khả năng gần với sự thật nhất. Sự vận dụng một cách khoa học sức mạnh của trí tưởng tượng luôn hoạt động ở các chuyên gia trên cơ sở tư liệu chắc chắn là như vậy. Tất nhiên ông sẽ coi điều tôi nói là giả định thuần tuý, nhưng hầu như tôi tin rằng địa chỉ được viết tại một khách sạn nào đấy.

- Vì lẽ gì ông nghĩ như thế?

- Hãy xem xét phong bì một cách chăm chú hơn nữa thì ông sẽ nhận ra rằng người viết đã không gặp may khi dùng những phương tiện để viết: ngòi bút phải hai lần chấm vào lọ mực để viết địa chỉ ngắn như vậy. Nghĩa là mực ít đến mức  bám tận đáy lọ. Ít khi bút và mực rơi vào tình trạng ấy. Đây là một trường hợp đặc biệt hiếm có. Thế nhưng, như ông biết đấy, ở các khách sạn thì hầu như không có bút khác và mực khác. Vâng, tôi hầu như không lưỡng lự mà cho rằng nếu ông kiểm tra tất cả các sọt giấy lộn trong tất cả các khách sạn gần Tseringơ – Krôxơ thì sẽ tìm thấy ở đó những mẩu xã luận “Taimơ” bị cắt rời và chúng ta lập tức tìm ra tác giả của bức thư kỳ lạ này… Ối! Ối! Cái gì thế này?

Hôm bắt đầu chăm chú nhìn vào trang giấy có các từ được dán trên đó, cầm nó cách mắt chừng 1 – 2 tấc Anh.

- Cái gì vậy?

- Không, không có gì cả – Hôm nói và đặt lá thư lên bàn – Tờ giấy rất phẳng phiu thậm chí không có những vết xước nữa. Không, chúng ta đã vắt từ bức thư thú vị này tất cả những gì có thể khai thác rồi. Còn bây giờ, ngài Genri, hãy kể bất kỳ một điều gì đã xảy ra với ngài từ khi ngài đến Luân Đôn đi!

- Không, ông Hôm, hình như không có gì xảy ra cả.

- Không có ai rình và theo dõi ngài sao?

- Hình như tôi sa vào cuốn tiểu thuyết trinh thám nào đó rồi – Vị khách của chúng tôi nói – Trong óc ai có thể lởn vởn ý định theo dõi tôi vậy?

- Hãy cho tôi thời hạn chúng ta sẽ bàn bạc về chuyện đó. Còn bây giờ hãy nghĩ đi, lẽ nào ngài không thấy cần thiết kể cho chúng tôi nghe về một điều gì chăng?

- Tuỳ thuộc ở chỗ ông cần chú ý tới điều gì?

- Tất cả những điều diễn ra ngoài phạm vị nếp sống bình thường, dưới hình thức này hay hình thức khác.

Ngài Genri mỉm cười.

- Hầu như tất cả tuổi thơ và tuổi thanh xuân của tôi trôi qua ở Mỹ và Canađa, bởi vậy nếp sống ở Anh còn mới lạ đối với tôi. Nhưng chưa chắc ông coi là trật tự thông thường khi một người tự nhiên mất một chiếc giày.

- Ông mất một chiếc giày?

- Bạn tôi – Bác sĩ Môrtimêrơ thốt lên – Quả thật người ta đã chú ý lấy giày của ngài! Rồi sẽ tìm ra thôi! Có nên làm cho ông Hôm để ý vì những chuyện nhỏ nhặt như vậy không?

- Nhưng vì ông ấy hỏi có cái gì khác thường xảy ra với tôi hay không.

- Hoàn toàn đúng – Hôm nói – Mỗi điều vặt vãnh tưởng như vô nghĩa cũng khiến tôi quan tâm. Nghĩa là ngài mất giày?

- Vâng, nhưng có thể có người chủ ý lấy nó thật. Buổi tối qua tôi đặt đôi giày ở cửa ra vào, sáng dậy ở đó chỉ còn một chiếc. Tôi không tìm được câu trả lời rành rọt từ những người ở khu hành lang. Đáng tiếc hơn cả là tôi mới mua đôi này vào ngày hôm trước ở Xtrênđơ, thậm chí chưa kịp tân trang nó.

- Ngài tân trang đôi giày mới? Để làm gì vậy?

- Đôi giày màu nâu sáng, cho nên tôi có ý định đánh xi đen.

- Vậy là đến Luân Đôn ngài đi mua giày ngay?

- Nhìn chung tôi đi khắp các cửa hàng. Bác sĩ Môrtimêrơ mời tôi nhập bọn. Kể ra một người được nhận định là chủ nhân của một thái ấp lớn cũng cần ăn mặc cho phù hợp. Còn tôi thì có hơi xem thường cách ăn mặc của mình khi sống ở phương Tây. Đôi giày này được mua với giá 6 đôla cùng một số đồ dùng khác. Và thế là tôi đã không phải mang nó.

- Nếu đó là chuyện mất cắp thì hoàn toàn chẳng có gì đáng suy nghĩ – Sơlốc Hôm nói – phải thừa nhận là tôi đồng ý với bác sĩ Môrtimêrơ: chiếc giày của ngài sẽ mau chóng được tìm thấy.

- Và bây giờ, hỡi các trang quân tử – Nam tước nói một cách quả quyết – tôi rất suy nghĩ về cái điều mà đến giờ tôi chưa được rõ. Ông cần giữ lời hứa của mình, và cần giải thích cho tôi được biết tất cả những câu chuyện này hướng tới cái gì?

- Đòi hỏi thật chính đáng – Hôm đồng ý – Bác sĩ Môrtimêrơ, theo tôi, ông cần tự mình kể cho ngài Genri đây nghe những gì ông đã kể cho chúng tôi.

Được khích lệ bởi yêu cầu này, người bạn khoa học của chúng tôi rút từ túi ra bản chép tay và tờ báo, rồi nhắc lại y nguyên câu chuyện hôm qua của mình. Ngài Genri lắng nghe với sự chú ý sâu sắc, thỉnh thoảng ông ta ngắt lời bác sĩ bằng những tiếng kêu kinh ngạc. Khi câu chuyện được chấm dứt, ông ta nói:

- Ôi! Tôi đoạt được gia tài hay ho như vậy đấy! Về con chó, cố nhiên vào thời thơ ấu tôi có được nghe nói. Người ta ưa kể huyền thoại này trong gia đình chúng tôi, mặc dầu cho đến lúc này tôi vẫn không thấy trong đó một ý nghĩa nào. Còn điều liên quan đến cái chết của người bác rối tung trong đầu tôi tới mức tôi không sao hiểu nổi được. Vâng, theo tôi, ngay cả ông cũng chưa biết cần hướng tới ai để giúp đỡ – tới linh mục hay tới cảnh binh.

- Rất đúng.

- Giờ đây lại lá thứ mà tôi mới nhận được. Chắc có lẽ nó liên quan như thế nào đấy tới tiến trình chung của các sự kiện.

- Vâng, nếu phán đoán theo lá thư thì một người nào đó biết rõ hơn ngài về cái điều đang diễn ra ở khu đầm lầy than bùn – Bác sĩ Môrtimêrơ nói.

- “Một người nào” ấy rất có thể cảm tình với ngài – Hôm nói – Nếu ông ta muốn báo cho ngài biết trước mối nguy hiểm.

- Cũng có thể ngược lại “một người nào” ấy cảm thấy có lợi nếu xua đuổi được tôi ra khỏi lâu đài Baxkêrvili?

- Điều đó cũng không thể loại trừ… Tôi rất biết ơn ông, bác sĩ Môrtimêrơ ạ, vì ông đã trao cho tôi nhiệm vụ phức tạp và lý thú này. Nhưng bây giờ, ngài Genri ạ, cần đi vào thực chất của vấn đề: Ngài có đi đến lâu đài Baxkêrvili hay là không thể đi đến đó?

- Tại sao tôi lại không đi đến đó kia chứ?

- Rất có thể điều này khá nguy hiểm.

- Mối nguy hiểm này phát sinh từ đâu – Từ con ngáo ộp của gia đình chúng tôi hay từ những người khác?

- Đó là điều chúng ta cần giải thích.

- Dù ở đấy có xảy ra chuyện gì, nhưng câu trả lời của tôi sẽ là thế này: không một thế lực ác độc nào, không một mưu kế quỷ quyệt nào của con người có thể kìm chân tôi ở đây được. Tôi sẽ đến ngôi nhà của tổ tiên mình. Điều đó là hoàn toàn dứt khoát – Đôi lông mày sẫm của ông ta nhíu thành một đường dài, da mặt đỏ ửng lên. Tính bất trị của dòng họ Baxkêrvili biểu hiện rõ rệt trong người kế tục cuối cùng này của họ – Tôi còn chưa kịp cân nhắc kỹ càng về cái điều tôi có dịp nghe từ ông. Không dễ dàng thấu hiểu ngay tất cả và quyết định ngay tất cả được.Tôi muốn khuây khoả chút ít và sẽ suy nghĩ kỹ về tất cả chuyện đó vào lúc rảnh rỗi. Ông Hôm, bây giờ là 11 giờ rưỡi. Tôi sẽ đi thẳng về khách sạn. Ông và bạn ông –bác sĩ Oátxơn tới chỗ chúng tôi ăn sáng vào lúc 2 giờ được không? Đến thời điểm đó dẫu sao tôi cũng sẽ quyết định được một cái gì đấy.

- Ý anh thế nào, Oátxơn?

- Hoàn toàn sẵn lòng.

-Vậy thì chúng tôi sẽ đến. Gọi xe mui cho các ông chứ?

- Không, tốt hơn cả là đi bộ. Tôi sẽ trấn tĩnh lại chút ít sau câu chuyện của chúng ta.

- Tôi rất hài lòng được gắn bó với ông – Người bạn đường của nam tước nói.

- Nghĩa là vào lúc 2 giờ chúng ta sẽ được gặp nhau. Trước buổi gặp mặt sắp tới, xin chúc các ông mọi sự tốt lành.

Khi nghe thấy những người đến thăm đã đi theo bậc cầu thang xuống phía dưới, chúng tôi đóng sầm cửa ra vào lại. Trong chớp nhoáng, Hôm đã thay đổi hẳn – Tính uể oải ở anh không còn nữa, anh lại trở thành con người hành động.

- Mặc áo quần vào, Oátxơn, mau lên! Không nên phí một giây nào cả.

Vừa cởi áo dài ra, anh vừa nhanh chóng đi về phòng mình, và 2, 3 phút sau anh trở lại với chiếc áo khoác ngoài.

Chúng tôi theo cầu thang chạy xuống phía dưới ra ngoài phố. Bác sĩ Môrtimêrơ và Genri Baxkêrvili hiện ra ở phía trước cách chúng tôi chừng 200 bước. Họ hướng tới phố Ôcxphôrđơ.

- Đuổi kịp họ chăng?

- Trong trường hợp này ư, bạn của tôi? Nếu anh không chán tôi thì tôi sẽ ở với anh lâu hơn. Những người bạn của chúng ta nói đúng. Dạo chơi vào một buổi sáng như thế này thật là sảng khoái.

Anh rảo bước và khoảng cách giữa chúng tôi với những vị khách mới đây của chúng tôi giảm dần, giảm dần chỉ còn bằng nửa so với trước. Tiếp tục giữ đúng cự ly này, chúng tôi bám theo họ đến phố Ôcxphôrđơ và sau đó là phố Riđjiêntơ. Cạnh một cửa hàng, ngài Genri và bác sĩ Môrtimêrơ dừng lại xem tủ trưng bày. Hôm cũng dừng lại. Một loáng sau anh đột nhiên kêu lên sung sướng. Dõi theo hướng nhìn của anh, tôi nhận thấy một chiếc xe mui đứng ở góc kín của phố. Trong cửa sổ của nó hiện ra một hành khách. Chiếc xe chầm chậm tiến về phía trước.

- Đấy, cái cần thiết với chúng ta đấy, Oátxơn! Nào chúng ta sẽ gắng theo dõi con người này bằng mọi cách.

Đúng vào lúc trước mặt tôi trong ô cửa sổ bên hông của xe mui một chòm râu đen rậm rì ló ra thì có đôi mắt của ai đó sói vào chúng tôi bằng cái nhìn sắc như dao. Ngay lập tức chiếc cửa sổ nhỏ phía trên đóng sập lại, người hành khách kêu lên một tiếng gì đó với người đánh xe, và chiếc xe lao nhanh về phố Riđjiêntơ. Hôm nhìn quanh tìm xe ngựa chưa có khách, nhưng vô ích – xe nào cũng có người. Thế là anh cuống cuồng chạy vào đám người đang đi sau chiếc xe mui trên phố. Chiếc xe nhanh chóng mất hút.

- Quái quỷ! – Mặt mày tái nhợt vì bực tức, anh khó nhọc thốt lên sau khi rời khỏi đám người trên phố – Thế là không gặp may rồi! Đúng, trong chuyện này, chính tôi là người có lỗi. Oátxơn! Oátxơn! Nếu trong anh có dù chỉ chút xíu lòng lương thiện thì  hãy mang vào cuốn sử biên niên của mình sơ xuất này ngang hàng với những chiến công của tôi.

- Đó là người thế nào?

- Tôi không có ý niệm gì cả.

- Kẻ dò la bí mật phải không?

- Đúng, rõ ràng là có ai đó theo dõi Genri Baxkêrvili ngay từ khi ông ta đến Luân Đôn. Từ đó hắn biết được ông ta lưu lại ở khách sạn “Nôrxambêriênđơ”. Tôi phán đoán thế này: nếu đã theo dõi ông ta vào ngày đầu tiên thì hắn sẽ tiếp tục theo dõi ông ta vào ngày sau đó. Chắc anh có chú ý tôi đã hai lần đến gần cửa sổ vào lúc bác sĩ Môrtimêrơ đọc câu chuyện truyền thuyết chứ?

- Vâng, có nhớ.

- Tôi muốn để ý xem có ai lảng vảng ở cạnh nhà không, nhưng tôi không nhận ra một ai đáng khả nghi cả. Chúng ta đang có công chuyện với một kẻ thông minh, Oátxơn ạ. Tất cả điều này là rất nghiêm trọng, mặc dầu cho đến giờ tôi vẫn chưa được rõ ràng hoạt động ở đây là uy lực của cái thiện hay của cái ác. Tuy nhiên, tôi luôn luôn cảm thấy sự cản trở thường xuyên và sự tính toán chính xác của một ai đó. Khi những người bạn mới của chúng ta đi khỏi, ngay tức khắc tôi cuống cuồng đuổi theo họ với hy vọng sẽ phát hiện ra cái bóng khó nắm bắt của họ. Kẻ ranh mãnh nào quyết định không đi bộ  mà với xe mui, để trong mức độ cần thiết có thể lùi lại phía sau hoặc đuổi kịp họ mà không bị phát hiện ra. Phương pháp của hắn thuận lợi ở chỗ nếu họ có với xe mui thì hắn cũng theo dõi được họ. Thế nhưng trong phương pháp này cũng có một điểm yếu…

- Người điều khiển xe?

- Đúng vậy.

- Đáng tiếc là chúng ta không để ý đến số xe!

- Oátxơn thân mến ạ! Quả thật lần này tôi chẳng có gì đáng khen ngợi cả. Thế nhưng lẽ nào một phút nào đó anh lại cho rằng tôi đã không để ý đến số xe? Đây này: 2704. Vả chăng bây giờ chúng ta cần làm gì với  nó đây?

- Tôi không nhận ra là anh còn có thể làm được gì nữa.

- Sau khi nhận thấy hắn ta, đáng lý tôi cần mau chóng rẽ sang phía đối diện bình tĩnh vời xe mui và giữ một khoảng cách đáng kể để theo dõi. Tốt hơn cả là đi thẳng tới khách sạn và chờ những sự kiện tiếp theo ở đây. Còn người bí ẩn không quen biết này sẽ đưa tiễn Genri đến cửa và chúng ta nhờ sự giúp đỡ của phương pháp riêng của ông ta có thể theo dõi xem sau đó hắn sẽ biến đi đâu. Bây giờ đối thủ của chúng ta khéo léo lợi dụng sự vội vã không đúng lúc của tôi một cách đáng ngạc nhiên, vì sự vội vã này đã để lộ chúng ta và đã làm lạc hướng theo dõi của tôi.

Vào thời gian nói chuyện, chúng tôi chậm rãi đi theo phố Riđjiêntơ và không còn nhìn thấy bác sĩ Môrtimêrơ và người bạn đường của ông ta ở phía trước nữa.

- Giờ đây không còn ý nghĩ nào để theo dõi chúng cả – Hôm nói – Bóng của chúng đã biến mất và sẽ không xuất hiện nữa. Cần xem trong tay chúng ta có những con chủ bài nào để rồi bạo dạn sử dụng chúng. Anh có nhìn rõ bộ mặt của người trong xe mui không?

- Tôi không nhìn thấy mặt mà chỉ thấy râu.

- Tôi cũng … Từ đó mà suy ra bộ râu rất có thể là giả mạo. Khi một người thông minh bắt tay vào công việc mạo hiểm đòi hỏi cao tính cẩn trọng đặc biệt như thế này, hắn cần bộ râu giả để hoá trang. Từ đây rẽ đi đâu, Oátxơn?

Hôm rẽ vào một trong những văn phòng chạy giấy của vùng này. Người phụ trách đón anh rất niềm nở.

- Ôi, Uynxơn, tôi thấy ông đã không quên là tôi đã có may mắn giúp ông trong việc nhỏ bé ấy!

- Sao ông, lẽ nào có thể quên được điều đó? Tôi đội ơn ông bằng cái danh tiếng trung thực của mình và có thể bằng cuộc đời của mình nữa.

- Ông đánh giá quá cao đấy, bạn của tôi ạ! Nhân tiện nói thêm, Uynxơn này, tôi còn nhớ ông có một cậu bé tên là Kartraitơ. Vào thời gian điều tra vụ án của ông, cậu ta đã biểu lộ sự nhanh trí lạ lùng đấy chứ!

-Vâng, thưa ông, bây giờ chú ấy đang làm việc ở chỗ tôi.

- Không thể vời nó đến được chăng? Cám ơn ông. Ông làm ơn đổi cho tôi 5 bảng Anh này.

Sau tiếng gọi của người phụ trách, một cậu thiếu niên khoảng mười bốn tuổi với khuôn mặt thông minh và linh hoạt xuất hiện. Cậu bé đứng trước mặt chúng tôi và nhìn người thám tử danh tiếng với vẻ tôn kính.

- Hãy đưa cho ta cuốn sách hướng dẫn các khách sạn – Hôm nói – Cám ơn cháu, Kartraitơ này, đây là tên gọi 23 khách sạn vùng Tseringơ – Krôxơ. Thấy chưa?

- Vâng, thưa ông.

- Cháu hãy đi vòng quanh tất cả theo thứ tự nhé!

- Cháu nghe thấy rồi, thưa ông.

- Để bắt đầu cháu cho người gác cổng bằng seelinh. Đây 23 seelinh.

- Cháu nghe thấy rồi, thưa ông.

- Cháu hãy nói rằng cháu cần xem xét rác rưởi được thải ra hôm qua từ các thùng đựng rác. Hãy giải thích điều đó thế này: Cần tìm lại một bức điện tín rất quan trọng do lầm địa chỉ, cháu được sai bảo tìm kiếm nó. Hiểu chứ?

- Vâng, thưa ông.

- Nhưng thực tế là cháu sẽ tìm một trang báo “Taimơ” bị cắt một vài chỗ bằng kéo nhỏ. Đây là số báo “Taimơ” và  trang cần thiết. Cháu có thể phân biệt nó với những tờ báo khác được không?

- Vâng, thưa ông.

- Những người gác cổng  chắc chắn đưa cháu tới các hành lang. Cháu cho họ tiền. Cháu đưa 23 seelinh. Trong 20 từ 23 trường hợp đó có lẽ rác rưởi ở các sọt rác bị đổ hoặc bị đốt đi rồi. Nhưng trong 3 khách sạn còn lại, người ta sẽ chỉ cho cháu coi hàng đống giấy mà trong số đó cháu sẽ tìm thấy trang báo này. Rất ít có cơ hội thành công. Nhưng trong bất kỳ trường hợp nào ta cũng cho cháu 10 seelinh. Buổi tối cháu hãy chuyển điện đến cho ta ở phố Bâykơ xem công việc ra sao… Còn bây giờ, Oátxơn, tôi với anh đành phải lục hỏi theo điện thoại về chiếc xe mui mang số 2704, sau đấy chúng ta sẽ ngắm nhìn phòng trưng bày hội hoạ bất kỳ nào đấy ở phố Bônđơ và sẽ dùng thời gian còn lại cho đến bữa sáng ở đây.

 

CHƯƠNG V

BA SỢI CHỈ BỊ ĐỨT

 

Sơlốc Hôm có khả năng dứt bỏ ý nghĩ về vụ án đến mức  ngạc nhiên. Cả người anh rung động khi chiêm ngưỡng các bức tranh của các hoạ sĩ Bỉ hiện đại, và sau hai giờ chắc có lẽ anh vẫn không nhớ ngay tới câu chuyện lạ lùng đã cuốn hút chúng tôi bằng sức mạnh các tình tiết của nó. Suốt đoạn đường từ nhà trưng bày tranh đến khách sạn Nôrxamberlenđơ, anh toàn nói về hội hoạ, mặc dầu trình độ của anh trong lĩnh vực này cực kỳ sơ đẳng.

- Ngài Genri Baxkêrvili đang đợi các ông ở trên lầu – Người trực phòng ngoài nói với chúng tôi – Ngài yêu cầu đưa khách đến chỗ ngài ngay lập tức.

- Ông cho phép tôi coi danh sách khách trọ của ông được chứ? – Hôm hỏi.

- Xin mời ông.

Sau họ “Baxkêrvili”, trong cuốn sổ còn có hai dòng nữa: "Têôphiliux Đjiônxơn cùng gia đình từ Niu – Kaxlơ”  “Bà Ôlđmôrơ với nữ hầu từ Eltôn”.

- Cái ông Đjiônxơn này tôi có biết thì phải? – Hôm nói với người trực phòng – Ông ta là trạng sư tóc bạc và chân đi hơi khập khiễng phải không?

- Không, thưa ông, ông Đjiônxơn là chủ của những mỏ than, còn chưa già, chỉ trạc tuổi ông thôi.

- Ông dám chắc ông ta không phải là trạng sư?

- Tôi tin như vậy, thưa ông. Ông Đjiônxơn là khách trọ thường xuyên của chúng tôi. Không phải là năm đầu tiên chúng tôi biết ông ấy.

- Vậy à? Thế thì tôi không tranh luận nữa. Bà Ôlđmôrơ… Ở đâu đó tôi có nghe tới cái họ này rồi. Xin thứ lỗi cho tôi vì quá tò mo, nhưng đã có lần xảy ra thế này: muốn tìm thấy một người quen mà lại đi tìm một người khác.

- Bà Ôlđmôrơ là người đàn bà không được khoẻ mạnh, thưa ông. Có thời gian chồng bà là thị trường của Glôxtêrơ. Khi đến thành phố bà chỉ ở khách sạn của chúng tôi.

- Xin cảm ơn ông. Có lẽ tôi lầm bà ta với người phụ nữ khác… Những vấn đề này đã giúp chúng ta xác định một sự thực rất quan trọng, Oátxơn ạ! – Hôm tiếp tục thầm thì khi chúng tôi theo cầu thang lên gác – Bây giờ chúng ta mới rõ là những người chúng ta đang quan tâm không có ở đây. Có nghĩa là khi gắng theo dõi từng bước chân của ông ta (chúng ta đã biết điều này) chúng đã gắng không để vô tình lọt vào mắt ông ta. Điểm đó có nhiều ý nghĩa.

- Thí dụ?

- Chẳng hạn… Hêlô! Bạn của tôi, có gì xảy ra vậy?

Chúng tôi bước vào sân thượng và đụng phải ngài Genri Baxkêrvili ở đây. Ông ta chạy vào cầu thang trong tay cầm một chiếc giày cũ kỹ và bụi bặm, cả người đỏ bừng vì giận dữ. Lưỡi ông ta líu lại vì bực tức, và khi ông bật lên thành lời thì ngay tức khắc bị lẫn sang âm Bắc Mỹ một cách rõ rệt. Điều này lúc sáng chúng tôi không nhận thấy ở ông.

- Ở khách sạn này người ta lầm tôi với ai vậy? Với một thằng xuẩn ngốc chắc? – Ngài Genri bắt đầu la lên – Tôi không cho phép đùa giỡn tôi như vậy! Nếu thằng ngu ngốc ấy không tìm được chiếc giày của tôi thì sẽ mang tiếng xấu đối với tôi cho mà coi! Tôi cũng thích cười cợt chứ không phải không, ông Hôm ạ, nhưng lần này thì những kẻ ưa bỡn cợt ở đây đã hơi quá đà.

- Ngài đang tìm vật bị mất phải không?

- Vâng, đang tìm và tôi sẽ không bình tâm được chừng nào chưa tìm thấy.

- Nhưng, theo tôi, ngài đang nói về chiếc giày màu nâu sáng mới mua?

- Vâng, thưa ông, còn bây giờ là câu chuyện với chiếc giày đen.

- Thế đấy! Lẽ nào ngài sực nhớ ra và…

- Chính vậy! Tôi có tất cả ba đôi giày: một đôi mới màu nâu sáng, một đôi đen cũ kỹ và một đôi giày tây đánh xi mà tôi đang mang đây. Chiều qua, một chiếc giày nâu sáng bị mất. Còn hôm nay thì bị cuỗm chiếc giày đen. Ôi! Tìm thấy bằng cách nào đây! Hãy trả lời đi! Sao ông nhìn chằm chằm vào tôi như thế?

Nhân viên hầu phòng người Đức xuất hiện trên sân thượng với vẻ mặt lo ngại:

- Không, thưa ông. Tôi đã hỏi tất cả mọi người rồi, không ai mảy may biết gì cả.

- Vậy đấy, hãy nghe đây, hoặc là trong chiều nay anh tìm được chiếc giày của ta, hoặc là ta sẽ đến chỗ viên quản lý nói rõ với ông ấy là ta sẽ mau chóng rời khỏi đây.

- Chiếc giày sẽ được tìm thấy, thưa ngài…! Tôi xin hứa là chiếc giày sẽ được tìm thấy… Hãy kiên nhẫn một chút, thưa ngài!

- Nên nhớ đây là lần cuối cùng đấy. Ta sẽ không cho phép lấy cắp của ta trong cái ổ gian phi này của anh nữa đâu!... Ông Hôm, hãy thứ lỗi cho tôi vì tôi đã làm ông bận tâm bởi những chuyện vặt vãnh như thế…

- Vậy mà những chuyện vặt vãnh ấy lại đáng để chúng ta bận tâm đấy!

- Ông cho chúng nhiều ý nghĩa đến thế kia à?

- Chính ngài giải thích như thế nào về chuyện này?

- Tôi không có ý định giải thích. Trong cuộc sống, chưa bao giờ lại xảy ra với tôi một cái gì phi lý và quái lạ hơn thế.

- Không có cái gì quái lạ hơn sao… Đúng, đúng vậy – Hôm trầm ngâm nói.

- Bản thân ông sẽ nói gì về chuyện đó?

- Xin thú thật là tôi vẫn còn chưa hiểu. Câu chuyện còn rất rắc rối, ngài Genri ạ. Nếu gắn nó với cái chết của bác ngài thì trong số 500 vụ án tôi đã có dịp phanh phui, đây sẽ là vụ án phức tạp nhất. Thế nhưng, trong tay tôi đã có những manh mối, mà rồi một manh mối trong số đó tất nhiên sẽ đưa chúng ta đến lời giải đáp. Chúng ta có thể tiêu xài thời gian một cách vô ích để nắm lấy manh mối không cần thiết, nhưng rồi sớm hay muộn chúng ta cũng sẽ lần ra những manh mối cần thiết.

Sau bữa ăn, câu chuyện giữa chúng tôi diễn ra vô cùng thoải mái. Các vấn đề đưa bốn chúng tôi đến cuộc gặp mặt này chỉ hơi đụng đến mà thôi. Hôm chỉ báo những kế hoạch tiếp theo của Genri Baxkêrvili khi cả nhóm chúng tôi chuyển sang phòng trọ của ông ta.

- Tôi sẽ đến lâu đài Baxkêrvili.

- Khi nào?

- Cuối tuần.

- Tôi nghĩ quyết định của ngài là đúng đắn – Hôm nói –Giờ đây, tôi không chút hoài nghi là ở Luân Đôn việc theo dõi ngài đang được tiến hành. Tuy nhiên, ở một thành phố lớn như thế này thật khó lòng mà xác định họ là ai và họ cần gì ở ngài. Nếu họ hành động với những ý đồ xấu xa thì mối nguy hiểm mà chúng tôi không đủ sức ngăn ngừa đang đe doạ ngài … Bác sĩ Môrtimêrơ, ông có biết là sáng nay lúc các ông rời khỏi nhà tôi ai đã theo dõi các ông không?

Bác sĩ Môrtimêrơ nhổm phắt lên:

- Theo dõi? Ai vậy?

- Đáng tiếc là tôi không thể nói về điều đó được. Trong số những người láng giềng hoặc quen thuộc của ông ở Đartmurơ có ai râu đen và rậm không?

- Không … nhưng, gượm đã… mà tất nhiên… Viên quản lý của ngài Tsarlizơ, Berimôrơ có râu đen và rậm.

- Hừ! Vậy hiện giờ ông ta ở đâu?

- Ở lâu đài Baxkêrvili. Toà nhà đang được ông ta trông nom.

- Cần phải kiểm tra xem quả thật ông ta có ở đấy không hay là ở Luân Đôn.

- Biết làm gì được đây?

- Đưa cho tôi mẫu điện tín. “Đã chuẩn bị cho sự trở về của ngài Genri chưa?”. Chúng ta ghi địa chỉ thế này: “Lâu đài Baxkêrvili gửi ông Berimôrơ”. Bưu điện gần nhất ở chỗ ông là ở đâu? Grimpenơ phải không? Được lắm! Chúng ta sẽ chuyển bức điện thứ hai tới Grimpenơ theo tên của người phụ trách văn phòng: “Yêu cầu chuyển tận tay Berimôrơ theo địa chỉ được ghi trên bức điện. Nếu tình cờ vắng mặt hãy chuyển trở lại cho ngài Genri Baxkêrvili, khách sạn Nôrxamberlenđơ”. Thế là được rồi. Đến tối là chúng ta sẽ biết Berimôrơ có ở trại của mình tại Đêvônsirơ hay không?

- Thật tuyệt! - Ngài Genri nói – bác sĩ Môrlimêrơ này, nhân tiện hỏi thêm, cái tay Berimôrơ này là ai vậy?...

- Ông ta là con của viên quản lý thái ấp đã chết. Đó là thế hệ thứ tư của dòng họ Berimôrơ sống ở lâu đài Baxkêrvili. Tôi rất biết, ông và vợ ông là những người hoàn toàn đáng kính trọng.

- Tuy vậy, - Ngài Genri hỏi – Tôi cũng rất rõ là chừng nào lâu đài Baxkêrvili còn chưa có chủ thì những người này còn được sống no đủ, nhàn nhã và vô tư lự.

- Vâng, đúng thế.

- Berimêrơ có được nhận một cái gì đó theo di chúc của ông Tsarlizơ chứ?

- Ông và vợ ông theo chúc thư mỗi người được nhận 500 bảng Anh.

- Hừ! Họ sớm biết điều đó à?

- Vâng, ngài Tsarlizơ ưa nói về những quyết định của mình trong trường hợp ngài qua đời.

- Một sự kiện đáng quan tâm đấy.

Bác sĩ Môrtimêrơ nói:

- Tôi hy vọng là ông sẽ không bắt đầu ngờ vực tất cả những ai nhận tiền của theo di chúc của ngài Tsarlizơ chứ? Ngài cũng để lại cho tôi một ngàn bảng Anh.

- Ôi! Còn ai nữa không?

- Trong di chúc còn quy định nhiều khoản tiền nhỏ cho những người khác nhau và một món tiền lạc quyên lớn dành cho các mục đích từ thiện. Tất cả tài sản còn lại thuộc về ngài Genri.

- Tổng số là bao nhiêu?

- Bảy trăm bốn mươi ngàn bảng Anh.

Hôm nhíu mày kinh ngạc:

- Tôi không thể không ngạc nhiên về số tiền khổng lồ như thế – Hôm nói.

- Ngài Tsarlizơ nổi tiếng là một người giàu có nhưng số tiền xác thực của gia tài ngài chỉ được biết sau khi chúng tôi làm quen với các giấy tờ có giá trị. Tổng số tài sản của ngài lên tới bạc triệu.

- Trời ơi! Quả thật, vì một khoản tiền kếch xù như vậy người ta có thể sẵn sàng nhúng tay vào những trò mạo hiểm. Còn một vấn đề này nữa, bác sĩ Môrtimêrơ, chúng ta giả định là một chuyện gì đó xảy ra với người bạn trẻ tuổi của chúng ta…, giả định không lấy gì làm dễ chịu lắm mong ngài thứ lỗi cho tôi…, vậy khi đó ai sẽ kế thừa thái ấp?

- Bởi vì em út của ngài Tsarlizơ, ngài Rôđjiênơ đã chết mà không có vợ, lâu đài Baxkêrvili sẽ chuyển về tay những người họ hàng xa – cho Đêxmônđơ. Đjiênk Đêxmônđơ không còn trẻ nữa, ông là linh mục đang sống ở Vêxtmôriênđơ.

- Xin cám ơn ông. Tất cả những chi tiết này đều rất lý thú. Ông đã có dịp gặp gỡ ông Đjiênk Đêxmônđơ chứ?

- Vâng, ông ta có đến chỗ ngài Tsarlizơ. Đó là người có vẻ ngoài rất đáng trọng vọng và có nếp sống thật hoàn hảo. Tôi nhớ là ngài Tsarlizơ muốn chu cấp cho ông, nhưng ông khăng khăng chối từ điều đó, bất chấp những lời khuyên nhủ của mọi người.

- Một người khiêm tốn như vậy lại có thể kế thừa tất cả tài sản của ngài Tsarlizơ?

- Thái ấp chỉ thuộc về ông ta, bởi vì nó được coi là của dòng họ. Và ông ta sẽ nhận tiền chỉ trong trường hợp nếu người cai quản hiện giờ của chúng không sử dụng chúng theo một cách khác. Hoàn toàn có khả năng như vậy, vì ngài Genri rất có thể tự do dùng gia tài theo quan điểm riêng của mình.

- Ngài đã thảo di chúc phải không, ngài Genri?

- Không, ông Hôm. Tôi đã không biết trước chuyện đó, vì chỉ tới hôm qua tôi mới rõ sự thể là thế nào. Tuy nhiên tôi nghĩ rằng không thể chiếm đoạt tiền của từ thái ấp và tước vị được. Người bác bất hạnh của tôi đã giữ đúng quan điểm như thế. Lẽ nào người chủ của lâu đài Baxkêrvili lại có thể tái lập được danh giá xưa kia của dòng họ mình nếu anh ta không có phương tiện gì để hành động. Không, nơi nào có nhà cửa và đất đai thì nơi đó phải cần tiền.

- Hoàn toàn đúng. Vậy đó, ngài Genri ạ, tôi cũng cho rằng ngài cần đi Đêvônsirơ ngay tức khắc, nhưng với một điều kiện: trong tình huống nào cũng không được chuyển giao một thứ gì đi đâu cả.

- Bác sĩ Môrtimêrơ trở về cùng với tôi.

- Nhưng công việc nghề nghiệp làm mất nhiều thời giờ của bác sĩ Môrtimêrơ, vả lại, ông ấy sống cách lâu đài Baxkêrvili tới vài dặm. Không, dù mong muốn đến mức nào cũng sẽ không thể giúp ngài được. Ngài cần có một người đáng tin cậy bên mình và người này lúc nào cũng phải ở cạnh ngài.

- Ông Hôm, phải chăng chính ông đồng ý đi với tôi?

- Nếu công việc đến mức nguy kịch thì dù sao tôi cũng dứt ra để đến chỗ ngài. Nhưng, như chính ngài cũng biết đấy, phạm vi hoạt động rộng rãi cũng như các mối quan tâm thường xuyên của tôi – chúng luôn đổ xuống vai tôi từ tất cả mọi phía – không cho phép tôi rời khỏi Luân Đôn với thời gian vô hạn định được. Chẳng hạn, hiện giờ một trong số những người được trọng vọng nhất ở Anh Quốc đang bị doạ dẫm để cầu lợi. Chỉ tôi mới có thể ngăn chặn được thảm hoạ sau đó. Không, tôi không thể đi Đartmurơ được.

-Ông sẽ khuyên ai thay thế ông?

Hôm đặt tay lên vai tôi:

- Nếu bạn tôi chấp thuận thì những giây phút khó khăn ngài có thể trông cậy vào sự giúp đỡ của anh ấy. Bằng kinh nghiệm của bản thân, tôi tin vào điều đó.

Lời đề nghị trút xuống người tôi như một gáo nước lạnh đổ vào đầu, thế nhưng không chờ đợi câu trả lời của tôi, Baxkêrvili đã nồng nhiệt lắc lắc tay tôi.

- Bác sĩ Oátxơn, đối với ông điều này thật thuận lợi biết bao! – Ngài thốt lên – Ông biết tôi đang ở trong tình cảnh ra sao rồi, còn thực chất của công việc thì ông biết rõ không kém gì tôi. Nếu ông đến lâu đài Baxkêrvili và sống ở đó với tôi thì tôi sẽ không bao giờ quên điều đó!

Đối với tôi, các cuộc phiêu lưu luôn ẩn giấu trong mình vẻ mĩ miều riêng nào đó. Hơn nữa, những lời của Hôm cùng sự nồng nhiệt của nam tước trong việc đáp lại lời đề nghị của anh đã thực sự lôi cuốn tôi.

- Tôi sẽ vui lòng đi tới lâu đài Baxkêrvili – Tôi trả lời – Tôi sẽ không luyến tiếc thời giờ được dùng ở đó.

- Anh sẽ chuyển đến cho tôi các bản phúc trình chi tiết – Hôm nói – Vào thời điểm nguy kịch nhất – nó tất nhiên sẽ đến – tôi sẽ chỉ đạo các hoạt động của anh. Tôi cho rằng có thể ấn định chuyến đi vào thứ bảy.

- Điều đó có thuận tiện cho ông không, bác sĩ Oátxơn?

- Hoàn toàn nhất trí.

- Nghĩa là nếu không có gì thay đổi, vào thứ bảy, chúng ta sẽ đi chuyến tàu 9 giờ 30 từ sân ga Pađzingtôn.

Chúng tôi đứng lên sửa soạn cúi chào thì đột nhiên Genri kêu lên, và với vẻ mặt vui mừng ông rút từ dưới chiếc tủ đứng ở góc phòng ra chiếc giày màu nâu sáng.

- Đây rồi, vật thất lạc của tôi đây rồi!

- Các câu đố còn lại, được giải quyết đơn giản như vậy đấy! - Sơlốc Hôm nói.

- Nhưng dẫu sao điều đó cũng rất lạ lùng – Bác sĩ Môrtimêrơ lưu ý – Trước khi ăn cơm tôi đã lùng sục khắp căn phòng mà.

- Và tôi cũng chú ý đến tất cả các góc. Không ở đâu có chiếc giày cả – Ngài Genri nói.

- Nghĩa là người trực phòng đã đặt nó vào đấy lúc chúng ta ăn cơm.

Cho người tìm ra anh chàng người Đức đến nhưng anh ta cũng không thể nói được điều gì. Những lời gạn hỏi sau đó cũng không có kết quả. Như vậy, lại thêm một điều bí ẩn rõ ràng là phi lý vào hàng loạt những điều bí ẩn khác nhanh chóng kế theo nhau. Chưa kể cái chết thê thảm của ngài Tsarlizơ, trước mắt chúng tôi trải ra một chuỗi sự kiện chưa được soi tỏ xảy ra trong vòng chỉ hai ngày. Lá thư được xếp bằng những chữ cắt từ báo; người lạ mặt rậm râu trong xe mui; sự thất lạc ban đầu của chiếc giày màu nâu mới và sau đó là chiếc giày đen cũ. Còn bây giờ là sự xuất hiện chiếc giày nâu đó.

Trên đường trở về phố Bâykơ, Hôm ngồi im lặng trong xe mui và cứ xét theo đôi lông mày nhíu lại và cái nhìn căng thẳng của anh có thể nhận thấy là anh cũng như tôi đang mong muốn xâu chuỗi tất cả những sự kiện lạ lùng tưởng như không liên quan gì với nhau này thành một hệ thống duy nhất. Cả chiều và tối hôm đó anh ở phòng làm việc của mình, chìm đắm trong làn khói thuốc đậm đặc và trong suy nghĩ triền miên.

Ngay trước bữa ăn trưa có hai bức điện chuyển cho chúng tôi. Bức điện đầu tiên viết:

“Mới thông báo cho Berimôrơ ở lâu đài Baxkêrvili” và bức điện thứ hai viết:

“Đi khắp 23 khách sạn, tiếc là không tìm thấy những trang báo “Taimơ” bị cắt. Kartraitơ”.

- Thế là hai sợi chỉ đã bị đứt ngay tức khắc, Oátxơn ạ. Không có gì tốt hơn những công việc mà ở đó tất cả đều khéo léo thông đồng chống lại ta. Khi đó, ta mới thực sự bắt đầu ham mê. Thôi được, chúng ta sẽ lần theo dấu vết khác vậy.

- Anh còn có cơ sở ở người điều khiển xe mui chở kẻ lạ mặt kia mà!

- Rất đúng. Tôi đã hỏi họ tên và địa chỉ của hắn ở văn phòng Rêgixtrasiôn, và tôi sẽ không ngạc nhiên nếu bây giờ chúng ta nhận được câu trả lời vấn đề của tôi.

Chuông bắt đầu rung lên báo tới một tin tức thậm chí còn hơn cả sự mong đợi của Hôm, bởi vì sau cánh cửa của phòng làm việc thấy xuất hiện một chàng trai cao lớn. Rất có thể không phải ai khác mà chính là người điều khiển xe mui nọ.

- Ở văn phòng có nói với tôi là họ đã theo địa chỉ để dò hỏi về số xe 2704 – Anh ta bắt đầu – Đã bảy năm điều khiển xe tôi không bao giờ phải nghe một lời khiếu nại nào cả. Tôi nghĩ chính mình phải rẽ lại đây để trực tiếp nhận ra sự sai sót của mình là ở đâu.

- Ông không có sai sót nào cả – Hôm nói – Ngược lại, tôi sẽ trả tiền ông hậu hĩ, chỉ xin ông trả lời thẳng vào các câu hỏi của tôi.

- Người ta sẽ không biết tìm ở đâu khi không biết mất ở đâu cả! – Người lái xe mui cười khẩy – Ông cần gì, thưa ông?

- Trước hết tôi cần biết họ, tên và địa chỉ của ông.

- Đjiôn Klâytôn, sống ở phố Tarpi, nhà số 3, xe mui đậu ở Sipli – larđơ, cạnh ga Varlêlô.

Sơlốc Hôm ghi lại tất cả điều đó.

- Còn bây giờ, Klâytôn này, hãy kể cho tôi nghe về người hành khách của ông, cái người đã quan sát ngôi nhà rồi sau đó theo dõi hai người ở phố Riđjiêntơ vào lúc 10 giờ sáng nay ấy.

Người lái xe mui nhìn Hôm vẻ kinh ngạc và hình như hơi lo ngại.

- Biết kể với ông ra sao đây khi chính ông biết về tất cả những chuyện đó không kém gì tôi! - Anh ta trả lời – Người hành khách nói với tôi rằng ông ta là thám tử và không được tiết lộ về chuyện đó …

- Thôi được, ở đây có một vụ án nghiêm trọng. Nếu ông có ý định che giấu tôi một điều gì thì có thể ông sẽ rơi vào một tình trạng rất không hay. Thế nghĩa là ông ta nhận mình là một thám tử?

- Vâng, thưa ông!

- Ông ta nói với ông về điều đó khi nào?

- Lúc trả tiền.

- Ông ta còn nói chuyện gì nữa không?

- Còn nói họ tên của mình.

Hôm nhìn tôi vẻ đắc thắng.

- Họ tên của ông ấy? Vậy là thiếu thận trọng. Tên ông ta là gì?

- Tên ông ấy – Viên lái xe mui nói – là Sơlốc Hôm.

 Câu trả lời của người lái xe mui quả đã làm bạn tôi sừng sờ. Trong cuộc đời mình, tôi chưa từng nhìn thấy vẻ bàng hoàng biểu lộ trên nét mặt của anh đến mức như thế. Tới hai phút liền, anh không thể mở miệng nói được một lời, sau đấy anh cười khanh khách và nói lớn:

- Một quả đấm Oátxơn ạ! Một quả đấm đích đáng. Thanh kiếm trong tay đối thủ không chịu nhường tôi cả về tốc độ lẫn sự chính xác. Lần này hắn đã lừa tôi. Vậy tên ông ta là Sơlốc Hôm phải không?

- Vâng, thưa ông, ông ta nói như thế.

- Thật xuất sắc! Bây giờ hãy kể cho tôi biết ông nhận người hành khách ở chỗ nào và cái gì đã xảy ra tiếp theo đó.

- Ông ta gọi tôi vào lúc 9 giờ rưỡi sáng tại Traphangơrơ Xkverơ. Ông ấy nói: “Tôi là thám tử” và hứa trả cho tôi hai xôvơren nếu tôi thực hiện chính xác những mệnh lệnh của ông và nếu tôi không gạn hỏi một điều gì cả. Biết làm sao được, người ta không thể từ chối một khoảng tiền lớn như vậy. Tôi chở ông ta tới khách sạn Nôrxamberlenđơ và dừng lại tại đấy. Sau đó từ khách sạn có hai người đi ra gọi xe mui từ sở giao dịch và từ đây đi đến phố của ông.

- Vậy là tới chính ngôi nhà đó – Hôm nói.

- Rất có thể. Điều ấy cần hỏi người hành khách của tôi, ông ta biết rõ hơn. Ông ấy bảo tôi dừng ở khoảng giữa ngã tư và chúng tôi đợi ở đó chừng nửa giờ. Sau đấy có hai người đi qua, và thế là chúng tôi vận động theo sau họ dọc phố Bâykơ rồi rẽ ngoặt vào…

- Điều ấy thì tôi biết rồi – Hôm nói.

- Khi tới phố Riđjiêntơ ông ta nâng cửa sổ nhỏ phía trên lên và nói lớn: “Hãy rượt đến ga Valêrlô!”. Tôi quất đen đét vào con ngựa cái của mình và mười phút sau chúng tôi đã tới chỗ cần đến. Tại đó, không hề lường gạt, ông ta đưa tiền cho tôi theo đúng lời hứa rồi đi ra ga. Vào phút cuối, ông ta quay lại nói: “Có lẽ ông muốn biết ông vừa chở ai chứ? Sơlốc Hôm”. Đấy là tất cả những gì đã xảy ra.

- Được, tôi hiểu. Ông không nhìn ông ta rõ hơn được hay sao?

- Không, không rõ hơn được.

- Thế bây giờ ông hãy tả cho tôi biết vẻ ngoài của ông Sơlốc Hôm đi!

Người đánh xe mui gãi gãi vào gáy.

- Chuyện đó cũng dễ thôi. Ông ta khoảng dưới 40 tuổi, vóc người tầm thước, thấp hơn ông chừng một hoặc hai tấc, thưa ông. Ăn mặc tươm tất, râu đen, mặt thì tai tái. Tôi sẽ không thể kể điều gì hơn được nữa, thưa ông!

- Màu mắt ra sao?

- Tôi không để ý…

- Ông không nhớ được điều gì khác nữa?

- Không, thưa ông.

- Thôi được rồi. Tiền của ông đây. Ông sẽ còn nhận được thêm nếu ông hỏi dò một điều gì nữa về con người ấy. Chúc ông mọi sự tốt lành.

- Chúc ông luôn khoẻ mạnh, thưa ông. Xin cảm ơn ông.

Đjiôn Klâytôn vừa cười vừa lui ra, còn Hôm thì nhún vai, và với một nụ cười ngao ngán, anh quay lại chỗ tôi.

- Thế là sợi chỉ thứ ba cũng lại không nắm được rồi! – Anh nói – Giờ đây hãy làm ơn bắt tay vào công việc từ khởi đầu vậy. Thật là một gã ranh mãnh! Hắn biết số nhà chúng ta, biết ông Genri Baxkêrvili đến đây để nhờ khuyên bảo, nhìn thấy tôi ở phố Riđjiêntơ, đoán ra số xe mui có thể bị chú ý rồi người ta sẽ tìm ra người đánh xe, và hắn có ý định nhạo báng tôi. Hãy nhớ lấy lời nói của tôi, Oátxơn ạ, lần này chúng ta có công chuyện với một kẻ thù xứng đáng. Tôi bị thất bại ở Luân Đôn. Chúng ta hy vọng là anh sẽ gỡ gạc lại ở Đôvônsirơ. Nhưng dẫu sao điều đó cũng khiến tôi lo ngại.

- Về cái gì?

- Về chuyến đi của anh. Vụ án rất không hay, Oátxơn ạ. Không hay và nguy hiểm. Cành nghĩ về nó tôi càng cảm thấy lo ngại. Hãy can đảm lên, bạn của tôi, hãy can đảm hơn! Tuy nhiên, tôi sẽ rất vui nếu như anh trở về phố Bâycơ bình an vô sự.

 

CHƯƠNG VI

LÂU ĐÀI BAXKÊRVILI

 

Ngài Genri Baxkêrvili và bác sĩ Môrtimêrơ hoàn thành mọi công việc của mình để đến ngày quy định chúng tôi lên đường đi Đêvônsirơ như đã giao ước. Lúc tiễn tôi ra sân ga,  Sơlốc Hôm trong suốt đoạn đường đã chỉ dẫn và khuyên bảo tôi những điều cần thiết của chuyến đi.

- Tôi sẽ không bắt đầu bằng việc nói với anh là tôi nghi ngờ ai và tôi thiết lập những giả định như thế nào Oátxơn ạ, để anh khỏi có những định kiến nào cả – Anh nói – Tôi cần các sự kiện được trình bày một cách tỉ mỉ, rồi tự bản thân tôi sẽ đối chiếu chúng với nhau.

- Vậy cái gì khiến anh quan tâm?

- Tất cả những gì có liên quan bằng cách này hay cách khác tới vụ án, đặc biệt là mối quan hệ giữa Baxkêrvili trẻ tuổi và những người láng giềng của ông ta. Còn nếu anh biết được điều gì mới mẻ về cái chết của ngài Tsarlizơ thì hãy lưu ý đến nó. Những ngày gần đây, tôi có dò hỏi, nhưng đáng tiếc là chưa thể có kết quả. Tôi chỉ mới rõ được một điều: người thừa kế gần nhất, ông Đjiênk Đêxmônđơ, quả là một con người tuyệt diệu ở cái lứa tuổi đáng kính trọng. Ông ta không thể có một mưu đồ nhám hiểm nào cả. Tôi nghĩ, chúng ta có thể mạnh dạn loại trừ việc tìm hiểu ông vào những ngày sắp tới. Nghĩa là chỉ còn lại những người trực tiếp sống quanh ngài Genri Baxkêrvili.

- Chẳng phải tốt hơn cả là lập tức chú ý tới cặp vợ chồng Berimêrơ hay sao?

- Sao lại thế được! Thật khó có một sai lầm nào thô thiển hơn. Nếu họ không có tội thì đó sẽ là một điều bất công ghê gớm. Còn nếu họ có tội thì rồi cũng phát hiện ra thôi. Không! Không! Hãy đặt mọi người trong sự hoài nghi. Nếu tôi không lầm, ở đó có người đánh xe ngựa, hai điền chủ, người bạn của chúng ta, bác sĩ Môrtimêrơ, có lẽ là một người hoàn toàn ngay thẳng và vợ của ông thì chúng ta chưa biết gì cả. Chớ quên nhà tự nhiên học Xtepltôn với cô em gái – nghe người ta nói đó là cô gái trẻ trung và vô cùng quyến rũ. Thêm vào đó, ông Phrenklênđơ ở lâu đài Lêphtêrơ cũng là một nhân vật chưa được rõ. Rồi hai, ba người láng giềng khác nữa. Đấy là những người cần được anh theo dõi. Anh có mang theo vũ khí không?

- Có, tôi nghĩ điều đó sẽ không thừa.

- Dĩ nhiên. Hãy mang theo súng lục trong người cả ban ngày cũng như ban đêm, đừng một giây lơ là mất cảnh giác.

Những người bạn của chúng tôi đã kịp chuẩn bị vé hạng nhất và đang chờ chúng tôi trên sân ga.

- Không, không có gì mới xảy ra cả – Bác sĩ Môrtimêrơ nói để đáp lại câu hỏi của bạn tôi – Tôi có thể xin thề rằng trong hai ngày lại đây, không ai bám gót chúng tôi cả. Chúng tôi luôn nhớ chuyện đó và đã không một ai lọt khỏi sự chú ý của chúng tôi.

- Tôi  hy vọng là những ngày vừa rồi các vị luôn ở cạnh nhau chứ?

- Vâng, trừ ngày hôm qua. Tôi có ý dành trọn một ngày để tiêu khiển nhân chuyến đi tới thành phố này. Hôm qua tôi ở Viện bảo tàng của trường Cao đẳng Khirurgitrê.

- Còn tôi thì đi tới công viên để ngắm người qua lại – Genri nói – Mọi chuyện đều tốt đẹp.

- Tuy nhiên – Hôm chau mày nói và lắc đầu – Điều đó chẳng phải là khôn ngoan gì đối với ngài đâu. Tôi yêu cầu ngài, ngài Genri, hãy đừng có đi đâu khi không có ai đi cùng, nếu không, ngài sẽ không thoát khỏi tai hoạ đâu. Ngài đã tìm thấy chiếc giày kia rồi à?

- Chưa, thưa ông, nó vẫn biệt tăm vô tin.

- Thế là thế nào? Kỳ thật! Xin chúc ngài mọi sự tốt lành – Hôm nói thêm khi tàu bắt đầu chuyển bánh – Ngài Genri! Hãy nhớ lời khuyên bảo từ truyền thuyết kỳ lạ mà chúng tôi đã được bác sĩ Môrtimêrơ đọc cho nghe, xin đừng vào khu đầm lầy than bùn vào ban đêm khi những thế lực độc ác hoàn toàn thống trị ở đó.

Tôi ngoái nhìn ra ngoài cửa sổ và nhận thấy bóng hình gầy gò cao cao của Hôm ở phía xa. Anh đứng bất động trên sân ga và nhìn theo con tàu đang đi xa dần.

Còn tàu lướt nhanh, tôi cảm thấy sảng khoái như không thể tốt hơn thế. Tôi nhìn những người bạn đường của tôi và tôi thấy thích thú khi ngắm bác sĩ Môrtimêrơ ngủ gà ngủ gật. Qua chừng hai, ba giờ, đất đai dọc con đường đã thay sắc nâu bằng sắc đỏ, gạch đã nhường chỗ cho đá hoa cương, còn những đồng cỏ mượt mà được ngăn ra có những chú bò cái hung vàng đang nhởn nhơ gặm cỏ chứng tỏ ở đây khí hậu ẩm ướt rõ ràng tốt hơn so với phía đông.

Baxkêrvili trẻ tuổi không rời mắt khỏi cửa sổ, mồm luôn trầm trồ sung sướng trước phong cảnh của quê hương Đêvônsirơ.

- Chỉ có tôi là chưa có dịp đến thăm từ khi rời khỏi đây, bác sĩ Oátxơn ạ! – ngài nói – Dẫu sao vẫn không thể so sánh nơi đây với một nơi nào khác.

- Hãy chỉ cho chúng tôi thấy có người Đêvônsirơ nào lại không ca ngợi quê hương của mình!

- Vấn đề không chỉ ở bản thân Đêvônsirơ mà còn ở những con người sinh sống trên đó – Bác sĩ Môrtimêrơ nói – Chỉ một lần nhìn vào chiếc sọ đồ sộ của người bạn chúng ta cũng đủ để tìm thấy trong đó người đại diện cho chủng tộc Kêlitơ, với tính dễ phấn chấn và khuynh hướng  ưa tình cảm mạnh mẽ của nó. Ngài Tsarlizơ quá cố cũng có cấu tạo xương sọ hoàn toàn kỳ lạ – vừa có tính Gali vừa có tính Iberi. Ngài Genri, hình như từ buổi ấu thơ đến giờ ngài vẫn chưa nhìn thấy lâu đài Baxkêrvili?

- Tôi chưa khi nào trông thấy bởi chúng tôi sống tại một biệt thự nhỏ bên bờ biển phía Nam. Lúc cha tôi qua đời, tôi mới mười ba tuổi. Tôi lập tức dời đến chỗ các bạn của chúng tôi ở Mỹ. Ở đây đối với tôi hầu như là mới lạ cũng như đối với bác sĩ Oátxơn vậy, và quả thật tôi chưa chờ xem khi nào thì đầm lầy than bùn sẽ xuất hiện.

- Thế ư! Vậy thì ước mong của ngài sẽ được thực hiện – Ngài có thể ngắm nhìn nó kìa! – Bác sĩ Môrtimêrơ vừa chỉ ra ngoài cửa sổ vừa nói.

Xa xa, phía sau những ô hình vuông xanh non của các bãi chăn gia súc, phía sau bìa rừng lượn sóng là quả núi với đỉnh hình răng cưa màu xám nổi lên hiu quạnh cứ như là ảo ảnh tưởng tượng xuất hiện trong mơ. Baxkêrvili không rời mắt nhìn cảnh tượng đó. Cái nhìn nồng cháy này chứng tỏ sự làm quen ban đầu với vùng đất thê lương nơi có những con người gần gũi với ông về dòng máu đã từng làm bá chủ lâu đến thế và đã để lại những dấu vết sâu đến thể có ý nghĩa đối với ông biết bao. Con người trẻ tuổi mặc bộ quần áo thể thao giọng nói lơ lớ Bắc Mỹ ấy ngồi cạnh tôi trong toa tàu đường sắt xoàng xỉnh, và khi nhìn vào khuôn mặt ngăm đen giàu sức quyến rũ của ông, tôi nhận thấy trong đó một người kế tục thực sự của những con người quyền thế và bất trị ấy. Cặp lông mày rậm, lỗ mũi thanh nhỏ và đôi mắt to màu nâu sẫm chứng tỏ lòng tự hào, tính can trường và sức mạnh của ông. Nếu những cánh đầm lầy than bùn ảm đạm đặt chúng tôi đối diện với một nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm, thì chúng tôi có thể vì con người này mà không quản ngại điều gì, bởi lẽ ông cũng sẽ dũng cảm chia sẻ với chúng tôi bất kỳ hiểm nguy nào.

Con tàu dừng cạnh nhà ga nhỏ bé, hiu quạnh và chúng tôi bước xuống toa tàu. Phía sau hàng rào thấp, màu trắng có một cỗ xe bốn bánh được thắng bằng một cặp ngựa không thật cao nhưng vạm vỡ. Chuyến đi của chúng tôi rõ ràng là một sự kiện lớn ở đây, bởi vì ngay cả người trưởng ga cùng các phu khuân vác đều vây lấy chúng tôi bày tỏ sự giúp đỡ của mình. Đó là một thị trấn thôn quê đáng yêu, tuy vậy, tôi ngạc nhiên khi thấy cạnh cửa ra vào của sân ga có hai người lính trong bộ quân phục màu sẫm đứng tựa vào súng cácbin và chằm chằm nhìn chúng tôi. Người xà ích nhỏ bé, vụng về với bộ mặt xương xẩu, ngả mũ chào ngài Genri Baxkêrvili. Vài phút sau, chúng tôi đã lao nhanh theo con đường trắng rộng rãi. Dọc hai bên đường hiện lên những triền cỏ xanh tươi, những ngôi nhà nhỏ mái nhọn nhô ra từ lá cây rậm rạp, nhưng ở phía trước, sau ranh giới vùng thanh bình tràn ngập ánh sáng mặt trời ấy nổi lên đường viền mờ mờ của khu đầm lầy than bùn đang sẫm lại nơi chân trời buổi chiều bị đứt đoạn bởi đỉnh nhọn hoắt của những quả đồi ẩn chứa muôn vàn điềm dữ dằn.

Xe chúng tôi rẽ vào con đường dốc và bắt đầu lên cao theo vết bánh xe sâu từ hàng trăm năm nay chạy giữa kẽ đất cao phủ những cây mộc tặc mập mạp và làn rêu ẩm ướt. Những cây dương xỉ như được đúc bởi đồng thau cùng lá của cây mâm xôi lấp loáng trong ánh chiều tà. Khi tiếp tục lên cao, chúng tôi đi qua chiếc cầu hẹp bằng đá vắt qua con suối chảy xiết, nước đập mạnh vào những tảng đá xám tung bọt trắng xoá. Cả con đường lẫn con suối uốn lượn theo thung lũng rậm rạp cây sồi và cây thông.

Ở chỗ rẽ vào, Baxkêrvili cũng sảng khoái kêu lên và khi tò mò ngoảnh nhìn khắp mọi phía, ông luôn dồn dập hỏi chúng tôi những câu hỏi hầu như vô cùng tận. Theo quan điểm của ông, mọi thứ ở đây đều tuyệt vời, thế nhưng tôi thì không thoát khỏi nỗi buồn rầu mà những cánh đồng cỏ cùng những quả đồi thoai thoải phảng phất dấu vết của mùa thu luôn khêu gợi lên trong tôi. Những chiếc lá vàng bay trên mặt đất phủ lên những con đường mòn như những tấm thảm. Tiếng bánh xe không ngừng kêu của chúng tôi bị chìm vào trong lớp cỏ mục đầy đặc. “Thiên nhiên đã ném xuống dưới chân ông chủ mới của lâu đài Baxkêrvili những món quà thiểu não làm sao!” – Tôi chợt nghĩ.

- Hãy nhìn kìa! – Bác sĩ Môrtimêrơ đột nhiên kêu lên – Cái gì thế?

Trước mắt chúng tôi hiện ra quả núi dựng đứng – dấu hiệu đầu tiên chứng tỏ khu đầm lầy thanh bùn đã ở gần. Trên đỉnh quả núi này, nổi rõ hình người cưỡi ngựa vươn về phía trước với khẩu súng trường trong tay trông hao hao giống bức tượng ngựa toàn thân trên bệ đài đang quan sát con đường chúng tôi đi qua.

- Kỳ lạ thật! Như thế nghĩa là thế nào? – Bác sĩ Môrtimêrơ hỏi.

Trên ghế xà ích, người đánh xe ngựa của chúng tôi ngoái cổ lại:

- Một người tù đã chạy khỏi trại giam Prinxtayrơ, thưa ngài. Người ta lùng bắt ba ngày nay. Người ta đặt các trạm canh trên tất cả các con đường và ở tất cả các nhà ga mà vẫn vô ích. Dân sống ở đây rất không thoải mái về điều đó, thưa ngài!

- Tại sao thế nhỉ! Sao không trả 5 bảng Anh cho người nào lần ra dấu vết của hắn?

- Đúng vậy, thưa ngài, nhưng chỉ 5 bảng Anh thì ít hy vọng lắm. Mà hắn có thể cứa cổ anh ngay, điều đó thì dám chắc hơn. Con người này không chịu dừng lại trước bất cứ điều gì. Đó không phải là tên ăn cắp vặt  đâu.

- Vậy hắn là ai?

- Xêlđên, kẻ đã giết người ở Nôtingkhilơ.

Tôi rất nhớ vụ án Xêlđên, vì có thời gian Hôm đã tìm hiểu nó khi quan tâm tới tính chất hung bạo của vụ giết người cũng như dấu tích tàn ác không cần thiết vốn là đặc điểm trong mọi hành động của tên ác ôn này. Tội ác khủng khiếp tới mức ở toà án người ta đã nghi ngờ về sự tỉnh táo của trí tuệ Xêlđên, cho nên đã thay án tử hình của hắn bằng phạt tù.

Chiếc xe bốn bánh bò lên trên quả đồi. Trải dài trước mắt chúng tôi là khoảng không rộng rãi của khu đầm lầy. Những tảng đá sắp lại từ những phiến đá được đẽo gọt sơ qua vào thời rất xa xưa cùng những cột đá nổi lên khu đầm lầy. Gió lạnh từ đó thổi tới thấm vào tận xương tuỷ chúng tôi. Ở đấy, trên mặt nước buồn bã của khu đầm lầy này có một con quỷ hình người, đúng hơn là con thú hung dữ đang nằm chờ trong hang ôm ấp trong tim lòng căm thù đối với những người đã xua đuổi nó ra khỏi môi trường của mình. Chỉ cái đó cũng đủ làm tăng thêm vẻ ảm đạm ẩn chứa ở nơi hoang vắng trơ trụi trải ra trước mắt chúng tôi trong gió thổi từng đợt và trên bầu trời đang sẫm lại. Ngay cả Baxkêrvili cũng lặng thinh và khép áo bành tô trên người mình cho chặt hơn.

Những vùng màu mỡ lùi lại ở đằng sau và phía dưới chúng tôi. Ngoảnh lại nhìn, chúng tôi thấy những tia nắng ban chiều biến những con suối chảy xiết thành những giải băng vàng rực trên đất cày vỡ và trên những bụi cây rậm rạp. Con đường vượt qua những đỉnh đèo màu ô liu pha đỏ càng trở nên tiêu điều và hoang vắng hơn. Thỉnh thoảng, trước mắt chúng tôi hiện ra những vi la nhỏ có tường đá bao quanh mà dáng dấp nghèo nàn của chúng thậm chí không được trang điểm bằng những dây trường xuân thường thấy. Và sau đó, chúng tôi nhận thấy một thung lũng giống như cái chén sâu với những cây sồi và những cây thông khẳng khiu quằn quại và xác xơ bởi những cơn gió quanh quẩn ở đây từ thời thượng cổ. Nổi lên trên cây cối là hai cái tháp hẹp và cao. Người xà ích lấy roi chỉ về phía chúng và nói:

- Lâu đài Baxkêrvili đấy!

Người chủ thái ấp đứng ưỡn người trên xe ngựa. Đôi má ông ửng đỏ còn trong mắt ông thì có ngọn lửa cháy bùng lên. Vài phút sau, chúng tôi đi đến gần cánh cổng lớn bằng gang có hoa văn với hai chiếc cột phủ đầy rêu được làm bởi những đầu óc lệ thuộc. Đó là biểu tượng của dòng họ Baxkêrvili. Ngôi nhà nhỏ bằng đá của người gác cổng cũ kỹ với những chiếc vì kéo lòi hẳn ra. Tuy nhiên, phía trước ngôi nhà tồi tàn này lại là một công trình kiến trúc mới còn chưa hoàn thành – kết quả đầu tiên được sinh ra bởi đồng tiền vàng Nam Phi của ngài Tsarlizơ.

Hai hàng cây cao già cỗi chạy phía sau các cánh cổng. Những nhành lá của chúng chập lại làm thành vòm cây mờ mờ tối ở trên đầu chúng tôi. Tiếng kêu của bánh xe lại chìm đi trong âm thanh lạo xao của lá cây. Baxkêrvili giật bắn mình lên khi nhìn theo khoảng không hun hút của con đường rợp bóng cây mà ở cuối  con đường này hiện lên hình dáng ngôi nhà hư hư ảo ảo.

- Điều đó xảy ra ở đây phải không? – Ngài nam tước thầm thì hỏi.

- Không, không phải. Trên con đường này nhưng ở phía kia cơ!

Người thừa kế trẻ tuổi ném cái nhìn u ám vào cảnh vật quanh mình.

- Tôi chẳng lấy làm ngạc nhiên vì sao bác tôi sống ở đây lại thường xuyên chờ đợi một nỗi bất hạnh nào đấy – Ông ta nói – Nỗi kinh hoàng sẽ đổ xuống đầu bất kỳ ai. Hãy chờ đấy, chưa đầy nửa năm sau tôi sẽ chuyển điện đến đây và rồi các ông sẽ không còn nhận ra những chỗ này nữa đâu! Ở cạnh cửa ra vào hàng ngày, những ngọn đèn một nghìn nến Eđixơn và Xvanơ sẽ được thắp sáng.

Một thảm cỏ rộng rãi trải ra phía sau con đường, chúng tôi vòng qua đó để đi đến toà nhà. Trong lúc nhá nhem tối, tôi chỉ có thể trông thấy mặt tiền và bậc thềm nhà phục phịch. Tất cả được quấn chỉ bằng thứ cây trường xuân, riêng những lỗ cửa sổ và những hình bầu dục của các gia huy thì được chừa ra. Nổi lên trên một bên của toà nhà là hai chiếc tháp hình răng cưa với những lỗ châu mai cũ kỹ. Tiếp giáp với chúng cả phía bên phải và bên trái là hai chái nhà ngang làm bằng đá hoa cương đen. Ánh đèn tù mù hắt qua những ô cửa sổ trong ra bãi cỏ, làn khói đen lơ lửng bên trên mái nhà nhọn dựng đứng với những ống khói cao ngất.

- Nồng nhiệt chúc mừng ngài Genri! Nồng nhiệt chúc mừng ngài đã đến lâu đài Baxkêrvili!

Từ bóng tối đổ xuống nơi bậc thềm một người cao cao xuất hiện. Ông ta mở cánh cửa xe ngựa. Trong lối cửa ra vào được chiếu sáng của toà lâu đài một bóng người đàn bà đồng thời hiện lên. Bà ta cũng đi lại chỗ chúng tôi, giúp người đàn ông xách va li cho chúng tôi.

- Ngài Genri, ngài sẽ không phản đối nếu tôi đi thẳng về nhà chứ? – Bác sĩ Môrtimêrơ nói – Bà xã đang chờ tôi.

- Hãy nán lại ăn tối với chúng tôi đã!

- Thôi, quả là không thể được. Chắc có lẽ nhiều công việc bị ngưng trệ đang chờ tôi. Tôi sẽ rất vui lòng chỉ cho ngài ngôi nhà của mình, thế nhưng Berimôrơ sẽ làm việc đó tốt hơn tôi – Ông ta là người hướng dẫn tuyệt vời. Xin chúc mọi sự tốt lành. Nhớ là lúc nào ngài cần đến tôi vào ban ngày cũng như ban đêm, thì hãy gọi tôi đến, đừng ngại ngùng gì cả đấy!

Tiếng bánh xe chìm dần vào trong lòng sâu của con đường rợp bóng cây, cánh cửa nặng nề đóng sầm lại phía sau chúng tôi.

Lâu đài nơi chúng tôi ở là một toà nhà rất đẹp, thoáng rộng, với những chiếc xà to chắc bằng gỗ sồi thẫm lại vì thời gian. Trong lò sưởi cũ kỹ có thanh gang để những thanh củi nổ lép bép, cháy xèo xèo. Bị buốt lạnh sau một chuyến đi kéo dài, tôi và ngài Genri cùng hơ tay trên ngọn lửa. Sau đấy, chúng tôi bắt đầu quan sát sự trang trí nặng nề của lâu đài, cửa sổ cao hẹp với những tấm kính màu, những con hươu và gia huy trên tường lờ mờ nổi lên trong ánh sáng mờ ảo của đèn chùm.

- Chính tôi cũng hình dung tất cả mọi thứ là như thế – Ngài Genri nói – Đây là tổ ấm thực sự của dòng họ, có đúng vậy không? Kỳ thật! Vậy mà tổ tiên tôi đã sống ở ngay ngôi nhà này trong vòng những năm thế kỷ. Nhớ lại điều này người ta sẽ bất giác nghĩ tới một lối sống thật đúng nghi lễ.

Khuôn mặt rắn rỏi của ông ánh lên một nỗi sảng khoái hồn nhiên. Ông đứng trong quầng ánh sáng đổ xuống từ đèn chùm còn những chiếc bóng dài ngả xuống các bức tường và đặc quánh lại như một bức màn màu đen trên đầu ông.

Berimôrơ mang va li của chúng tôi về phòng từng người và ông ta trở lại kính cẩn sẵn sàng tuân thủ đòi hỏi của chúng tôi phù hợp với những người hầu được rèn luyện đến nơi đến chốn. Vẻ ngoài của ông ta có vẻ siêu phàm –cao, oai vệ, với bộ râu đen rậm làm nổi rõ gương mặt tái nhợt đáng kính trọng.

- Ngài sẽ ra lệnh dọn cơm tối chứ ạ?

- Đã chuẩn bị rồi chứ?

- Vài phút nữa, thưa ngài. Nước nóng đã có ở trong phòng của các ngài. Tôi và vợ tôi sẽ cảm thấy may mắn ở lại đây ngay từ buổi đầu tiên, nhưng chính trong những nề nếp mới ngài sẽ cần số lượng biên chế lớn hơn chăng?

- Những nền nếp mới nào vậy?

- Tôi muốn nói rằng ngài Tsarlizơ có nếp sống riêng biệt lập và cả hai chúng tôi hoàn toàn có thể phục vụ ngài ấy. Còn ngài chắc có lẽ sống khoáng đạt hơn và sẽ sắp xếp lại tất cả theo trật tự mới.

- Nghĩa là ông cùng vợ ông muốn nhận tiền thanh toán?

- Nếu như điều đó không gây sự phiền lòng nào cho ngài, thưa ngài.

- Tuy nhiên tổ tiên của ông trong vài thế hệ đã từng sống ở lâu đài Baxkêvili. Ta rất không muốn ngay từ những bước đi ban đầu của mình ở đây lại rút bỏ những mối liên hệ gia đình lâu đời ấy.

Tôi nhận thấy những dấu hiệu lo ngại trên bộ mặt tái nhợt của viên quản lý.

- Điều đó không thật dễ dàng đối với tôi và vợ tôi đâu, thưa ngài. Tuy vậy, người ta đã nói đúng sự thật với ngài, chúng tôi rất gắn bó với ngài Tsarlizơ và cho đến giờ chúng tôi vẫn chưa trấn tĩnh lại được sau cái chết của ngài ấy. Chúng tôi cảm thấy nặng nề ở lại đây. Tại lâu đài Baxkêrvili, chúng tôi sẽ không có thể thoải mái như trước đây.

- Thế ông đã có ý định làm gì rồi?

- Thưa ngài, tôi hy vọng là chúng tôi sẽ thành công trong việc thu xếp một công việc nào đó. Bởi vì nhờ tính hào phóng của mình, ngài Tsarlizơ đã không bỏ rơi chúng tôi… Còn bây giờ hãy cho phép tôi đưa các ngài về phòng của mình.

Cầu thang hai nhịp dẫn tới sân thượng của lâu đài cổ kính được bao quanh bởi hành lang có tay vịn. Từ đó chạy dọc theo toà nhà là hai hành lang dài dẫn vào các phòng ngủ. Phòng của tôi nằm cùng phía với phòng ngủ của Genri. Hầu như cửa hai phòng ăn thông với nhau. Thì ra những căn phòng này lại hiện đại hơn so với phần trung tâm của ngôi nhà. Những tấm giấy dán tường sáng sủa, rất nhiều ngọn nến cháy sáng ngay lập tức đã làm dịu đi những ấn tượng nặng nề hình thành trong suốt chuyến đi tới lâu đài Baxkêrvili.

Tuy vậy, phòng ăn ở tầng dưới lại khiến chúng tôi kinh ngạc bởi cái vẻ ảm đạm của nó. Đấy là một căn phòng chạy dài có bệ làm bàn dành cho chủ nhà được tách ra với phần kia của phòng ăn dành cho những người ở địa vị thấp hơn bằng một bậc cấp. Phần cuối cùng của căn phòng là nơi dành cho ban hát Mênêxtrêli. Phía cao trên đầu chúng tôi là những chiếc xà nhà đen trũi, trần nhà ám đầy khói. Rất có thể là những bó đuốc rực cháy, vẻ rực rỡ và huyên náo của những bữa tiệc lớn đã làm dịu đi cái ảm đạm của căn phòng này. Nhưng giờ đây, khi trong phòng, dưới ngọn đèn dầu có chao duy nhất, hai người đàn ông ăn mặc toàn màu đen đang ngồi, thì giọng nói của họ dịu đi và tâm trạng ở họ phần nào lắng xuống. Dãy dài các vị cao tổ trong những bộ áo quần đa dạng nhất – bắt đầu từ viên đại thần của thời đại nữ hoàng Elizabet và kết thúc là người ưa ăn diện của triều đại Rêgênxtvơ – từ trên các bức tường nhìn xuống làm chúng tôi thêm nẫu lòng bởi sự im ắng của họ. Câu chuyện trong bàn ăn tẻ nhạt thế nào ấy, tôi cảm thấy dễ chịu hơn khi cuối cùng bữa ăn kết thúc và chúng tôi chuyển sang hút thuốc trong phòng chơi bia hoàn toàn hiện đại.

- Biết nói thế nào được, tình cảnh không có gì là vui vẻ cả - Ngài Genri nói – Cố nhiên, có thể rồi cũng chịu đựng được tất cả những cảnh tượng ấy, thế nhưng giờ đây tôi cảm thấy áy náy không nguôi. Chẳng có gì phải ngạc nhiên nếu bác tôi đã phát cuồng lên khi sống một mình trong ngôi nhà này. Nào, chúng ta hãy tản về đi. Có thể vào buổi sớm ở đây sẽ khiến chúng ta không buồn bã như thế.

Trước lúc đi ngủ, tôi mở bức rèn và nhìn qua cửa sổ hướng ra thảm cỏ trước cửa ra vào. Những cây cao phía sau thảm cỏ rên xiết, vặn mình trong gió. Mặt trăng lấp ló trong khoảng trống giữa những đám mây trôi nhanh. Và trong quầng sáng lạnh lùng của ánh trăng phía sau lùm cây nổi lên những dãy núi đá không bằng phẳng và đường viên dài của khu đầm lầy ảm đạm. Tôi kéo kín bức rèm lại sau khi tin chắc rằng ấn tượng sau cùng của tôi về lâu đài Baxkêrvili đã không có gì trái ngược với ấn tượng đầu tiên của mình.

Nhưng hoá ra ấn tượng đó chưa phải là cuối cùng. Do mỏi mệt, tôi không làm sao chợp mắt nổi. Tôi trăn trở hoài mà giấc ngủ vẫn không đến. Xa xa ở một nơi nào đó,  đồng hồ cứ mười lăm phút lại điểm một lần. Chẳng có gì phá tan bầu không khí im lặng chết chóc thống trị trong ngôi nhà. Đột nhiên trong đêm khuya vắng vẻ một âm thanh rõ rệt vang đến tai tôi. Đúng vậy, không còn hoài nghi gì nữa, đó là tiếng thổn thức mãnh liệt cố nén lại của người đàn bà mà trái tim bị dày vò vì đau khổ. Tôi nhổm dậy trên giường và chăm chú lắng nghe. Tiếng nức nở vọng đến từ nơi nào đó rất gần ngay trong ngôi nhà. Tôi chờ chừng nửa tiếng, gắng không bị những ảo giác lừa dối mình, thế nhưng không còn nghe thấy âm thanh gì khác ngoài tiếng đồng hồ và tiếng xào xạc của cây trường xuân leo trên tường.

 

 

                                                                                         CHƯƠNG VII

                                                         XTEPLTÔN Ở MÊRIPÍT – KHAIUXƠ

 

Vẻ tươi tắn đáng yêu của buổi sớm đã xoá đi trong trí nhớ ấn tượng đè nặng lên cả hai chúng tôi sau việc làm quen đầu tiên với lâu đài Baxkêrvili. Khi tôi cùng ngài Genri ngồi ăn sáng, ánh mặt trời rỡ ràng hắt vào những ô cửa sổ hẹp với các biểu tượng rực rỡ trên kính đổ xuống nền nhà những mảng sáng loang lổ nhiều màu sắc. Các trang sức bằng gỗ sồi đen sẫm trong những tia sáng vàng tươi lóng lánh như đồng than. Và bây giờ chúng tôi khó lòng hình dung nổi là chỉ mới tối hôm qua thôi căn phòng này đã đè nặng lên chúng tôi bởi những cảm giác ảm đạm như thế nào.

- Vẫn là ngôi nhà ấy thôi, có lẽ chính chúng ta lầm lẫn trong tất cả chuyện đó – Nam tước nói – Bị mệt mỏi và lạnh cóng trên đường, thế là chúng ta hình dung tất cả dưới ánh sáng ảm đạm của mình. Sau một đêm thức dậy, chúng ta cảm thấy trong người thoải mái và mọi vật chung quanh cũng tươi tắn hơn.

- Nhưng cũng không thể đổ tất cả cho tâm trạng của chúng ta được – Tôi trả lời – Ví như, hãy nói cho tôi biết phải chăng ngài đã không nghe thấy tiếng khóc nức nở của một ai đấy, mà theo tôi là của người phụ nữ, vào lúc nửa đêm?

- Ông có biết là qua giấc ngủ mơ màng của mình tôi cũng cảm thấy một cái gì tương tự như thế không? Tôi lắng nghe hồi lâu và sau đó cả quyết rằng đó chỉ là giấc mơ.

- Không, tôi nghe thấy rất rõ và tin rằng một người đàn bà đang khóc.

- Ngay bây giờ cần hỏi Berimôrơ xem sao.

Ngài dùng chuông gọi viên quản lý tới và yêu cầu ông ta giải thích. Tôi cảm thấy bộ mặt xanh cao của Berimôrơ trở nên nhợt nhạt hơn khi ông ta nghe xong câu hỏi của ông chủ.

- Trong nhà có cả thảy hai người đàn bà, ngài Genri ạ – Berimôrơ trả lời – Một là người rửa bát ngủ ở chái nhà bên kia và người thứ hai là vợ tôi. Nhưng tôi xin cam đoan với ngài rằng nhà tôi không khóc.

Ông ta nói không đúng sự thật, bởi vì sau bữa ăn sáng tôi có dịp đối mặt với bà Berimôrơ trong hành lang sáng sủa. Tôi thấy một người đàn bà cao cao với những nếp nhăn lớn trên mặt, môi mím lại một cách nghiêm nghị. Bà đi đứng rất điềm tĩnh, thế nhưng đôi mắt đỏ ngầu và mí mắt sưng tấy lại tố giác bà. Nghĩa là đêm qua bà đã khóc. Vậy thì người chồng không thể không biết về chuyện đó. Ông ta đã làm cái điều mà mọi người có thể vạch rõ là giả tạo. Để làm gì vậy? Tại sao bà ta lại thổn thức một cách cay đắng như thế?

Phảng phất từ con người xanh bủng với vẻ ngoài đáng kính và bộ râu đen ấy là một cái gì đầy bí ẩn và mờ ám. Ông ta là người đầu tiên tìm thấy thi thể của ngài Tsarlizơ và tình cảnh cái chết của ông già Baxkêrvili được chúng ta biến đến chỉ qua lời của ông ta. Phải chăng chúng tôi đã nhìn thấy Bertimêrơ trong xe mui trên phố Riđjiêntơ? Trong trường hợp nào thì bộ râu cũng đúng là như thế. Người lái xe mui nói về một người tầm thước, nhưng ấn tượng này có thể bị sai lạc. Tôi cần xác định sự thật ra sao? Trước tiên, tất nhiên cần phải gặp viên phụ trách văn phòng bưu điện ở Grimpenơ để biết xem ông ấy có chuyển bức điện tận tay Berimôrơ hay không? Dù thế nào tôi cũng sẽ báo cho Hôm biết ít nhất một điều gì đó.

Sau bữa sáng, ngài Genri soát xét lại những giấy tờ kinh doanh và tôi có thể hoàn toàn tuỳ ý sử dụng thời gian của mình. Theo con đường bằng phẳng chạy dọc khu đầm lầy, tôi vượt qua bốn dặm và bước tới một làng nhỏ bé, xấu xí. Đập vào mắt tôi trước tiên là hai công trình xây dựng sang trọng hơn cả – đó là khách sạn và ngôi nhà của bác sĩ Môrtimêrơ. Viên phụ trách văn phòng bưu điện đồng thời là chủ tiệm ở đây có nhớ tới bức điện của chúng tôi.

- Tất nhiên, thưa ngài – Ông ta nói – Tôi đã chuyển nó cho ông Bermôrơ đúng như yêu cầu của các ngài.

- Ai mang tới cho ông ta?

- Đứa con trai nhỏ của tôi. Đjiêmxơ, mày chuyển bức điện tới lâu đài Baxkêrvili cho ông Bêrimôrơ chứ?

- Vâng, thưa cha!

- Cháu trao cho chính ông ấy chứ?

- Không, ông Berimôrơ ở đâu trên gác thượng và cháu đưa bức điện cho bà vợ. Bà ấy hứa là sẽ lập tức chuyển cho ông ấy.

- Cháu trông thấy bản thân ông Berimôrơ chứ?

- Không, thưa ông, cháu nói là ông ấy ở trên gác thượng.

- Sao cháu biết được ông ấy ở đâu nếu chính cháu không nhìn thấy?

- Này, một người vợ nào đó cần biết ông chồng của mình ở đâu chứ – Viên phụ trách văn phòng bưu điện bực tức nói – Vấn đề là ở chỗ bức điện được chuyển đến hay chưa? Còn nếu có gì sai sót thì chính ông Berimôrơ sẽ phải hối tiếc.

Những lời lục vấn tiếp tục một cách vô nghĩa như vậy. Thế nhưng tôi đã sáng tỏ là mưu chước tinh khôn của Hôm không dẫn đến điều cần thiết và chúng tôi sẽ không được rõ Berimôrơ có đi Luân Đôn hay không. Cứ giả dụ là ông ta, người sau cùng nhìn thấy ngài Tsarlizơ khi còn sống lại là người đầu tiên theo dõi người thừa kế của ngài ngay khi con người ấy trở về Anh Quốc, vậy có thể rút ra điều gì từ đấy? Berimôrơ hành động theo sự xúi bẩy của ai hay là ông ta có mưu kế gian trá riêng của mình? Sự truy nã Baxkêrvili có ý nghĩa gì đối với ông ta? Tôi nhớ đến sự phòng xa lạ lùng được sắp đặt từ những mẫu giấy cắt rời trên báo. Có phải đó là công việc của chính đôi tay Berimôrơ? Cũng có thể sự phòng ngừa đó được làm bởi một kẻ khác có ý ngăn cản ông ta? Ngài Genri đã cho tất cả những điều đó một ý nghĩa duy nhất giống như thật sau khi nói rằng nếu Baxkêrvili chán ngấy thái ấp tổ tiên của mình thì cặp vợ chồng Berimôrơ sẽ được đảm bảo một cuộc sống yên lành cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời mình. Nhưng biết đâu ở một mức độ nào đó điều này lại chẳng che chở cho một mưu mô sâu xa và tinh quái đang bện lấy viên nam tước trẻ tuổi bằng một tấm lưới vô hình nào đấy? Chính Hôm chẳng đã thú nhận là trong số tất cả những vụ điều tra gây ấn tượng mạnh của mình, vụ án này là rắc rối và phức tạp nhất là gì.

Khi trở lại con đường ảm đạm vắng vẻ, tôi có cầu trời cho bạn tôi được rảnh rỗi để có thể mau chóng đi đến đây thay tôi lãnh trách nhiệm nặng nề này.

Tiếng những bước chân đi gấp ở phía sau đã đột nhiên cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi. Giọng ai đó kêu tên tôi đã gọi giật tôi lại. Tôi ngoảnh lại chờ gặp bác sĩ Môrtimôrơ. Nhưng không, tôi ngạc nhiên vì bước vội phía sau tôi là một người đàn ông tóc vàng trạc 35 – 40 tuổi. Ong ta không cao, gầy gò, mặt mũi cạo nhẵn nhụi đượm vẻ buồn rầu, chiếc cằm dài và hẹp. Ông ta mặc bộ đồ màu xám, đội mũ rơm. Vắt vẻo trên vai là chiếc hộp thực vật bằng sắt tây, còn tay ông cầm chiếc vợt màu xanh lục dùng để bắt bướm.

- Hãy thứ lỗi cho sự bạo dạn này của tôi, bác sĩ Oátxơn – Còn chưa kịp lấy lại hơi, người lạ mặt đã bắt đầu nói – Ở đây chúng tôi là những người dân không câu nệ nghi thức, chúng tôi không chờ đợi sự giới thiệu đúng phép tắc. Chắc có lẽ ông đã nghe về tôi từ người bạn của cả hai chúng ta, bác sĩ Môrtimêrơ. Tôi là Xtepltôn ở Mêripit – Khaiuxơ.

- Theo chiếc hộp và chiếc vợt này thì nhận ra ông không khó khăn gì cả – Tôi nói thế vì  biết ông Xtepltôn là nhà tự nhiên học – Nhưng ông đoán ra tôi bằng cách nào được?

- Tôi ở chỗ Môrtimêrơ và lúc ông đi qua đấy, ông ta qua cửa sổ của phòng khách đã chỉ ông cho tôi biết. Tôi với ông đi cùng đường và thế là tôi có ý định đuổi kịp ông, tự giới thiệu mình với ông. Hy vọng là ngài Genri không quá mệt mỏi sau chuyến đi dài ngày chứ?

- Không, xin cảm ơn ông, ông ta cảm thấy bình thường.

- Tất cả chúng tôi đều cảm thấy lo ngại là sau cái chết đau buồn của ngài  Tsarlizơ, vị nam tước mới sẽ không thích sống ở đây nữa. Thật khó yêu cầu một người sống dư dật lại phải chôn vùi cuộc đời của mình ở chốn thâm sơn cùng cốc như thế. Tuy nhiên, như ông cũng đã hiểu đấy, sự có mặt của nam tước sẽ có nhiều ý nghĩa đối với cuộc sống của tất cả chúng tôi. Tôi cho rằng câu chuyện ấy không gợi lên ở ngài Genri nỗi khiếp đảm mê tín chứ?

- Không, tôi không nghĩ như vậy.

- Tất nhiên ông biết truyền thuyết về con chó quái dẫn hình như luôn luôn ám ảnh dòng họ Baxkêrvili.

- Vâng, tôi biết.

- Nói đến chuyện đó thì các điền chủ ở đây đều là những người mê tín cả! Quả là đáng kinh ngạc! Bởi vì hầu như tất cả bọn họ đều sẳn sàng thề thốt rằng đã từng nhìn thấy con quái vật ấy trên khu đầm lầy – Xtêplôn mỉm cười, nhưng đọc trong mắt của ông ta tôi thấy ông đem đến cho những lời nói của mình một ý nghĩa nghiêm trọng hơn nhiều – Truyền thuyết đã hoàn toàn làm chủ trí tưởng tượng của ngài Tsarlizơ và chính nó đã đưa ngài tới sự kết thúc bi thảm vậy đó.

- Bằng cách nào thế?

- Khi thần kinh của một người căng thẳng đến như vậy thì sự xuất hiện của bất kỳ con chó nào cũng có thể ảnh hưởng tai hại tới trái tim bệnh tật của con người ấy. Tôi nghĩ rằng vào tối hôm đó ngài Tsarlizơ quả đã trông thấy một cái gì tương tự trên con đường rậm bóng cây. Tôi rất ưa ông cụ và khi biết về bệnh tật của ngài thì tôi đã chờ một nỗi bất hạnh gì đó.

- Do đâu ông biết ngài Tsarlizơ bị đau tim?

- Từ người bạn tôi, Môrtimêrơ.

- Quả thật ông nghĩ là có một con chó nào đấy nhảy bổ vào ngài Tsarlizơ và ngài đã chết vì khiếp sợ phải không?

- Dễ thương ông có những bằng chứng đáng tin cậy hơn chăng?

- Không, tôi còn chưa kịp đi đến những kết luận xác định.

- Thế ông Sơlốc Hôm?

Trong khoảng khắc, tôi nghẹt thở vì những lời này. Tuy nhiên nét mặt trầm tĩnh và cái nhìn quả quyết của người tiếp chuyện với tôi lại chứng tỏ ông ta không nghĩ là đột nhiên đã làm tôi xúc động vì câu hỏi của mình.

- Bác sĩ Oátxơn, vì sao chúng ta cần giấu diếm nhau thế nhỉ, chẳng lẽ chúng tôi không biết ông hay sao? – Ông ta nói – Những tin đồn về người thám tử danh tiếng đã vang đến vùng chúng tôi, và lẽ nào ông có thể làm rạng rỡ tên tuổi cho  người ấy mà chính mình lại ở trong bóng tối? Môrtimêrơ đã không phủ nhận ông chính là bác sĩ Oátxơn ấy. Và nếu như ông có mặt ở đây thì có nghĩa là ông Sơlốc Hôm rất quan tâm đến vụ án này. Cố nhiên, tôi tò mò muốn biết quan điểm của ông ấy ra sao?

- Than ôi! Tôi không thể trả lời được câu hỏi này của ông.

- Vậy thì hãy cho phép được hỏi: Ông ấy sẽ hạ cố đến thăm chúng tôi chứ?

- Bây giờ anh ấy chưa thể rời Luân Đôn mà đi được. Anh ấy đang có những vụ án khác.

- Đáng tiếc biết chừng nào! Ông ấy có thể dọi ánh sáng vào cái mà đối với tất cả chúng tôi còn đang được giấu kín trong bóng tối. Nhưng ông cũng đang tiến hành điều tra, bác sĩ Oátxơn. Tôi có đủ sức giúp đỡ ông. Hãy sai bảo tôi khi cần thiết. Tôi biết những lời bóng gió mà ông đang ngờ vực. Nếu ông bắt tay vào công việc thì có thể ngay bây giờ tôi sẽ giúp ông bằng lời khuyên hoặc sự chỉ dẫn.

- Xin cam đoan với ông là tôi tới thăm người bạn tôi, ngài Genri. Tôi không cần sự giúp đỡ nào cả.

- Thật tuyệt vời! – Xtepltôn thốt lên – Ông xử sự hoàn toàn đúng: trước hết phải thận trọng! Tôi rất đáng bị từ chối như vậy do sự quay nhiễu của mình và tôi xin hứa là sẽ không đụng tới vấn đề ấy nữa.

Chúng tôi đi tới gần một địa điểm ở phía bên phải con đường nơi bắt đầu lối mòn dẫn qua khu đầm lầy trông như một giải băng hẹp. Chếch về phía trái là quả đồi dựng đứng có nhiều tảng đá lớn. Trên đó, vào thời trước, công trường khắc đá kim cương đã được tiến hành. Mặt hướng về phía chúng tôi của quả đồi là triền dốc thẳng đứng phủ đầy dương xỉ và mâm xôi. Xa xa ở phía chân trời, những làn khói xám cuộn lên.

- Từ đây theo con đường mòn này tới Mêripít – Khaiuxơ không còn bao xa – Xtepltôn nói – Hãy bớt chút thời gian một tiếng đồng hồ thôi, tôi sẽ rất hài lòng giới thiệu ông với em gái của tôi.

Ban đầu tôi chợt nghĩ rằng: mình cần ở cạnh ngài Genri, nhưng rồi lại nhớ đến sự tính toán và những giấy tờ chất đống trên bàn làm việc của ông. Trong công việc ấy tôi không thể giúp gì cho ông được. Mà Hôm lại yêu cầu tôi làm quen với những người sống kề lâu đài Baxkêrvili. Tôi chấp nhận lời mời của Xtepltôn, và chúng tôi rẽ về phía phải.

- Vùng này thật tuyệt vời! – Ông ta nói và ngước nhìn dải đồi màu xanh lượn sóng, phía trên những quả đồi là đường viền huyền ảo của dãy đá hoa cương nổi lên như những làn sóng biển – Khu đầm lầy này sẽ không bao giờ quá quen thuộc với ông. Nó có chứa một vài bí mật – thật bao la, hoang vằng và bí ẩn!

- Ông biết rõ vùng này chứ?

- Tôi ở đây mới năm thứ hai. Những người sống lâu ở địa phương gọi tôi là lính mới. Chúng tôi chuyển đến đây không bao lâu sau chuyến trở về của ngài Tsarlizơ. Nhưng phải thừa nhận là tôi đã kịp tìm hiểu từng ngõ ngách ở đây. Tôi dám nói rằng bây giờ ít người hiểu đầm lầy than bùn này tốt hơn tôi.

- Chẳng lẽ việc này lại khó khăn đến thế?

- Rất khó. Này nhé, ví như ông hãy đưa mắt nhìn cái bình nguyên với những quả đồi kỳ lạ trồi lên ở đằng kia. Theo ông, nó đáng chú ý bởi lẽ gì nào?

- Có thể phi nước đại trên đó.

- Bất kỳ ai ở cương vị của ông cũng sẽ nói như thế, ấy vậy mà đã có không ít những sai lầm. Hãy nhìn xem có bao nhiêu bãi cỏ xanh trên đó?

- Có lẽ đấy là những nơi đất tốt hơn phải không?

Xtepltôn phì cười:

- Trước mắt ông là vùng đầm lầy Grimpenơ rộng lớn – Ông ta nói – Người hay động vật mà rơi vào vùng này chỉ cần một bước không thận trọng là đi đời nhà ma: mới hôm qua tôi trông thấy con ngựa pôni của ai đó đi lạc vào đấy và tất nhiên là đã bị chết. Cái đầu của nó nổi lên trên mặt đầm lầy. Nó rướn cổ gắng ngoi lên nhưng rồi cuối cùng vẫn không thoát khỏi chốn hiểm nghèo. Ở đấy thậm chí vào mùa khô cũng nguy hiểm. Sau những cơn mưa mùa thu thì đây vẫn hoàn toàn là một chốn rùng rợn. Tuy vậy, tôi đã nhiều lần lọt vào ngay giữa trung tâm của đầm lầy Grimpenơ và lần nào cũng sống sốt để trở về. Hãy nhìn xem lại một con ngựa pôni bất hạnh nữa kìa!

Trong khu cỏ lác xanh lục có một vật gì đó đang giãy giụa và lăn lóc. Rồi phía trên đám cỏ thấp thoáng chiếc cổ đang ngoái lại một cách đau đớn, khu đầm lầy vang lên một tiếng kêu thê thảm. Tôi ớn lạnh vì ghê rợn, thế nhưng dường như thần kinh người bạn đường của tôi có phần vững vàng hơn.

- Tất nhiên! Đã bị cuốn vào – Ông nói – Con thứ hai trong vòng hai ngày lọt vào mắt tôi. Còn bao nhiêu con nữa đã bị chết không biết! Chúng quen thói bén mảng đến đây vào mùa khô và tưởng rằng sẽ không bị chết. Vâng, vùng đầm lầy Grimpenơ, đó là một nơi thật kinh hoàng.

- Tuy nhiên, chính ông thì lọt vào đấy được?

- Vâng, ở đấy có hai, ba đường mòn mà người khôn ngoan có thể theo đó để đi vào được. Tôi đã phát hiện ra chúng.

- Nhưng ông cần đi vào cái chốn nguy hiểm ấy để làm gì?

- Ông có trông thấy  những quả đồi phía xa kia không? Đó thật sự là những cù lao ở giữa vũng lầy không đi qua được dần dần bao quanh chúng từ mọi hướng. Hãy biết lọt vào đấy, nơi có bao nhiêu bướm và những thực vật quý hiếm!

- Vậy à, khi nào tôi sẽ thử vào xem sao.

Xtepltôn ngạc nhiên nhìn tôi.

- Hãy làm ơn xua đuổi ý nghĩ ấy ra khỏi đầu ông đi! – Ông ta nói – Tôi sẽ bị dằn vặt bởi cái chết của ông. Ông không trở về đâu, hãy tin lời tôi nói! Bản thân tôi dám cả gan đi vào đấy chỉ vì tôi có một hệ thống dấu hiệu phức tạp.

- Ôi! Cái gì thế! – Tôi kêu lên.

Tiếng rống không lớn kéo dài nghe thảm thiết đến mức khó diễn tả vang lên trên khu đầm lầy lan tràn khắp không trung, nhưng nó từ đâu vọng tới thì không thể xác định được. Bắt đầu từ tiếng rên rỉ không rõ, âm thanh dần dần chuyển sang tiếng rống trầm trầm và lại  rên rỉ đến não ruột. Xtepltôn lạ lùng nhìn tôi:

- Khu đầm lầy là một vùng đầy bí ẩn – Ông ta nói.

- Cái gì vậy?

- Các điền chủ nói rằng con chó của dòng họ Baxkêrvili đang kêu la khi tìm được lễ vật. Trước đây, tôi cũng có dịp nghe tiếng của nó, nhưng hôm nay là những tiếng kêu rất lớn.

Lạnh toát người vì kinh sợ, tôi lướt nhìn bình nguyên rộng rãi được phủ bởi những bụi lau sậy xanh mướt trải dài đến tận chân trời. Không có tiếng xào xạc của lá, không có dấu hiệu nhỏ nhất của sự sống – Chỉ có một con quạ đậu trên cột đá phía sau chúng tôi kêu ầm ĩ.

- Là người có học thức, chắc ông không tin vào những điều hồ đồ như thế – Tôi nói – Vậy ông giải thích tiếng kêu đó ra sao?

- Một lần khác vùng đầm lầy phát ra những âm thanh cũng rất lạ lùng. Lúc thì vút lên, khi thế này khi thế khác, ai mà biết được!

- Không, không phải! Đấy chỉ là tiếng kêu của một thực thể sống.

- Cũng có thể. Đã lần nào ông nghe giống chim đầm lầy kêu ban đêm chưa?

- Chưa, chưa có dịp nào cả.

- Hiện giờ, giống chim này ở Anh Quốc rất ít khi xuất hiện, nói đúng hơn là nó bị chết vì lạnh. Thế mà trên khu đầm lầy này tất cả lại có thể xảy ra. Tôi không lấy làm ngạc nhiên nếu quả thật vọng đến tai chúng ta là tiếng của một trong số những đại biểu cuối cùng của loại chim này.

- Trong đời, tôi chưa từng nghe thấy những âm thanh nào ghê rợn và nặng nề hơn.

- Đã nói đây là một vùng đầy bí ẩn mà! Hãy nhìn vào ngọn đồi kia! Theo ông, cái gì thế?

Sườn đồi dựng đứng được phủ bằng những vòng đá xám. Tôi đếm phải gần hai mươi vòng.

- Cái gì đây? Chuồng cừu phải không?

- Không, đó là nơi ở của các ông tổ đáng kính của chúng ta. Con người tiền sử đã đến ở khu đầm lầy này rất đông đúc. Vì sau họ không ai ở đây nữa nên tất cả tiện nghi nhà ở hãy còn nguyên vẹn và bất khả xâm phạm. Chỉ có mái là bị đỡ đi. Nếu muốn, có thể đi tới đó và sẽ nhìn thấy bếp lò và giường nằm.

- Đúng là một khu phố thật sự! Nó có người ở khi nào?

- Đó là giống  người ở thời đại đồ đá mới. Niên đại chính xác không thể xác định được.

- Giống người ấy làm gì?

- Những bầy người ở đây, trên những sườn này, khi chiếc dùi đá bắt đầu nhường vị trí hàng đầu cho chiếc dùi bằng đồng thau và học cách khai thác thiếc. Hãy nhìn cái hố ở trên quả đồi đối diện kia. Đó là những dấu tích công việc của họ. Này bác sĩ Oátxơn, ông sẽ tìm thấy nhiều điều thú vị trên khu đầm lầy của chúng tôi. Xin thứ lỗi cho, có lẽ là cyclopides đấy!

Một con bướm nhỏ bay qua chỗ chúng tôi với tốc độ và sự nhanh nhẹn đáng kinh ngạc. Xtepltôn đuổi theo nó. Tôi kinh hãi nhìn thấy con bướm lao thẳng xuống đầm lầy, nhưng người bạn mới quen biết của tôi nhảy từ mô đất này đến mô đất khác, vung vẩy chiếc vợt xanh lá cây của mình. Bộ quần áo màu xám và cử chỉ bồng bột khiến ông ta giống như một con bướm khổng lồ nào đấy. Tôi đứng lại nhìn theo ông với một cảm giác pha trộn giữa khâm phục và kinh hãi – Tôi cứ hình dung ra là ông sẽ lao xuống và sẽ không ra khỏi vùng đầm lầy phản phúc. Đột nhiên tôi nghe thấy phía sau mình tiếng bước chân của một ai đó. Tôi ngoảnh đầu nhìn và nhận thấy một người phụ nữ gần như đang ở cạnh mình. Cô ta xuất hiện từ hướng khói cuộn lên chứng tỏ Mêripít – Khaiuxơ đã ở gần đâu đây, thế mà trước đó tôi không thể nhận ra cô do con đường mà cô đi ra lại nằm dưới dốc.

Tôi không nghi ngờ rằng đó là cô Xtepltôn, vì lẽ ở chốn này ai lại có thể tính đến chuyện gặp những ngôi nhà khác. Thêm vào đấy, người ta nói với tôi về cô như về một người phụ nữ dễ thương, mà người đàn bà đang đi theo đường mòn kia quả thực làm tôi sửng sốt vì vẻ đẹp của mình – một vẻ đẹp không hoàn toàn giống với cái mẫu thông thường. Thật khó lòng hình dung ra sự khác biệt giữa em gái và anh trai hơn thế. Ông ta là người tóc vàng, mắt xám, thiếu bản sắc, còn cô lại tóc đen – Tôi chưa có dịp gặp ở Anh Quốc những người tóc đen mướt như vậy –duyên dáng, cân đối và cao dỏng. Những đường nét thon thả kiêu hãnh hài hoà đến mức gương mặt dễ thường sẽ trở nên cứng đờ nếu cái miệng không tình tứ và không có cái nhìn nhanh của cặp mắt xẫm tuyệt đẹp. Thân hình lý tưởng, bộ cánh đẹp đẽ – thật là lạ lùng khi có thể trông thấy một người như thế trên con đường hoang vắng nằm giữa khu đầm lầy! Lúc tôi ngoảnh  lại thì cái nhìn của người phụ nữ đang hướng về phía Xtepltôn, nhưng rồi cô ta rảo bước đi đến gần tôi. Tôi ngả mũ định giải thích sự có mặt của mình ở đây thì đột nhiên những lời nói của cô ta đẩy ý nghĩ của tôi sang một hướng hoàn toàn khác.

- Hãy đi khỏi đây đi! – Cô ta nói – Hãy nhanh chóng trở về Luân Đôn đi!

Để trả lời, tôi chỉ có thể nhìn cô với vẻ kinh ngạc. Mắt cô sáng long lanh, một chân cô dậm dậm tỏ vẻ sốt ruột.

- Tại sao tôi phải rời khỏi đây? – Tôi hỏi.

- Hãy đừng yêu cầu giải thích – Cô ta nói nhỏ, nhanh và ngọt ngào – Xin hãy nghe lời khuyên của tôi! Hãy đi khỏi đây để không còn những dấu chân của ông trên khu đầm lầy này nữa.

- Nhưng tôi mới đến đây mà!

- Trời ơi! – Cô kêu lên – Lẽ nào ông không hiểu là tôi chỉ mong điều tốt lành cho ông? Khẽ chứ! Anh trai tôi đang đến đấy! Ông đừng có nói với anh ấy một lời nào… Hãy làm ơn ngắt cây phong lan này cho tôi với. Nơi chúng tôi đây có rất nhiều phong lan, nhưng ông đến đã hơi muộn mất rồi: tới mùa thu chúng bắt đầu tàn, và thiên nhiên ở đây phần nào mất đi vẻ đẹp của mình.

Xtepltôn đã từ bỏ việc đuổi theo con bướm, đang đi đến chỗ chúng tôi, toàn thân đỏ bừng, miệng thở hổn hà hổn hển.

- Em đấy à, Beril! – Ông ta nói và tôi không cảm thấy nỗi bực tức đặc biệt nào trong lời chào hỏi này.

- Anh nổi nóng rồi đấy, Đjiêk ạ!

- Đúng, anh vừa đuổi bắt một mẫu vật cyclopides tuyệt trần. Ở đây, vào cuối thu ít khi trông thấy chúng. Hãy nghĩ mà coi, tiếc làm sao – đã không bắt được!

Ông ta nói với giọng khinh khi trầm tĩnh rồi chuyển đôi mắt nhỏ màu xám của mình từ em gái sang tôi.

- Hình như hai người đã kịp làm quen với nhau?

- Vâng. Em nói với ngài Genri rằng bây giờ mà ngắm nghía vẻ đẹp của khu đầm lầy chúng ta thì đã muộn mất rồi – hoa phong lan đang tàn.

- Cái gì? Em nghĩ ai đang ở trước mặt em vậy?

- Ngài Genri Baxkêrvili.

- Không, không phải đâu – Tôi nói – Chớ ban cho tôi một cái họ xa lạ như vậy. Tôi chỉ là bạn của ngài Genri, bác sĩ Oátxơn.

Vẻ bực bội lan toả trên gương mặt tình tứ của cô gái.

- Nghĩa là chúng ta nói mà không hiểu nhau.

- Đúng, ông ấy không có nhiều thời gian để chuyện trò đâu – Xtepltôn lưu ý, tiếp tục tò mò nhìn em gái.

- Em lầm bác sĩ Oátxơn với người láng giềng của chúng ta – Cô ta nói – Rất có thể ông ta không hoàn toàn để ý bây giờ phong lan có nở hay không. Nhưng dù sao ông cũng rẽ vào chỗ chúng tôi Mêripít chứ?

Vài phút sau chúng tôi đã đến gần một trang trại vẻ tiêu điều. Trang trại này có lẽ thời gian trước đây dùng làm chỗ ở cho khu chăn nuôi trâu bò phát đạt, và sau đó được xây dựng lại theo kiểu hiện đại hơn. Bao quanh trang trại là một khu vườn nhỏ. Cây cối ở đây cũng giống như khắp nơi trong khu đầm lầy thấp bé và còi cọc. Phảng phất trong vùng là vẻ nghèo nàn và buồn bã. Người hầu mở cửa cho chúng tôi trong bộ áo ngoài màu hung trông nhăn nheo già cả y hệt như ngôi nhà. Nhưng chính các căn phòng lại khiến tôi ngạc nhiên bởi sự rộng rãi và vẻ lịch sự trong cách bài trí, cái sau có lẽ cần gán cho thị hiếu của chủ nhà. Tôi nhìn qua ô cửa sổ đến khu đầm lầy rải đầy những tảng đá hoa cương kéo dài vô tận tới đường viền hơi nổi lên phía xa xa của chân trời và không thể không nghĩ rằng: “Điều gì đã đẩy con người học thức kia cùng cô em gái xinh đẹp của ông ta đến chống hoang vu này?”.

- Chúng tôi đã chọn một nơi kỳ cục để nương thân phải không? – Xtepltôn nói hình như để trả lời những ý nghĩ của tôi – Dẫu sao chăng nữa ở đây chúng tôi vẫn sống tốt. Có đúng không, Beril?

- Vâng, rất tốt – Cô ta trả lời, nhưng dường như những lời nói của cô ta vang lên không được tự tin cho lắm.

- Tôi có một trường học tại một trong những địa phận miền Bắc – Xtepltôn nói – Với một người có tình khí như tôi thì công việc như thế là khô khan và kém hứng thú, thế nhưng có một cái gì đã cuốn hút tôi vào công việc này. Đó là sự gần gũi mật thiết với tuổi trẻ. Thật hạnh phúc biết bao khi chính mình truyền đến cho họ những lý tưởng của mình khi nhìn thấy ngay trong mắt mình những trí tuệ non trẻ đang được hình thành! Nhưng số phận đã xoay chuyển ngược lại ý muốn của chúng tôi. Các trận dịch bệnh bột phát ở trong trường làm ba đứa trẻ bị chết. Chúng tôi đã không cứu vãn được tình hình sau vụ ấy, phần lớn vốn của tôi đã bị mất không sao hoàn lại được. Giá như không có sự ly biệt với những chú bé thân yêu của tôi thì tôi đã không buồn phiền trước thất bại ấy, bởi lẽ đối với mọi người say mê động vật và thực vật như tôi thì ở đây vẫn còn khối việc phải làm, và cả em gái tôi nữa – đấy là một người rất yêu thích thiên nhiên. Điều đó đã được thừa nhận, bác sĩ Oátxơn ạ! Ông gợi lên ý nghĩ sau trong đầu tôi: ông đã tự do hưởng cái nhìn rầu rĩ như thế từ những ô cửa sổ này tới khu đầm lầy của chúng tôi!

- Vâng, không phủ nhận là tôi thực sự cảm thấy rằng sống ở đây không hẳn đã khiến ông buồn nhưng chắc chắn đã làm em gái ông buồn.

- Không, tôi không buồn – Cô ta trả lời.

- Chúng tôi bận bịu công việc khoa học, chúng tôi có một thư viện lớn và những láng giềng thật thú vị. Bác sĩ Môrtimêrơ là một người rất uyên thâm trong lĩnh vực của mình. Ngài Tsarlizơ bất hạnh cũng là người láng giềng tuyệt vời. Chúng tôi với ngài là những người rất gần gũi. Tôi thậm chí không thể truyền đạt cho ông hiểu tổn thất này nặng nề đối với chúng tôi như thế nào đâu. Ông sẽ nói sao nếu hôm nay tôi sẽ đến thăm ngài Genri? Việc đó sẽ không cản trở ngài chứ?

- Tôi tin là ngài rất vui khi được quen biết ông.

- Vậy thì hãy làm ơn báo trước cho ngài biết. Rất có thể tôi sẽ giúp ngài được điều gì vào những ngày đầu ngài còn chưa am hiểu nơi mới đến chăng. Còn bây giờ, bác sĩ Oátxơn, hãy cùng lên trên lầu, tôi sẽ cho ông coi bộ sưu tập của mình. Tôi dám chắc rằng ông sẽ không tìm thấy một bộ sưu tập nào đầy đủ hơn ở phần đất này của nước Anh đâu. Vào lúc chúng ta kết thúc thì bữa sáng sẽ được dọn xong.

Nhưng tôi đã kịp nghĩ tới người được bảo trợ của mình, ngài Genri. Vẻ hiu quạnh của khu đầm lầy, cái chết của con ngựa pôni bất hạnh, tiếng rống bí ẩn có liên quan như thế nào đó tới truyền thuyết huyền ảo tồn tại trong dòng họ Baxkêrvili – Tất cả khiến tôi buồn đến não lòng. Thêm vào những ấn tượng ít nhiều không ổn định ấy là những lời nói không hoàn toàn mập mờ được phát ra từ cửa miệng cô Bêri với sức tin cậy đến mức tôi không còn phải hoài nghi về tính nghiêm trọng và sự sâu xa của những nguyên nhân thôi thúc những lời nói đó phát ra. Tôi đã từ chối lời mời ăn sáng khẩn khoản của chủ nhân và theo chính đường mòn ấy trở về nhà.

Thế nhưng, ngoài lối mòn ấy ra, ở đây rõ ràng còn một đường khác ngắn hơn, bởi vì lúc tôi còn chưa kịp ra đường lớn thì đã trông thấy cô Xtepltôn ở ngay trước mặt mình. Nước da ửng hồng sáng lên trên đôi má càng khiến cô lộng lẫy hơn. Cô ngồi trên tảng đá bên đường, thở mạnh, một tay đặt lên ngực.

- Tôi muốn vượt lên trước ông, bác sĩ Oátxơn ạ, và suốt chặng đường tôi đã chạy – Cô ta nói – Thậm chí mũ tôi cũng không kịp mang nữa. Tôi sẽ bị ngăn cản nếu anh trai tôi có thể nhận ra sự vắng mặt của mình. Tôi chỉ muốn yêu cầu ông bỏ qua cho lỗi lầm ngu xuẫn của tôi: bởi vì tôi đã nhầm ông với ngài Genri. Xin ông hãy quên tất cả những gì tôi  đã nói đi. Điều đó không có can hệ gì tới ông đâu.

- Tôi làm sao có thể quên được điều đó, bà Xtepltôn. Số phận của bạn tôi, ngài Genri, khiến tôi rất quan tâm. Hãy nói cho tôi được biết vì sao bà lại yêu cầu ông ấy đi Luân Đôn?

- Tính bất thường đàn bà ấy mà, bác sĩ Oátxơn! Khi tôi với ông quen biết nhau hơn thì ông sẽ nhận thấy là không phải lúc nào tôi cũng có thể giải thích được những lời nói và hành vi của mình.

- Không, không phải! Tôi nhớ là giọng nói của bà lo ngại như thế nào và còn nhớ cả đôi mắt của bà nữa. Bà Xtepltôn, hãy cởi mở với tôi đi, tôi yêu cầu bà đấy! Chỉ mới đến đây mà tôi lập tức đã cảm thấy có những bóng ma nào đó quanh tôi. Tựa như đi vào vùng đầm lầy Grimpenơ này sẽ bị ngập đầu vào một trong những vùng nước xanh xanh ấy và sẽ không có một ai có thể cứu ta ra khỏi đó. Hãy giải thích xem bà ám chỉ điều gì và tôi sẽ chuyển lời phòng ngừa như thế nào của bà tới ngài Genri?

Một thoáng do dự lướt trên khuôn mặt cô Xtepltôn, nhưng chỉ một thóang sau cái nhìn của cô lại trở nên nghiêm khắc, cô trả lời tôi:

- Ông đã mang đến cho những lời của tôi ý nghĩa cực kỳ hệ trọng, bác sĩ Oátxơn ạ! Cái chết của ngài Tsarlizơ đã gây chấn động mạnh trong tôi cùng anh trai tôi. Chúng tôi thường xuyên gặp người đã khuất, vì cuộc dạo chơi ưa thích nhất của ngài ấy là theo đường mòn này đi đến nhà chúng tôi. Truyền thuyết về lời nguyền đè nặng lên dòng họ Baxkêrvili luôn ám ảnh ngài Tsarlizơ, và khi thảm hoạ xảy ra thì tôi hiểu rằng sự lo ngại của ngài đã được xác minh. Giờ đây, việc trở về của người kế thừa ngài Tsarlizơ làm tôi rất day dứt, và tôi coi việc báo trước cho ngài ấy biết về mối nguy hiểm này là cần thiết. Đấy là tất cả, tôi không muốn nói một điều gì khác nữa đâu.

- Thế nhưng theo bà thì mối nguy hiểm này ở chỗ nào?

- Ông biết truyền thuyết về con chó chứ?

- Tôi không tin vào điều nhảm nhí ấy.

- Còn tôi thì tin. Nếu ông có những ảnh hưởng nào đó đối với ngài Genri, thì ông hãy đưa ngài ra khỏi đây. Đó là một nơi rất nguy hiểm đối với dòng họ Baxkêrvili. Thế giới là vô cùng tận. Vì sao ngài Genri cần phải sống ở nơi mối nguy hiểm luôn đe doạ mình?

- Chắc là vì một lẽ nào đấy khiến ông quyết định sống ở đây. Đặc tính của con người ấy là như thế và nếu bà chưa bày tỏ rõ ràng hơn thì chưa hẳn tôi đã thành công trong việc đưa ông ấy đi khỏi đây.

- Tôi không thể cho ông biết những hiểu biết xác định hơn vì một lẽ đơn giản là tôi không có những hiểu biết ấy.

- Vậy thì, bà Xtepltôn này, xin phép đặt một câu hỏi: Nếu đúng đấy là tất cả những gì bà cần nói với tôi thì tại sao bà lại sợ anh trai bà nghe thấy? Theo tôi, ở đấy không có một điều gì khiến anh trai bà và một người nào khác có thể quan tâm cả.

- Anh trai tôi rất không muốn lâu đài Baxkêrvili lại không có chủ nhân. Điều đó sẽ gây ảnh hưởng xấu tới dân nghèo sinh sống trên khu đầm lầy ở đây. Anh ấy rất giận tôi nếu biết rằng tôi gắng bằng cách nào đấy tác động tới ngài Genri. Nhưng tôi đã làm xong nghĩa vụ của mình và tôi sẽ không nói thêm một điều gì nữa cả. Bây giờ tôi phải đi đây, không nên để anh ấy nghi ngờ là tôi đã nói với ông. Xin tạm biệt!

Cô ta quay trở về, và chẳng bao lâu đã khuất sau những tảng đá, còn tôi thì lòng tràn ngập những nỗi khiếp đảm mơ hồ hướng tới lâu đài Baxkêrvili rảo bước.

 

 

CHƯƠNG VIII

BẢN PHÚC TRÌNH ĐẦU TIÊN CỦA BÁC SĨ OÁTXƠN

 

Bắt đầu từ ngày này tôi sẽ trình bày quá trình diễn biến của các sự kiện theo những lá thư của mình gửi  Sơlốc Hôm, những lá thư đang nằm trên bàn ngay trước mắt tôi đây. Chúng được bảo quản đầy đủ, nếu không tính đến một lá bị thất lạc, và chúng sẽ truyền đạt những ý nghĩ  cùng những mối ngờ vực của tôi chính xác hơn những gì tôi có thể làm được chỉ dựa vào trí nhớ của mình, mặc dầu những sự kiện bi thảm của những ngày ấy vẫn chưa phai mờ trong trí nhớ của tôi.

Lâu đài Baxkêrvili, 13 tháng 10

Hôm yêu quý!

Theo những lá thư và những bức điện của tôi, anh đã biết được tất cả những gì xảy ra vào thời gian gần đây trong xó xỉnh buồn bã nhất này của thế giới. Càng sống lâu ở đây, nỗi buồn của khu đầm lầy này của khoảng không gian vô tận này (Tuy nhiên vẫn không mất đi vẽ mỹ miều huyền ảo nào đó) càng thấm sâu vào tâm hồn ta. Chỉ có tôi là cần đi vào đây, và tôi cảm thấy nước Anh hiện đại đã lưu lại ở một nơi nào đó phía sau, thay thế nó, ta sẽ nhìn thấy xung quanh mình chỉ những dấu tích sinh hoạt và lao động của con người thời tiền sử. Bộ tộc đã biến mất từ lâu này luôn được gợi nhớ lại ở khắp mọi nơi – đây là hang động của họ, kia là những nấm mồ, và kia nữa là những tảng đá khổng lồ có lẽ chứng minh cho tinh thần của họ. Khi nhìn những triền núi bị đào bới bởi những công cụ thô sơ làm thành những hang động này ta như quên mất là mình đang sống ở thế kỷ nào. Và nếu như dưới vòm mái thấp của một trong những hang động đó đột nhiên xuất hiện một người choàng lông thú, râu ria xồm xoàm, đặt mũi tên có đầu bịt đá vào cung thì anh sẽ thấy rằng sự tồn tại của con người ấy thích hợp hơn so với sự tồn tại của anh. Điều lạ lùng hơn hết là những người này chuyển đến rất đông ở vào một nơi cằn cỗi như vậy. Tôi không phải là nhà khảo cổ, nhưng theo tôi đấy là một bộ lạc hoàn toàn không có tinh thần thượng võ mà đúng hơn là một bộ tộc bị đè đầu cưỡi cổ nên thoả mãn với cái mà các bộ tộc khác chối từ.

Tuy nhiên, tất cả những điều vừa nói không hề có liên quan chút nào tới sự có mặt của tôi ở đây, và chắc có lẽ cũng không hề làm một người đặc biệt coi trọng thực tế như anh quan tâm. Cho đến bây giờ tôi vẫn không đủ sức quên đi thái độ thờ ơ của anh tới vấn đề: mặt trời quay quanh trái đấy hay trái đất quay quanh mặt trời. Vậy thì hãy chuyển sang những sự kiện có quan hệ trực tiếp tới ngài Genri Baxkêrvili vậy.

Một vài ngày gần đây anh đã không nhận được từ tôi một tin tức nào chỉ  bởi một lý đơn giản là tôi không biết kể về cái gì cả. Thế nhưng từ khi một sự kiện lạ mà tôi sẽ trình bày cho anh rõ xảy đến, thì giờ đây chúng ta đã nắm được những tình tiết khác khá quan trọng đối với vụ án của chúng ta.

Một trong những tình tiết ấy là người tù khổ sai ẩn náu trong khu đầm lầy. Điểm này cực kỳ quan trọng mặc dầu tôi đã hầu như không nhắc đến trong những bức thư của mình. Có toàn bộ cơ sở để giả định rằng hắn đã rời khỏi vùng này và sống yên ổn tại những trang trại đơn độc nào đó. Từ khi hắn tháo chạy đến giờ đã hai tuần trôi qua. Thật khó tưởng tượng nổi một người có thể sống qua thời gian như thế trên khu đầm lầy. Thật ra ở đấy cũng có nơi trú thân. Bất kỳ chiếc hang đá nào cũng có thể thành nơi nương náu của hắn. Nhưng thiếu ăn thì không thể sống nổi. Phải chăng chỉ có thể là hắn lùng và giết cừu. Không, rõ ràng là hắn rời khỏi vùng này vào lúc những người sống ở các trang trại đang ngủ say.

Chúng tôi, bốn người đàn ông khoẻ mạnh, lực lưỡng sống ở lâu đài Baxkêrvili trong tình huống nào cũng tự bảo vệ được mình, nhưng xin thú thật với anh, khi nghĩ tới Xtepltôn, tôi lo ngại không yên. Họ không có những láng giềng gần gũi nên khó nhờ cậy vào sự giúp đỡ của ai cả. Người nữ hầu phòng, một đầy tớ già, em gái và anh trai – người sau cùng chắc có lẽ tuyệt nhiên không phải là một đại lực sĩ – Đấy là tất cả những người sinh sống ở Mêripít – Khaiuxơ. Họ hoàn toàn thiếu sự giúp đỡ. Họ sẽ trong tay tên giết người Nôttingơ – Khil này nếu hắn đột nhập vào nhà của họ. Tôi và ngài Genri rất lo ngại cho họ, và thậm chí muốn để người chăn ngựa Perkinxơ ngủ lại ở Mêripít – Khaiuxơ, nhưng Xtepltôn không chịu nghe.

Sự thật thì vị nam tước bạn của chúng ta bắt đầu biểu lộ sự thích thú mãnh liệt đối với người hàng xóm tuyệt vời này của mình. Và điều đó không có gì đáng ngạc nhiên cả bởi vì ông ta là một người linh hoạt, ưa hoạt động, còn cô em gái, phải thú nhận là người đàn bà đẹp đến mê hồn. Cô có một lòng nhiệt tâm rất kỳ lạ nào đó, đối lập với ông anh – một người điềm tĩnh và hoàn toàn lãnh đạm. Vào thời gian này trong ông ta rõ ràng là có một ngọn lửa bí ẩn nào đấy. Cứ xét theo mọi phương diện thì ông ta có ảnh hưởng lớn tới em gái mình. Nhiều lần trong khi nói chuyện, tôi có dịp bắt gặp những cái nhìn của cô hướng về ông anh mình hình như đón chờ sự đồng tình của ông. Tôi mong muốn họ sống hoà thuận với nhau. Những cái nhìn lạnh lùng và cặp môi mỏng mím lại như thế thường chứng tỏ một tính cách rắn rỏi và có thể là nghiêm khắc. Dẫu sao, nhà tự nhiên học này cũng là một điển hình lý thú và anh cố nhiên là đã quan tâm tới ông ta.

Ông ta đến thăm ngài Genri vào ngày hôm đó và sáng ngày hôm sau ông đã đưa chúng tôi đến nơi diễn ra sự cố có quan hệ tới truyền thuyết về Gugơ phóng đãng. Chúng tôi đi sâu vào khu đầm lầy tới vài dặm, lọt vào một bình nguyên không lớn trông huyền ảo như chính nó đã nảy sinh ra truyền thuyết nọ. Một lối hẹp nằm giữa những cột đá bị bầm náy đưa chúng tôi tới bãi cỏ thoáng đãng. Ở giữa bãi cỏ có hai tảng đá lớn còn lại ở phía trên khiến người ta liên tưởng tới những chiếc nanh khổng lồ rữa nát của con quái vật nào đấy. Mọi thứ ở đây hoàn toàn phù hợp với sự mô tả khung cảnh bùng nổ tấn bi kịch xưa kia. Ngài Genri chăm chú quan sát mọi hướng, luôn mồm hỏi Xtepltôn, lẽ nào con người này tin vào khả năng cản trở của sức mạnh siêu nhiên tới công việc của con người. Giọng ngài có vẻ khinh mạn nhưng hình như mối quan hệ của ngài với tất cả những chuyện này lại rất nghiêm trọng. Xtepltôn trả lời một cách dè dặt. Ông ta không nói nhiều và công khai tỏ ra xót thương cho nỗi lòng của vị nam tước trẻ tuổi. Ông kể cho chúng tôi nghe một vài trường hợp tương tự khi mà các gia đình từ đời này qua đời khác đã tự mình trải qua những tác động của những sức mạnh bất lương nào đó và sau tất cả những chuyện ấy chúng tôi có ấn tượng là Xtepltôn cùng nhiều người khác sinh sống ở đây tin vào truyền thuyết về con chó của dòng họ Baxkêrvili.

Khi quay trở lại, chúng tôi tạt vào ăn sángở Meripito – Khaiuxơ. Ngài Genri làm quen với cô Xtepltôn từ lúc nào chẳng rõ. Cô ta đã cuốn hút ngài ngay từ lúc mới gặp nhau và chưa chắc tôi đã lầm nếu cho rằng đấy là tình cảm qua lại. Lúc chúng tôi trở về thì chốc chốcngài lại nói về cô ta, và từ đó trở đi không ngày nào là  chúng tôi không gặp gia đình Xtepltôn. Hôm  nay họ ăn cơm trưa ở chỗ chúng tôi và ngài Genri đã nói đến chuyến viếng thăm họ vào tuần tới.

Hình như, Xtepltôn không mong mỏi một người chồng tốt cho em gái mình, vì tôi nhiều lần nhận thấy ông ta nhăn nhó trước ảnh hưởng của ngài Genri tới cô. Chắc có lẽ Xtepltôn gắn bó với em gái và sợ sống đơn độc một mình. Nhưng đó chỉ là biểu hiện tột bậc của tính vị kỷ khi ngăn cản một đám quá bời như thế! Tuy nhiên trong thực tế, Xtepltôn rõ ràng không muốn tình bạn này chuyển thành tình yêu, và theo sự quan sát của tôi thì ông ta đã bằng mọi cách gắng không để họ ở lại một mình với nhau. Nhân thể nói thêm, nếu vụ án này bị mối tình làm rối rắm thêm thì lời căn dặn theo sát ngài Genri của anh hầu như sẽ không được hoàn thành, vì nếu tôi tuân thủ theo mệnh lệnh ấy một cách nghiêm chỉnh thì, hãy nghĩ mà xem, thanh danh của tôi ở đây sẽ bị lu mờ đi biết mấy!

Gần đây, chính xác hơn là vào thứ năm, bác sĩ Môrtimêrơ có ăn sáng ở chỗ chúng tôi. Ông tiến hành khai quật ngôi mộ cổ ở vùng dưới và tìm thấy ở đó chiếc sọ người thời tiền sử. Điều này đã khiến ông thích thú khôn xiết. Không thể tìm được người thứ hai có lòng nhiệt tâm với công việc của mình như thế. Anh em Xtepltôn có mặt sau bữa ăn. Theo yêu cầu của ngài Genri, người bác sỹ có tấm lòng nhân hậu bậc nhất này đã dẫn tất cả chúng tôi tới con đường rậm rạp bóng cây để chỉ cho mọi người biết vào cái đêm thảm khốc ấy mọi chuyện đã diễn ra như thế nào. Con đường chạy dài, mờ ảo, cả hai phía đều có những rãnh đất nhỏ hẹp và những cây thuỷ tùng được xén tỉa làm thành bức tường dày xít.

Nhà hóng mát đổ nát nằm ở phía cuối con đường. Chính giữa có cửa hàng giậu dẫn ra khu đầm lầy mà cạnh đó ông già Baxkêrvili đã gẩy tàn thuốc lá. Cửa bằng gỗ, sơn trắng được cài then. Vùng đầm lầy bao la trải ra phía sau nó. Tôi nhớ tới quan niệm của anh về sự cố đã xảy ra ở đây và gắng hình dung tất cả điều đó xảy ra như thế nào. Khi đứng cạnh cửa hàng rào, ông già Baxkêrvili nhìn thấy một cái gì đó từ khu đầm lầy tiến đến gần ngài. Bóng ma này đã khiến ngài sợ hãi đến kinh hoàng. Ngài bỏ chạy, chạy cho đến lúc ngã vật xuống, tắt thở vì hoảng sợ và kiệt sức. Thế nhưng, con vật nào đã khiến ngài chạy? Con chó becgiê nào đấy từ khu đầm lầy chăng? Hay là con chó ma quái, to lớn, đen thui và lặng thinh nọ? Cũng có thể đó là việc làm của đôi bàn tay con người? Có lẽ Berimôrơ xanh xao, lo ngại kia biết nhiều hơn những gì ông ta nói ra? Sương mù và tình trạng hoàn toàn bất định – Đó là bóng đêm ẩn náu của tội ác.

Kể từ lá thư cuối cùng tôi viết cho anh đến giờ, tôi còn làm quen được với một trong số những láng giềng của chúng tôi, ông Phrênklênđơ ở lâu đài Lêphtêrơ, cách chúng tôi 4 dặm về phía nam. Đấy là một ông già tóc bạc phơ, mặt đỏ và rất hay cáu kỉnh. Ông Phrênklênđơ là một người sùng bái pháp luật Anh Quốc, đã tiêu xài toàn bộ tài sản vào các vụ kiện tụng đủ loại. Ông ta thưa kiện độc chỉ vì sở thích riêng, khi thì phát đơn với tư cách nguyên cáo, khi lại phát đơn với tư cách bị cáo. Những trò tiêu khiển ấy như chính anh cũng hiểu đấy chỉ là những thứ rẻ tiền. Đột nhiên trong óc ông lởn vởn ý định ngăn cấm việc đi lại cạnh lãnh địa của ông – mặc cho hội đồng xứ đạo chứng minh là điều đó không đúng. Sau đó tự tay ông phá hàng giậu của ai đó và tuyên bố rằng ở đấy từ xưa đã có một con đường đi qua – mặc cho chủ nhân kiện ông vi phạm ranh giới đất đai thuộc quyền sở hữu của người khác. Ông biết rành rọt những đạo luật công xã cổ xưa và ông đã sử dụng những hiểu biết của mình, lần này thì theo nhu cầu của làng Phêruvôrxơ bên cạnh, lần khác thì lại chống lại nhu cầu của họ, vì thế dân làng ở đây khi thì thay phiên nhau kênh ông lên với nỗi hân hoan ra mặt, khi thì đốt tượng trưng hình nộm của ông. Người ta nói rằng hình như bây giờ trong tay ông Phrênklênđơ có tới bảy vụ kiện, chắc có lẽ chúng sẽ ngốn hết số dư tài sản của ông. Như vậy ông ta sẽ bị mất ngòi và sẽ trở thành một người vô hại, một ông già ưa hoà bình. Trong tất cả những mối quan hệ khác thì đây là một người mềm mỏng nhân hậu và tôi nhắc tới ông ta chỉ bởi vì anh yêu cầu mô tả tất cả những người láng giềng của chúng tôi.

Hiện giờ ông Phrênklênđơ đã tìm cho mình một công việc rất kỳ quặc. Là một người yêu thích thiên văn học, lại có trong tay chiếc kính viễn vọng tuyệt vời nên suốt ngày ông ngồi trên mái nhà mình quan sát khu đầm lầy với hy vọng phát hiện ra tên tù khổ sai vượt ngục. Giá ông Phrênklênđơ dùng nhiệt tình hoang phí của mình chỉ vào việc đó thì cũng tốt thôi, nhưng nghe đâu hình như ông ta còn có ý định kiện bác sĩ Môrtimêrơ vì đã đào ngôi mộ nào đấy chưa được sự đồng ý của những họ hàng gần gũi nhất của người được mai táng. Anh đoán thế nào về câu chuyện chiếc sọ của người thuộc thời đại đồ đá mới được tìm thấy trong việc khai quật ngôi mộ cổ ở vùng dưới. Đúng, ông Phrênklênđơ mang vào cuộc sống của chúng ta một vài sắc thái đa dạng và hiện giờ đối với chúng ta thì không có gì đúng lúc hơn thế.

Sau khi thông báo cho anh tất cả những gì có thể thông báo được về người tù khổ sai chạy trốn, về anh em Xtepltôn, về bác sĩ Môrtimêrơ, về ông Phrênklênđơ, bây giờ tôi sẽ chuyền sang điểm quan trọng nhất, kể về vợ chồng Berimôrơ, và nói riêng về những sự kiện lạ lùng xảy ra vào đêm hôm nay.

Tôi sẽ bắt đầu từ bức điện được anh chuyển từ Luân Đôn với mục đích xác nhận xem Berimôrơ vào ngày hôm ấy có ở nhà hay không. Anh đã biết câu chuyện giữa tôi và người phụ trách bưu điện để từ đó xác định rằng, sự kiểm tra của chúng ta không đem lại kết quả gì cả và chúng ta đã không nhận được những thông tin cần thiết. Tôi có kể cho ngài Genri về sự thất bại này của mình. Với tính hồn nhiên vốn có, ngài đã gọi ngay Berimôrơ đến, hỏi ông ta về bức điện, Berimôrơ nói là có nhận được bức điện.

- Chú bé đã chuyện bức điện tận tay ông phải không? – Ngài Genri hỏi.

Berimôrơ ngạc nhiên nhìn ngài và suy nghĩ chừng một phút.

- Không – Ông ta nói – Lúc đó tôi ở trên gác thượng và vợ tôi mang bức điện đến cho tôi.

- Chính ông viết điện trả lời?

- Không, tôi nói với vợ tôi nên trả lời ra sao, cô ấy xuống dưới và viết.

Buổi chiều Berimôrơ lại trở về chủ đề này theo sáng kiến riêng của mình.

- Ngài Genri, tôi không thật hiểu tại sao, ngài lại lục vấn đề tôi về bức điện ấy – Ông ta nói – Phải chăng tôi đã có lỗi gì đó, và đã làm mất sự tin cậy của ngài?

Ngài Genri gắng thuyết phục Berimôrơ là điều đó không phải như vậy và để hoàn toàn an ủi ông ta, ngài đã tặng cho ông ta khá nhiều đồ dùng cũ của mình, vì những đồ ngài mới sắm sửa ở Luân Đôn đã được chuyển về lâu đài Baxkêrvili.

Bà Berimôrơ rất hay chú ý đến tôi. Đấy là người đàn bà rất đứng đắn, đáng kính với những ham thích thuần tuý và có lẽ với trí tuệ không được trội lắm. Hình như thật khó hình dung ra một người đằm tính hơn. Nhưng, anh đã biết rồi đấy, vào đêm đầu tiên khi đến đây tôi đã nghe thấy những tiếng khóc thổn thức của bà. Và từ ngày đó nhiều lần tôi có dịp nhận thấy dấu vết của những giọt nước mắt trên khuôn mặt bà. Có nỗi đau khổ nặng nề nào đó hành hạ người đàn bà này. Một lần khác, ý nghĩ sau nảy sinh ra trong đầu tôi: rất có thể đó là những nỗi giày vò của lương tâm không trong sạch chăng? Sau đó, tôi bắt đầu nghi ngờ. Berimôrơ có thể là một tên báo chúa trong gia đình. Tôi thường xuyên cảm thấy đấy là người kỳ cục, đáng khả nghi. Và những sự kiện của đêm qua càng làm tăng thêm mối ngờ vực của tôi.

Tuy vậy, và thực chất sự cố này không quan trọng đến thế. Chắc có lẽ anh còn nhớ tôi ngủ không thật say lắm, và ở đây, tại lâu đài Baxkêrvili, khi lúc nào cũng phải cảnh giác đề phòng thì tôi ngủ càng thính hơn. Đêm qua, lúc gần hai giờ, tôi nghe thấy tiếng những bước chân len lén cạnh phòng mình. Tôi trở dậy, mở cửa và nhìn ra hành lang, thấy loáng thoáng bóng đen, dài của một ai đó – chiếc bóng của một người trên tay cầm ngọn nến bước rón rén theo hành lang. Ông ta mặc áo lót, quần dài, đi chân đất. Tôi chỉ nhận ra được hình dáng lờ mờ của con người ấy, nhưng theo vóc người, tôi đoán đấy là Berimôrơ. Ông ta bước chầm chậm, lặng lẽ, và trong từng cử động của ông có cái gì vụng trộm, lo ngại.

Qua những lá thư của tôi, anh đã biết rằng cả hai hành lang được giao nhau bởi một hành lang khác bao quanh lâu đài. Chờ cho tới khi Berimôrơ đi khuất, tôi bắt đầu lần theo vết của ông ta. Tôi bước tới hành làng giao nhau thì ông đã ở hành lang phía bên kia, và sau đó ánh sáng loé lên trong cửa ra vào để ngỏ của một căn phòng – thế có nghĩ là ông ta đã vào đấy. Cần nói với anh rằng các phòng này không có người ở, thậm chí không có đồ gỗ. Bởi thế hành vi của Berimôrơ là hoàn toàn bí ẩn. Ông ta đứng ở đó có lẽ là bất động vì ngọn lửa của cây nến không hề lung lay. Tôi gắng bước khẽ khàng hơn, vượt qua suốt hành lang rồi từ ngoài liếc nhìn qua cánh cửa để ngỏ.

Berimôrơ đứng nép mình cạnh cửa sổ, đưa cây nến đến gần tấm kính. Tôi trông nghiêm thấy khuôn mặt ông đờ đẫn trong sự chờ đợi căng thẳng; mắt ông hướng ra bóng đêm mờ mịt của khu đầm lầy. Ông ta chăm chăm nhìn qua cửa sổ đến vài phút, sau đó ông khẽ rên rỉ và bằng một cử chỉ nôn nóng ông tắt ngọn nến đi. Lúc bấy giờ tôi quay trở về phòng mình và chẳng bao lâu tôi nghe thấy tiếng những bước chân lén lút phía ngoài cửa ra vào. Sau một thời gian khá lâu, xuyên qua giấc ngủ mơ màng, tôi nghe thấy ở một nơi nào đó có ai đang vặn chìa khoá trong ổ, nhưng thật khó xác định âm thanh này vọng tới từ đâu.

Tôi không hiểu tất cả những cái đó nghĩa là thế nào, nhưng trong ngôi nhà ảm đảm này rõ ràng có những việc làm bí ẩn nào đó đang được tiến hành và rồi sớm hay muộn chúng ta cũng sẽ lần ra manh mối của chúng. Tôi không thể quấy nhiễu anh bằng việc trình bày ý kiến riêng của mình về bản phúc trình này, vì anh chỉ đòi hỏi thông báo tới anh những sự kiện. Sáng nay tôi nói chuyện lâu với ngài Genri. Dựa trên những điều quan sát ban đêm của tôi, chúng tôi đã thảo ra kế hoạch cho một chiến dịch hành động. Nhưng trước lá thư tiếp theo, tôi sẽ lơ đi  không nói về cái điều chỉ có lợi cho kế hoạch này.

 

CHƯƠNG IX

BẢN PHÚC TRÌNH THỨ HAI CỦA BÁC SĨ OÁTXƠN

 

Lâu đài Baxkêrvili, 15 tháng 10

Hôm yêu quý!

Nếu thời gian đầu tiên sau khi đến đây phái viên của anh không chiều chuộng được anh bởi những tin tức mới, thì xin thú thật rằng giờ đây hắn muốn chuộc lại sơ sót ấy bởi vì các sự kiện kế theo nhau diễn ra thật nhanh chóng. Tôi đã kết thúc bản phúc trình gần đây của mình bằng việc mô tả tấn kịch của Berimôrơ cạnh cửa sổ của căn phòng trống không. Từ đó đến nay tôi đã tích góp được hàng đống tin tức chắc chắn sẽ khiến anh vô cùng kinh ngạc. Tôi không làm sao đoán trước được rằng vụ án sẽ quay ngược như thế. Sau hai ngày đêm, tình huống ở phương diện này được sáng tỏ một cách đáng kể, ở một phương diện khác lại trở nên rối rắm hơn. Nhưng tôi sẽ kể cho anh nghe tất cả theo trình tự trước sau để anh có thể tự mình xét đoán về điều đó.

Vào buổi sáng sau cuộc trinh thám ban đêm của tôi, trước giờ ăn, tôi có xem xét căn phòng mà Berimôrơ đã rẽ vào. Cửa sổ mà ông ta đã chăm chú nhìn qua đó có ưu thế so với tất cả cửa sổ khác của toà nhà. Từ đây nhìn ra khu đầm lầy rất rõ. Qua khe hở giữa hai hàng cây, khu đầm lầy hiện rõ mồn một như trong lòng bàn tay vậy, trong khi đấy từ những ô cửa sổ khác hầu như không nhìn thấy nó. Bởi vậy, Berimôrơ chọn cửa sổ này để nhìn ai đó hoặc cái gì đó trên khoảng rộng bao la của khu đầm lầy. Tuy nhiên đêm thì tối mịt, tôi không biết ông ta chờ đợi điều gì. Rồi một ý nghĩ đến trong đầu tôi:rất có thể đó là chuyện dan díu yêu đương nào chăng? Khi đó tất cả đều trở nên dễ hiểu – tính thận trọng trong hành động của ông và nỗi khổ đau của vợ ông. Một người với vẻ ngoài như ông có đủ điều kiện để quyến rũ trái tim của cô gái thôn quê nào đấy, và vì vậy, giả thiết này không phải không có cơ sở. Sau lúc trở về phòng mình, tôi nghe thấy tiếng mở cửa ở đâu đó. Có lẽ Berimôrơ đã đi đến cuộc hẹn hò bí mật nào chăng? Những ý nghĩ đó choán lấy tôi suốt buổi sáng ngày hôm sau. Có thể sau này những mối ngờ vực của tôi trở nên thiếu căn cứ thì sao. Mặc dầu vậy, tôi coi việc thông báo tất cả những điều đó tới anh là cần thiết.

Tôi cảm thấy trách nhiệm của mình sẽ rất lớn nếu không nhắc tới những sự kiện của đêm hôm ấy mà lại ngồi chờ cho tới khi những nguyên do hành động của Berimôrơ được sáng rõ. Sau bữa sáng, tôi cùng nam tước đi vào phòng làm việc của ngài. Tại đây tôi đã kể cho ngài nghe tất cả. Trái với sự chờ đợi của tôi, ngài nghe với một thái độ rất điềm tĩnh.

- Tôi biết Berimôrơ đêm đêm hay đi dạo và tôi định hỏi ông ấy từ lâu rồi – Ngài nói – Một vài lần tôi có nghe thấy tiếng bước chân của ông ta vào khoảng thời gian như ông vừa nói.

- Rất có thể đêm nào ông ấy cũng đi đến cửa sổ này chăng?

- Rất có thể, nếu thế thì cần theo dõi xem ông ta làm gì ở đấy. Thật là thú vị nếu biết trong trường hợp này ông bạn Hôm của chúng ta sẽ xử sự như thế nào?

- Tôi tin rằng anh ấy sẽ làm như vậy thôi – Tôi nói – Lẻn theo sau Berimôrơ và xem ông ấy cần gì ở đó.

- Vậy thì chúng ta hãy cùng làm như thế đi!

- Nhưng ông ấy sẽ nghe thấy chúng ta mất!

- Không, ông ta ngễnh ngãng và dẫu sao cũng cần bạo dạn mà làm thôi. Nào, chúng ta sẽ đợi ông ấy ở phòng tôi vậy!

Ngài thích thú xoa xoa hai tay vào nhau khi nghĩ tới cơ hội nhỏ nhất làm cho dòng đời vốn đơn điệu mà ngài buộc lòng phải trải qua ở nơi đây có thêm một vẻ đa dạng nào đó.

Nam tước đã kịp giao thiệp với viên kiến trúc sư, người chuẩn bị những thiết kế xây dựng lại theo ý định của ngài Tsarlizơ. Ngài đồng thời cho mời người thầu khoán từ Luân Đôn tới. Cho nên ở đây không bao lâu nữa sẽ có những biến đổi lớn lao. Những hoạ sĩ trang trí và những thợ đóng đồ gỗ cũng từ Plimutơ đến. Xét theo mọi phương diện thì người bạn của chúng ta đã vung tay quá rộng, không tiếc cả công sức lẫn tiền của để tái lập sự cao cả xưa kia của dòng họ mình. Khi ngôi nhà trong tương lai được sửa sang và xếp đặt lại, nam tước cần có một người vợ đề hoàn tất bức tranh này. Nói riêng giữa chúng ta biết là có toàn bộ cơ sở để dự đoán rằng vụ án sẽ không dừng lại ở ngoài việc đó, vì ngài say đắm người nữ láng giềng có sức cuốn hút mê hồn của mình – cô Xtepltôn đến mức công việc không tiếp tục tiến triển được nữa. Tuy vậy, mối tình trôi đi không thật phẳng lặng như thường được mong đợi trong những hoàn cảnh tương tự. Ví như hôm nay, trên bề mặt của mối tình đó xuất hiện những gợn sóng lăn tăn làm kinh ngạc và suy kiệt người bạn của chúng ta.

Sau câu chuyện về Berimôrơ, ngài Genri đội mũ và định đi đâu đó. Cố nhiên tôi cũng làm y như thế.

- Ông đi với tôi chứ Oátxơn? – Ngài hỏi sau khi nhìn tôi là lạ thế nào ấy.

- Tuỳ thuộc ở chỗ ngài đi đâu. Nếu đi tới khu đầm lầy thì tôi đi – Tôi trả lời.

- Tới khu đầm lầy.

- Ngài biết những mệnh lệnh chỉ đạo tôi như thế nào rồi đấy. Tôi không muốn cản trở ngài, nhưng Hôm đã không bảo tôi để ngài ở một mình, nhất là trên khu đầm lầy. Chính ngài cũng được nghe điều đó.

Với nụ cười hiền dịu, ngài Genri vỗ vào vai tôi nói:

- Bạn thân mến ạ, dù với tất cả khả năng nhìn xa thấy rộng, Hôm vẫn không thể thấy rõ mọi chi tiết trong sự biến chuyển của cuộc sống của tôi ở đây được. Ông hiểu tôi chứ? Vậy ông cũng như một ai khác chắc đều không muốn ngăn cản tôi. Không, ông cho phép tôi đi một mình.

Tự anh cũng xét đoán được tình cảnh của tôi ra sao rồi! Tôi bối rối khi không biết nói gì và xử sự ra sao, trong lúc ấy ngài Genri đã cầm lấy gậy của mình và đi ra.

Nhưng chỉ cần ít phút suy nghĩ kỹ là lương tâm đã bắt đầu hành hạ tôi – Tại sao tôi cho phép ông ấy đi ra ngoài sự giám sát của mình, rồi sau khi trở lại Luân Đôn tôi sẽ phải thú nhận với anh là sự dễ dãi của tôi đã đẩy chúng ta tới thảm hoạ như thế nào! Tôi như bị ném vào lửa trong ý nghĩ này. Vẫn còn chưa muộn, có thể đuổi kịp ông ấy. Và tôi lập tức đi tới Mêripít – Khaiuxơ. Tôi rảo bước theo con đường lớn. Vẫn chưa nhìn thấy ngài Genri. Vài phút sau tôi đến gần chỗ bắt đầu con đường mòn đi sâu vào khu đầm lầy. Tôi phân vân không biết nên chọn đường nào. Thế là tôi trèo lên quả đồi và từ đó có một khoảng rộng nhìn xuống khu đầm lầy – Những quả đồi vào thời gian nào đó đã là nơi khai thác đá.

Từ đây tôi lập tức nhìn thấy nam tước. Ông bước theo con đường mòn cách tôi chừng bốn dặm, đi cạnh ông là một người đàn bà – đấy không phải ai khác mà là cô Xtepltôn. Vậy là đã rõ, hai người từ lâu đã thoả thuận với nhau về tất cả mọi chuyện, và cuộc gặp gỡ ngày hôm nay không phải là tình cờ. Say sưa với câu chuyện, họ bước đi rất chậm. Và phán đoán theo điệu bộ của cô Xtepltôn thì cô đang gắng thuyết phục ngài Genri tin vào điều gì đấy. Ngài Genri chăm chú lắng nghe cô nói và thỉnh thoảng lắc đầu phủ nhận. Khi không biết ẩn mình vào đâu, tôi đành đứng vào giữa các tảng đá. Đuổi theo họ, phá vỡ câu chuyện thân tình này là không thể được. Nhưng chức trách của tôi ở đâu? Là ở chỗ không được một giây phút nào rời mắt khỏi ngài Genri. Theo dõi bạn mình – đó là công việc thật sự chẳng hay ho gì. Thế mà tôi không nhận thấy cách giải quyết nào khác và quyết định tiếp tục từ đỉnh đồi để quan sát họ, rồi sau này để khỏi phải ân hận tôi sẽ thú nhận lỗi lầm với nam tước vậy. Quả thật, nếu ngài đột nhiên bị nguy hiểm thì tôi cũng sẽ không thể giúp gì được, vì tôi ở xa quá, nhưng chính anh cũng tán đồng là tôi không có điều kiện chọn lựa một cách thức hành động nào khác.

Đi được vài bước, ngài Genri của chúng ta và cô gái dừng lại say mê với câu chuyện của mình, và lúc đó tôi bất ngờ nhận ra rằng tôi không phải là người duy nhất chứng kiến cuộc gặp gỡ của họ. Thấp thoáng giữa hai tảng đá có cái gì đó màu xanh lục. Tôi nhìn kỹ và nhận ra đó là một mảnh màu xanh trên chiếc gậy đi đường. Người mang gậy này đang hướng tới con đường mòn. Hoá ra đó là Xtepltôn với chiếc vợt bắt bướm của mình. Ông ta rõ ràng ở gần đôi uyên ương bé bỏng của chúng ta hơn tôi và đang đi thẳng tới chỗ họ. Vào giấy phút ấy, ngài Genri đang ôm chầm lấy cô Xtepltôn, nhưng cô ta xoay lưng lại gắng thoát khỏi tay ngài. Thế rồi ngài cúi xuống gần cô, còn cô thì lánh khỏi bàn tay của ngài… Sau đấy, họ nhanh chóng lùi xa nhau ra, ngoảnh lại nhìn phía sau. Lỗi này thuộc về Xtepltôn, ông ta đang ba chân bốn cẳng chạy về phía họ, tay vung vẫy chiếc vợt một cách vụng về. Ông ta vung tay múa chân một cách tuyệt vọng và sau khi đi ngang với cặp tình nhân, ông đi tới đi lui trước mặt họ, biểu lộ nỗi xúc động một cách lạ lùng.

Tôi không thể hiểu nổi tất cả những điều đó nghĩa là thế nào, nhưng hình như Xtepltôn đang lên án ngài Genri vì một lỗi lầm gì đấy, còn con người này thì đang  phân bua và mỗi lúc một thêm mất bình tĩnh. Cô gái đứng bên cạnh hoàn toàn im lặng. Sau cùng Xtepltôn đột nhiên quay trở lại, vẫy tay ra lệnh cho em gái, còn cô ta đưa nhanh đôi mắt không thật quả quyết hướng tới ngài Genri, rồi đi theo sau anh trai mình. Những cử chỉ bồng bột của nhà tự nhiên học chứng tỏ rằng ông ta đang trút nỗi giận dữ của mình lên đầu cô gái. Vị nam tước nhìn theo tiễn chân họ, rồi ngài chán nản, lững thững đi ngược trở lại.

Tôi không hiểu tí nào về cuộc cãi vã nổ ra trước mắt mình, nhưng tôi cảm thấy vô cùng xấu hổ vì đã là người chứng kiến cuộc cãi vã đó không được sự đồng ý của bạn tôi. Không còn cách nào khác hơn là lao nhanh xuống đồi và gặp nam tước ở dưới đó. Mặt ngài đỏ bừng vì giận dữ, đôi lông mày nhíu lại – con người này rõ ràng không biết nên làm gì và xử sự như thế nào.

- Hêlô Oátxơn! Ông xuất hiện từ đâu vậy? Có lẽ bằng cách nào đó ông đã theo dõi tôi chăng?

Tôi buộc phải giải thích cho ngài ấy hiểu rằng tôi cảm thấy không thể để ngài đi một mình nên đã đi theo ngài và trở thành người chứng kiến cuộc gặp gỡ của họ cũng như toàn bộ những sự kiện diễn ra sau đó. Ngài quắc mắt nhìn tôi, nhưng sự cởi mở của tôi đã tước mất vũ khí của ngài. Ngài phá lên cười, thật ra không được vui lắm.

- Hình như, có thể tính đến cuộc sống đơn độc ở chốn hẻo lánh này hay sao! Không đâu, cứ như là các người bày mưu tính kế để xem tôi tán tỉnh cô gái như thế nào ấy! Sự ve vãn đã hoàn toàn thất bại. Ông thuê dài hạn cho mình chỗ ngồi nào đấy?

- Trên quả đồi kia kìa.

- Nghĩa là trên gác thượng. Còn anh trai của cô ta thì được thu xếp ở những dãy ghế đầu tiên. Ông có nhận thấy ông ta đã mắng té tát chúng tôi ra sao không?

- Vâng, có thấy.

- Có bao giờ ông thoáng nghĩ rằng cái con người ấy lại mất trí không?

- Chưa, chưa bao giờ.

- Tôi cũng vậy. Trước ngày hôm nay, tôi coi Xtepltôn là một người phát triển bình thường nhất. Còn bây giờ tôi cảm thấy là cần mặc áo bó cho ông ta và có thể cả cho tôi nữa. Phải chăng tôi đã tồi tệ đến thế? Không phải là tuần đầu tiên ông sống với tôi. Xin ông hãy cởi mở với tôi! Cái gì đã ngăn cản tôi trở thành người chồng tốt của người đàn bà tôi đang yêu vậy?

- Theo tôi, không có gì ngăn cản cả.

- Ông ta không thể bắt bẻ về cương vị xã hội của tôi được, nghĩa là sự thể  tuỳ thuộc ở tôi. Vậy ông ta có cái gì để không đồng ý tôi? Trong đời, tôi không gây điều ác cho ai cả. Thế mà con người ấy thậm chí không muốn để tôi đến gần cô ta.

- Ông ta nói thế à?

- Vâng, lại còn nói một điều gì tệ hơn thế nữa. Ông biết không, Oátxơn, tôi mới quen biết cô ta cách đây mới vài tuần. Thế mà ngay từ buổi gặp gỡ ban đầu, tôi đã thấy rõ ràng người đàn bà này sinh ra trên đời là dành cho tôi. Và cô ta… cô ta cũng… quan hệ tốt đối với tôi, tôi sẵn sàng thề như vậy! Đôi mắt của người đàn bà nói nhiều hơn so với lời của họ. Thế nhưng, ông ta phản đối sự gần gũi của chúng tôi. Chỉ đến hôm nay tôi mới chọn được cơ hội nói chuyện riêng với cô ấy. Cô sung sướng chấp thuận cuộc gặp gỡ này. Nhưng sao ông ta lại nghĩ như thế? Để nói về tình yêu của chúng tôi chăng? Không, hãy để cho cô ta tự do. Cô buộc tôi  im lặng. Cô chỉ nói một lời: ở đây nguy hiểm và cô sẽ không yên lòng chừng nào tôi chưa đi khỏi lâu đài Baxkervili. Tôi nói rằng, từ sau cuộc gặp gỡ với cô, tôi sẽ không bao giờ rời khỏi đây, còn nếu việc ra đi là cần thiết thì cô hãy cùng đi với tôi. Tóm lại, tôi đã ngỏ lời cầu hôn với cô ta, nhưng cô còn chưa kịp đáp lại thì vào giây phút ấy, ông anh vô cùng đáng yêu của cô đã mắng té tát chúng tôi như một thằng điên. Cả người ông ta trắng bợt vì giận dữ, còn cặp mắt lờ đờ của ông thì quả là phóng ra những tia lửa. Tôi còn đủ sức làm gì được! Tôi dám đến gần người đàn bà với những lời ve vãn không gợi nên điều gì ngoài sự kinh tởm của người ấy chăng! Có lẽ tôi tưởng tượng ra là một vị nam tước thì được phép làm mọi chuyện sao? Giá ông ta không phải là anh trai của cô ấy tôi sẽ biết cách trả lời ông ta như thế nào! Tôi sẽ có dịp nói rằng không có gì là ô nhục trong tình cảm của tôi cả, rằng hy vọng có vinh hạnh vào một lúc nào đó sẽ gọi cô Xtepltôn là vợ của mình. Nhưng, điều đó đã không giúp ích được gì. Cuối cùng tôi đã không giữ bình tĩnh được nữa và đã nổi xung lên. Đáng lý không nên nổi nóng khi thấy cô ấy đang đứng ở đó thì hơn. Sau đấy ông ta ra đi cùng với em gái như chính mắt ông thấy đấy. Còn tôi ở lại một mình trong một tâm trạng hoàn toàn phân vân. Bây giờ, Oátxơn, ông hãy giải thích cho tôi hiểu tất cả điều đó nghĩa là thế nào, và tôi sẽ mãi mãi không quên sự giúp đỡ ấy.

Tôi ước đóan trong suy nghĩ, nhưng nói thật là câu chuyện này đã khiến tôi không ít băn khoăn. Tước vị của người bạn chúng ta, sự giàu có, tuổi trẻ, tính cách và vẻ ngoài đều có lợi cho ngài. Có lẽ, ngoài số mệnh đen tối đè nặng lện gia đình ngài, tôi không biết ẩn sau ngài còn gì xấu xa nữa không.

Đúng, thật là lạ lùng nếu lời cầu hôn của ngài Genri đã bị cự tuyệt gay gắt như thế, thậm chí thiếu bất kỳ chứng cớ nào trong sự mong mỏi của chính cô gái. Điều sau đây cũng lạ lùng: cô quan hệ với tất cả những gì đã xảy ra rất lạnh nhạt. Tuy nhiên, vào ngày hôm ấy, chính Xtepltôn đã giải quyết những mối băn khoăn của chúng tôi. Ông ta xin lỗi vì quá thô bạo rồi nói chuyện hồi lâu với ngài Genri trong phòng làm việc mà không hề to tiếng với nhau – chúng tôi nhận lời mời tới ăn trưa ở Mêripít – Khaiuxơ vào thứ sau tới.

- Tôi vẫn chưa hết hoài nghi về sự phát triển bình thường của con người này – Ngài Genri nói – Cho tới giờ, bộ mặt của ông ta lúc lăn xả vào chúng tôi sáng nay vẫn sờ sờ trước mắt tôi. Nhưng, cần thừa nhận tính công minh của ông, những lời xin lỗi thật chân thực, cũng đừng nên gây sự với ông ta làm gì!

- Ông ấy giải thích cơn bột phát của mình như thế nào?

- Em gái đối với ông ta là tất cả. Điều đó thì chấp nhận được. Tôi rất vui khi ông ta biết giá trị của cô ấy. Họ đã cùng sống với nhau trong suốt cuộc đời, và nếu tin vào lời ông ta thì ông không còn những người thân thiết khác, bởi thế ông rất sợ phải xa cách em gái mình. Hình như ông ta chưa nhận ra những tình cảm của tôi, và sau khi tin vào những tình cảm ấy bằng chính mắt mình thì ông hiểu rằng người ta có thể đoạt mất em gái của ông. Trong ý nghĩ này ông đã làm giảm sút quyền lực của mình. Ông rất lấy làm tiếc về những gì đã xảy ra, và thú nhận đối với ông ta sẽ là ích kỷ, là ngu ngốc nếu cho rằng có thể giữ một người phụ nữ xinh đẹp như cô Xtepltôn ở cạnh mình. Nếu việc chia tay với cô ấy là không tránh khỏi thì tôi cũng sẽ dứt khoát và thành người láng giềng của họ. Cách này hay cách khác đối với ông ấy đều là cú đấm choáng váng, chưa chắc ông ta sẽ thành công trong việc mau chóng hoà giải với mình. Nhưng ông ta sẽ không ngăn cản chúng tôi nữa nếu như tôi hứa là sẽ không nói gì về tình yêu của mình trong vòng ba tháng sắp tới, sẽ thoả mãn chỉ vì tình bạn của em gái ông. Tôi đã hứa, và đến đấy thì câu chuyện chấm dứt.

Anh thấy đấy, một trong số những bí mật nhỏ nhoi của chúng ta đã được sáng tỏ. Còn dùng chân mò tận đáy vũng bùn chúng ta đang giãy giụa trong đó thì tình hình cũng khá trầm trọng đấy. Bây giờ chúng ta đã rõ là tại sao Xtepltôn cư xử với người tình của em gái mình, một người đáng ước ao như ngài  Genri, lại với một thái độ phản đối như vậy.

Bây giờ tôi sẽ rút ra một sợi chỉ mảnh khác mà tôi đã thu được từ cái mớ lộn xộn này. Chúng ta sẽ chuyển sang nói về tiếng khóc bí ẩn ban đêm, về bộ mặt bi thảm của bà Berimôrơ, và về những chuyến chu du khó hiểu của viên quản lý tới cửa sổ hướng ra khu đầm lầy. Hãy chúc mừng tôi đi, Hôm yêu quý, rồi anh sẽ nói là anh đã không thất vọng về người giúp việc của mình. Lòng tin cậy của anh đối với tôi trong việc chuyển tôi đến đây đã hoàn toàn được xác nhận. Phải cần một đêm để giải thích điều bí mật này theo trình tự của nó.

Tôi nói là “một đêm”, nhưng đúng hơn là phải “hai đêm” vì đêm đầu sẽ không đủ để nhận thức một điều gì cả. Tôi và ngài Genri đã ngồi trong phòng làm việc của ngài phải tới ba giờ sáng, thế mà không nghe thấy gì ngoài tiếng đồng hồ ở trên thang gác. Việc thức đêm nặng nề này được kết thúc khi cả ngài Genri và người phục vụ dễ bảo của anh đều ngồi trên ghế bành ngủ thiếp đi. Tuy vậy, sự thất bại này không làm chúng tôi chán nản mà cương quyết thử lại một lần nữa. Sang đêm hôm sau chúng tôi vặn bớt bấc đèn, ngồi hút thuốc liên tục trong sự im lặng hoàn toàn. Thời giờ trôi đi vô cùng chậm chạp. Nhưng lòng ham mê có ở người thợ săn đang rình con thú ở cạnh bẫy đã khích lệ chúng tôi.

Chuông đồng hồ điểm một giờ, rồi hai giờ. Chúng tôi đã sắp thất vọng thì đột nhiên sự mệt mỏi của chúng tôi bay biến đâu mất – tôi và ngài Genri cả hai đều bất giác ưỡn thẳng người lại. Vang lên ngoài hành lang là tiếng cót két của ván sàn nhà. Tiếng những bước chân lén lút đi ngang qua phòng chúng tôi rồi dần dần lặng đi ở phía xa. Nam tước khẽ mở cửa. Chúng tôi bắt đầu lần theo vết con thú săn của mình. Con thú đã kịp đi qua hành lang nối tiếp lâu đài, còn trong hành lang này thì tối om. Hết sức thận trọng, chúng tôi đi đến chái nhà phía bên kia. Ở đó thấp thoáng hình của một người cao cao với bộ râu đen. Hắn rón rén so vai bước dọc theo hành lang. Sau đấy, hắn chạy lăng xăng tới cánh cửa nọ. Vào khoảnh khắc ấy, ngọn nến chiếu sáng cạnh cửa, và một tia sáng vàng mỏng mảnh trải ra khu hành lang tối đen. Chúng tôi vận động tới luồn sáng này, dò từng mảnh ván trước khi đặt chân vào. Chúng tôi đi chân đất, vậy mà những tấm ván cũ kỹ vẫn khẽ rên và kêu cót két bởi trọng lượng của đôi chân chúng tôi. Tôi cảm thấy là không thể không nghe thấy những tiếng động ấy, nhưng thật là may, Berimôrơ đúng là ngễnh ngãng, vả lại khi đó ông ta đang bị hút mạnh vào công việc của mình.

Cuối cùng, chúng tôi cũng tới được cửa ra vào, đưa mắt nhìn vào căn phòng. Viên quản lý tay cầm cây nến đứng ở cạnh cửa sổ, hầu như mắt ông ta ghé sát vào mặt kính, nghĩa là trong dáng điệu y hệt như tôi trông thấy ở ông hai đêm trước đây.

Chúng tôi không có kế hoạch ứng xử từ trước, nhưng nam tước vốn rất cương quyết. Ngài mạnh dạn đi vào phòng, Berimôrơ lùi nhanh ra khỏi cửa sổ, thở hổn hển, mặt tái xanh như xác chết, toàn thân run rẩy đứng trước mặt chúng tôi. Nỗi kinh hoàng lờ mờ hiện ra trong đôi mắt sẫm sáng trên bộ mặt trắng nhợt. Ông ta lúng túng chuyển cái nhìn từ tôi sang ngài Genri.

- Berimôrơ, ông làm gì ở đây thế?

- Không làm gì cả, thưa ngài – Vì xúc động ông ta chuyển dịch lưỡi rất khó nhọc, cây nến rung rung trên tay ông hắt những bóng loang lỗ trên tường và lên trần nhà – Cửa sổ, thưa ngài … đêm đêm tôi kiểm tra xem tất cả có được khoá kỹ không.

- Ngay cả trên lầu hai?

- Vâng, thưa ngài, cả khu nhà.

- Hãy nghe đây, Berimôrơ – Ngài Genri nghiêm khắc nói – Chúng tôi cương quyết moi bằng được sự thật từ ông. Cho nên ông càng mau chóng thú nhận lỗi lầm thì càng tốt. Này, né tránh đủ rồi đấy! Ông cần gì ở đây?

Người quản gia ném một cái nhìn tuyệt vọng về phía chúng tôi. Trong sự bối rối hoàn toàn, ông ta bóp chặt lấy đôi tay.

- Tôi không làm gì xấu xa cả, thưa ngài! Tôi chỉ soi cây nến vào cửa sổ.

- Ông soi nến vào cửa sổ để làm gì?

- Xin đừng hỏi tôi, ngài Genri… Hãy đừng hỏi! Xin thề với ngài, thưa ngài, đấy là bí mật không phải của tôi. Tôi  không thể tiết lộ được. Nếu bí mật này chỉ liên quan đến tôi, tôi sẽ không giấu diếm ngài điều gì cả.

Đột nhiên trong óc tôi thoáng nảy ra một ý nghĩ bất ngờ, tôi cầm lấy cây nến ở trên bệ cửa sổ.

- Chắc có lẽ đây là mật hiệu. Bây giờ chúng ta xem câu trả lời sẽ như thế nào.

Tôi đưa ngọn nến đến gần tấm kính như Berimôrơ đã làm rồi nhìn vào bóng đêm tối như mực. Mặt trăng ẩn mình sau đám mây. Vào phút đầu tiên tôi chỉ trông thấy hàng cây làm nổi lên khoảng không bao la mờ ảo của khu đầm lầy. Đột nhiên tôi vui mừng reo lên khi trông thấy trong khung màu đen của cửa sổ một điểm màu vàng tản ra chọc thủng đêm tối.

- Hãy nhìn này!

- Không, không phải, thưa ngài! … - Viên quản lý bắt đầu nói lúng túng – Tôi xin cam đoan với ngài, thưa ngài.

- Chuyển cây nến sang bên phải, Oátxơn! – Nam tước kêu lên – Nhìn thấy gì không? – Ở đấy ngọn lửa cũng di động… Này, đồ vô lại, ông sẽ không còn kiên gan được nữa chứ? Đó chính là tín hiệu! Hãy tự thú đi! Người truyền tín hiệu của ông là ai? Ông mưu toan làm gì đó?

Viên quản lý ném một cái nhìn rõ ràng là thách thức về phía ngài nam tước.

- Đây là việc của tôi, nó không liên quan gì tới ngài. Tôi sẽ không nói gì cả.

- Vậy ông có thể coi mình đã bị sa thải.

- Rõ rồi, thưa ngài. Chắc là đành vậy thôi!

- Tôi tống cổ ông đi một cách đê nhục! Hãy biết hổ thẹn chứ! Tổ tiên của tôi và ông hơn một trăm năm nay sống cùng một nhà với nhau, vậy mà ông định lập mưu toan  chống lại tôi.

- Không, không phải, thưa ngài! Tôi không chống lại ngài đâu!

Những lời này vang lên the thé. Sau khi ngoảnh lại nhìn, chúng tôi nhận ra bà Berimôrơ hồn xiêu phách lạc ở cửa ra vào, vẻ tái nhợt trên khuôn mặt bà có thể đua tranh với chồng mình. Người đàn bà vận váy lót và choàng khăn san này có thể đem lại ấn tượng cực kỳ khôi hài nếu không có nỗi kinh hoàng in sâu trên mặt của bà ta.

- Người ta đã sa thải chúng ta, Eliza ạ, tất cả được kết thúc như thế đấy!… Hãy thu xếp đồ đạc đi! – Berimôrơ nói.

- Đjiôn, Đjiôn! Tôi đã đẩy mình tới nông nỗi nào thế này!.. Mọi chuyện đều là lỗi lầm của tôi thôi, ngài Genri. Chỉ vì tôi mà ông ấy đã làm việc đó, chỉ vì một mình tôi thôi!

- Bà nói thế nào! Sự thể ở đây ra sao?

- Người em bất hạnh của tôi đang chết đói trên khu đầm lầy. Chúng tôi không thể để cho chú ấy chết đói ở ngay cạnh nhà chúng tôi được. Đjiôn dùng tín hiệu báo cho chú ấy biết là đồ ăn đã được chuẩn bị, còn chú ấy báo cho biết cần mang đồ ăn đến đâu.

- Thế nghĩa là … em bà là người…

- Vâng, người tù khổ sai vượt ngục, thưa ngài… kẻ giết người, Xêlđên.

- Đấy là tất cả sự thật, thưa ngài – Berimôrơ khẳng định – Tôi đã nói với ngài là tôi không thể phanh phui bí mật của người khác, bây giờ chính ngài đã được nghe tất cả và ngài biết chúng tôi không toan tính điều gì để chống lại ngài .

Cuộc du ngoạn bí ẩn ban đêm với cây nến được sáng tỏ như vậy đấy! Tôi và ngài Genri sững sờ nhìn bà Berimôrơ. Chẳng lẽ người đàn bà điềm đạm, đáng kính trọng này lại có quan hệ máu mủ với một trong số những tên tội phạm ghê gớm nhất mà đất nước chúng ta đã từng biết đến.

- Đúng vậy, thưa ngài. Họ lúc chưa có chồng của tôi là Xêlđên, chú ấy là em út của tôi. Chúng tôi cưng chiều chú ấy ngay từ nhỏ và buông thả chú trong mọi chuyện. Thế là chú ấy tin rằng hình như chú được phép làm mọi việc, hình như thế giới này tồn tại chỉ để thoả mãn cho riêng chú. Thế rồi chú ấy lớn lên, nhập vào nhóm người xấu và dường như con quỷ đã đến cư trú trong lòng đứa trẻ của chúng tôi. Chú ấy đã dày vò trái tim của người mẹ, bôi nhọ tên tuổi của chúng tôi. Càng đi xa lại càng tồi tệ, xấu xa hơn, hết tội lỗi này đến tội lỗi khác. Cái gì cứu chú ấy thoát khỏi giá treo cổ? Chỉ nhờ ơn huệ của trời thôi! Nhưng đối với tôi, thưa ngài, chú ấy vẫn chỉ là một cậu bé tóc xoăn đáng yêu mà tôi đã từng chơi đùa và chăm sóc như một người chị cả. Do vậy chú ấy đã vượt ngục khi biết rằng tôi hiện ở đây, rằng chúng tôi sẽ không chối từ việc giúp đỡ chú. Lúc lê bước tới đây vào ban đêm, chú ấy mệt mỏi, bụng đói mà lại đang bị truy lùng. Chúng tôi biết làm gì hơn được? Chúng tôi đã để cho chú vào, nuôi nấng chú, giúp đỡ chú bằng tất cả khả năng của mình. Thế rồi ngài đến, thưa ngài – Chú quyết định tốt hơn cả là chuyển sang chờ ở trong khu đầm lầy khi mà cảnh nhốn nháo chưa lắng đi, và từ đấy chú trốn tránh ở đó. Sau một đêm chúng tôi lại kiểm tra xem chú ấy đã đi hay chưa. Chúng tôi soi đèn qua cửa sổ và nếu nhận được tín hiệu trả lời thì chúng tôi mang bánh mì và thịt tới nơi quy định. Chúng tôi mong mỏi từng ngày là có thể chú đã bỏ đi, nhưng chừng nào chú ấy còn ở đây thì chúng tôi không thể bỏ rơi được. Tôi là người đàn bà có tín ngưỡng, không đời nào tôi lừa gạt ngài đâu. Nếu ở đây có điều gì xấu xa thì chồng tôi không hề có lỗi: ông ấy bắt tay vào làm việc đó chỉ là vì tôi thôi!

Bà ta nói  với  một tình cảm khiến người khác không thể không tin vào bà.

- Có phải đúng như vậy không, Berimôrơ?

- Vâng, thưa ngài Genri, từ đầu đến cuối đều là sự thật cả.

- Vậy thì vì lòng trung thành với vợ ông, tôi sẽ không chỉ trích ông nữa. Hãy quên những điều tôi nói với ông đi. Giờ thì cả hai người hãy về phòng mình. Sáng mai chúng ta sẽ bàn bạc tất cả mọi chuyện sao cho thoả đáng.

Khi họ đi khỏi, chúng tôi lại nhìn qua cửa sổ. Ngài Genri mở toang cửa sổ ra, gió lạnh ban đêm lùa vào mặt chúng tôi. Xa xa, trong bóng đêm mịt mùng, ngọn lửa nhỏ màu vàng vẫn còn nhấp nháy.

- Tôi ngạc nhiên là sao hắn ta không biết sợ! – Ngài Genri nói.

- Có lẽ chỉ có từ đây mới nhận thấy ngọn lửa.

- Cũng có thể. Theo ông thì hắn ở đâu?

- Ở chỗ nào đó cạnh những cột đá hoa cương.

- Hai dặm, không hơn chứ?

- Sẽ không hơn thế.

- Đúng, nếu Berimôrơ mang đồ ăn đến đấy có nghĩa là sẽ không xa lắm. Và bây giờ hắn chờ người ta theo ngọn lửa nhỏ để đi đến chỗ hắn. Không, Oátxơn, tôi sẽ đi, và sẽ tóm được tên ác ôn này.

Chính ý nghĩ này cũng thoáng qua trong óc tôi. Vợ chồng Berimôrơ không biến chúng tôi thành những kẻ tòng phạm được – chúng tôi đã buộc họ tiết lộ bí mật của mình. Con người này thật nguy hiểm cho xã hội. Không thể thương hại và bảo vệ cho một người như hắn. Chúng tôi cần lợi dụng thời cơ ngay trước mặt mình để đưa hắn trở lại nơi hắn không còn gây tác hại cho ai cả. Trong trường hợp ngược lại, do sự sơ xuất của chúng tôi sẽ có một số người khác bị thiệt hai ví như anh em Xtepltôn. Hắn có thể đột nhập vào nhà họ vào bất kỳ đêm nào. Tôi cho rằng chính ý nghĩ này đã đẩy ngài Genri tới hành động quả cảm như thế.

- Tôi sẽ cùng đi với ngài.

- Vậy ông hãy cầm súng ngắn theo và đi giày vào. Cần khẩn trương lên, nếu không hắn sẽ dập tắt ngọn lửa và tẩu thoát mất.

Chưa đầy năm phút sau, chúng tôi đã bước nhanh theo con đường tối om rậm rạp bóng cây, lắng nghe tiếng rít đơn điệu của gió mùa thu và tiếng xào xạc của lá cây rụng xuống. Trong không khí có mùi hăng hăng của vật thối rữa và sự ẩm ướt. Mặt trăng rất ít xuất hiện sau những đám mây đen giăng phủ khắp bầu trời. Mưa lâm thâm. Hình như chỉ có chúng tôi đi vào khu đầm lầy. Ngọn lửa nhỏ màu vàng vẫn nhấp nháy như trước.

- Ngài có cầm cái gì đó theo người không? – Tôi hỏi.

- Có, roi gân bò.

- Hãy cùng hành động thật nhanh để không cho hắn hoàn hồn chống cự lại – bởi như người ta nói hắn rất táo tợn. Chúng ta sẽ bất ngờ tóm lấy hắn.

- Hãy nghe đây, Oátxơn! – Đột nhiên Nam tước lên tiếng – Hôm đã nói gì về điều đó? Ông có nhớ không? “Vào lúc ban đêm khi mà uy lực của cái ác hoàn toàn thống trị…”

 Và hình như để đáp lại những lời của ngài, ở một nơi nào đó rất xa trên khu đầm lầy vang lên âm thanh lạ lùng đã làm tôi kinh hoàng vài ngày trước cạnh vùng đầm lầy Grimpenơ. Gió đẩy đến tai chúng tôi ban đầu là tiếng gầm gừ không rõ, sau là tiếng rống, rồi lại dần dần chuyển sang tiếng rên bi thảm.Những âm thanh hoang dã, doạ dẫm này được lặp đi lặp lại liên tục tràn ngập cả không trung. Viên nam tước túm lấy vạt áo tôi, và trong đêm tối, tôi còn nhìn thấy bộ mặt ngài bị phủ bởi vẻ tái nhợt chết chóc ra sao.

- Trời ơi, Oátxơn, cái gì thế?

- Tôi không rõ. Người ta nói rằng những âm thanh như vậy xảy ra trên khu đầm lầy không phải là ít lần . Tôi cũng đã từng nghe thấy.

Tiếng kêu lặng dần, lại bắt đầu hoàn toàn yên ắng. Chúng tôi đứng căng thẳng lắng nghe nhưng không còn gì vang lên quanh chúng tôi nữa.

- Oátxơn! – Nam tước nói – Con chó rống đấy!

Máu trong người tôi như đông lại, bởi giọng của ngài Genri run lên vì kinh hãi.

- Người ta giải thích âm thanh này ra sao? – Ngài hỏi.

- Ai?

- Những người sống ở đây ấy.

- Nhưng đấy chỉ là những người hoàn toàn dốt nát! Không phải tất cả mọi người đều giải thích tiếng kêu như thế chứ?

- Oátxơn, ông cho rằng họ nói về cái gì vậy?

Vào giây phút ấy tôi do dự, nhưng đã đặt vấn đề ra thì không thể nào im lặng được.

- Họ nói rằng đất là tiếng con chó của dòng họ Baxkêrvili rống.

Ngài Genri bắt đầu rên rỉ:

- Đúng, chỉ có chó mới tru lên như vậy – Sau khi  im lặng hồi lâu, ngài nói tiếp – Nhưng con chó ở rất xa, đâu ở hướng kia kìa!

- Tôi có thể xác định tiếng rống từ đâu vọng lại.

- Nó được gió thổi tới. Vùng đầm lầy Grimpenơ ở đâu? Ở đấy phải không?

- Đúng.

- Vậy là tiếng kêu vọng đến từ đó. Hãy chấm dứt đi, Oátxơn. Chính ông cho rằng đấy là tiếng rống của con chó. Tôi không phải là đứa con nít, đừng e ngại nói sự thật với tôi.

- Một lần Xtepltôn đi với tôi, ông ta nói rằng có một giống chim nào đó kêu như thế.

- Không, đấy là con chó.Trời ơi! Chẳng lẽ trong mọi chuyện huyền bí lại không có một chút sự thật? Chẳng lẽ có một mối nguy hiểm bí ẩn nào đấy đang đe doạ nó? Ông không tin vào điều đó sao, Oátxơn?

- Không, không tin!

- Dẫu sao việc cười cợt những điều ngu xuẩn ở Luân Đôn và việc nghe thấy những âm thanh ấy khi đứng trong đêm đen trên khu đầm lầy là những việc khác nhau. Còn bác của tôi? Cạnh thi thể của Người có tìm thấy những vết chân chó? Tất cả chỉ là một mắt xích mà thôi. Tôi hoàn toàn không phải là kẻ nhát gan, Oátxơn ạ, thế nhưng tôi hết hồn khi nghe thấy những âm thanh như thế. Hãy rờ vào tay tôi này!

Bàn tay giá lạnh như đá.

- Không sao cả, ngày mai  tất cả sẽ qua khỏi thôi!

- Không, tôi không bao giờ quên tiếng kêu ấy đâu. Chúng ta cần làm gì bây giờ.

- Sẽ quay về nhà chăng?

- Sao lại thế! Phải tóm cổ tên đê tiện ấy. Tôi với ông săn đuổi tên tù khổ sai, còn con chó quái đản chưa chắc đã săn lùng chúng ta. Hãy đi thôi, Oátxơn! Nếu không con quỷ sẽ lủi vào khu đầm lầy mất, dù sao cũng không thể quay trở lại được.

Chúng tôi tiếp tục lê từng bước chậm chạp. Bên phải và bên trái chúng tôi chồng chất hình thù những quả núi lơm chởm mờ ảo trong đêm tối. Không thay đổi, ngọn đèn màu vàng bé nhỏ vẫn nổi lên mờ mờ xa xa ở phía trước. Không gì hư ảo hơn khoảng không trong đêm tối mịt mùng. Ngọn lửa bập bùng khi thì ở cuối chân trời, khi thì chừng như chỉ cách chúng tôi vài bước chân. Tuy nhiên, cuối cùng chúng tôi đã nhìn thấy nguồn ánh sáng và hiểu rằng giờ chúng tôi ở cách đấy không bao xa nữa. Đó là ngọn nến được đặt lơ lửng ở kẽ nứt giữa những tảng đá. Những tảng đá này bảo vệ cây nến từ gió và từ cả những con mắt  xa lạ, chỉ để hở ra một hướng quay về phía lâu đài Baxkêrvili. Tảng đá hoa cương lớn che giấu sự tiếp cận của chúng tôi. Chúng tôi ẩn mình sau tảng đá, rồi thận trọng nhìn ra ngoài. Kỳ lạ thay, chúng tôi chỉ nhìn thấy một ngọn nến cô độc giữa đầm lầy. Ngọn lửa nhỏ màu vàng hắt ánh sáng trên những tảng đá – chung quanh không hề có dấu hiệu của sự sống.

- Cần làm gì bây giờ? – Ngài Genri  thì thào.

- Hãy chờ ở đây một lát. Chắc có lẽ hắn ở gần đâu đó. Có thể  hắn sẽ xuất hiện ngay bây giờ.

Tôi chưa kịp nói xong thì chúng tôi nhìn thấy hắn. Bên trong kẽ đá, nơi đặt cây nến, ló ra một khuôn mặt quái đản hằn sâu những vết tích của những ham mê tai hại, trên đấy không hề thấy dấu vết khuôn mặt người. Bộ mặt bết đầy bùn, râu lởm chởm, mớ tóc rối tung, hoàn toàn có thể có ở một con thú hoang dại sống vào thời nào đó trên những vách núi này. Ngọn lửa nến được phản chiếu trong cặp mắt bé nhỏ ranh mảnh, thâm độc nhìn vào mọi hướng – Đấy đúng là cặp mắt của con thú khi nhận ra tiếng bước chân của người thợ săn trong đêm tối. Có lẽ một điều gì đã đánh thức mối hoài nghi ở hắn. Hoặc là hắn và Berimôrơ có tín hiệu định trước chưa được chúng tôi biết, hoặc là hắn cảm thấy công việc đang không được ổn lắm, nhưng tôi nhận ngay ra những dấu vết kinh hãi trên bộ mặt gớm ghiếc của hắn. Chỉ một loáng sau hắn đã thổi tắt ngọn nến và lẫn vào trong bóng tối. Tôi chạy về phía trước, ngài Genri chạy sau tôi. Tên tù khổ sai la lên một tiếng, viên đá cùng lúc bay vèo phía chúng tôi, văng ra làm nhiều mảnh sau khi đập vào tảng đá bên cạnh. Tôi kịp nhìn thấy hắn mập lùn, vai rộng. May quá, đúng vào lúc ấy mặt trăng hiện ra sau những đám mây đen. Chúng tôi leo lên trên quả đồi, còn tên tù khổ sai thì lao nhanh theo sường bên kia, nhảy qua những tảng đá với sự khéo léo của con dê núi. Một phát bắn thành công có thể làm hắn bị thương, nhưng tôi mang súng ngắn theo người chỉ để phòng thân chứ không phải để bắn vào lưng một người không có vũ khí.

Cả tôi lẫn ngài Genri đuổi theo không đến nổi tồi, thế nhưng chẳng bao lâu chúng tôi hiểu là chúng tôi  không thể đuổi kịp hắn. Hắn hiện lên hồi lâu ở phía trước dưới ánh trăng sáng và cuối cùng hắn biến mất sau khi chuyển thành một điểm nhỏ vận động theo sườn đồi bị tách ra. Khoảng cách giữa chúng tôi và hắn càng lúc càng tăng thêm. Cuối cùng, chúng tôi hoàn toàn kiệt sức, ngồi bệt lên những tảng đá, bắt đầu đưa mắt dõi theo bóng hắn đang mất hút dần.

Và thế là một điều gì đó kinh lạ và hoàn toàn bất ngờ đã xảy ra. Chúng tôi dừng lại quyết định không đuổi theo một cách vô ích nữa. Mặt trăng ở bên phải chúng tôi, đỉnh cột đá hoa cương lởm chởm nổi rõ mồm một trên nền của mặt trăng màu thiếc tròn vành vạnh. Ngay trên cột đá này tôi nhìn thấy một hình người bất động tựa như bức tượng bằng gỗ mun. Hôm, anh có thể cho rằng đấy là ảo giác – như mọi khi, tôi có thể tin vào thị lực của mình chứ! Tôi nhìn thấy rất rõ đó là một người cao và gầy. Hắn đứng, chân hơi chạng ra một chút, hai tay đặt lên ngực, đầu cúi xuống, hình như đăm chiêu ngắm nhìn vương quốc của than bùn và đá hoa cương ớ phía trước mặt. Tinh thần của khu đầm lầy ở đây hiện ra trước mắt tôi như thế đấy. Đó không phải là tên tù khổ sai. Hắn ở cách xa nơi tên tù ẩn nấp, đồng thời hắn cao hơn. Sau khi rú lên vì kinh ngạc, tôi trở lại chỗ nam tước, túm lấy tay ngài. Một loáng sau, người ấy mất hút. Đỉnh cột đá hoa cương nhọn hoắt vẫn xuyên vào mặt trăng như trước đây; nhưng hình người lừng lững bất động trên đó thì không còn nữa.

Tôi lập tức quyết định là cần đi tới đó, xem xét cột đá này, nhưng nó ở cách  chúng tôi khá xa, còn nam tước thì không muốn bước vào những cuộc phiêu lưu – ngài vẫn chưa có thể yên lòng sau tiếng rú kinh hoàng nhắc ngài nhớ tới truyền thuyết gia đình huyền ảo nọ. Hơn nữa, chính ngài lại không nhận thấy điều gì, và bởi vậy cảnh tượng lạ lùng đó không thể làm ngài xúc động.

- Chắc có lẽ là lính canh. Từ khi có vụ vượt ngục, khu đầm lầy nhan nhản lính canh – Ngài nói.

Có khả năng ngài Genri nói đúng, tuy nhiên tôi muốn hòan tòan tin tưởng vào điều đó! Hôm nay, chúng tôi đã biết được nơi tên tù vượt ngục ẩn nấp. Nhưng dù sao cũng lấy làm tiếc là chúng tôi đã không tự mình tóm được hắn, rồi hân hoan đưa hắn trở lại nhà tù.

Các sự cố trong đêm gần đây là như thế. Hôm yêu quý, anh cần phải thừa nhận đây là bản phúc trình hoàn toàn đầy đủ về sự cố này. Phần lớn các câu chuyện của tôi tất nhiên không có quan hệ nào tới vụ án của chúng ta, nhưng tôi coi việc thông báo tất cả những sự kiện trong các bức thư của mình là việc làm cần thiết – Hãy chọn lựa từ đó những gì có lợi cho anh. Chúng ta đã có những thành công nào đấy. Bây giờ, chúng ta đã rõ tất cả những điều uẩn khúc trong tư cách của vợ chồng Berimôrơ, và điều này đã làm sáng tỏ tình hình một cách đáng kể. Tuy nhiên, bí mật của khu đầm lầy than bùn, bí mật của những cư dân lạ lùng của nó vẫn còn chưa được sáng tỏ như trước đây. Có thể trong lá thư tiếp theo, tôi sẽ ít nhiều phanh phui được tấm màn che trên đó. Tốt hơn cả là anh thân chinh đến đây!

 

 

                                                                                                              CHƯƠNG X

NHỮNG ĐOẠN TRÍCH TỪ NHẬT KÝ CỦA BÁC SĨ OÁTXƠN

 

Cho đến giờ trong câu chuyện của mình, tôi hoàn toàn hài lòng với những bản phúc trình mà Sơlốc Hôm đã nhận được vào những ngày đầu tiên tôi đến lâu đài Baxkêrvili. Bây giờ đã đến lúc tôi buộc phải gác phương pháp này vào một bên và lại nhờ cậy vào trí nhớ sau khi đã củng cố nó thêm bằng những đoạn trích dẫn từ nhật ký của bản thân. Hai đoạn trích này sẽ đưa chúng ta tới sát các sự cố để lại ấn tượng suốt đời trong tâm trí tôi.

Tôi đã dừng lại ở việc mô tả sự đuổi bắt tên tù khổ sai không thành công của chúng tôi và ở sự cố diễn ra sau đó. Tôi xin tiếp tục câu chuyện của mình vào một buổi sáng khác.

16 tháng 10

Ngày ảm đạm, sương mù, mưa lất phất. Trên lâu đài Baxkêrvili lơ lửng những đám mây đen rất thấp, đôi khi chúng tản ra, lúc ấy xuyên qua luồn ánh sáng phía xa nổi lên khoảng rộng hư ảo của vùng đầm lầy than bùn trên đó những sườn núi và những tảng đá ẩm ướt lấp lánh ánh bạc. Những ngôi nhà dưới bầu trời hé mở phủ lên chỉ mỗi vẻ sầu thảm ở khắp nơi nơi. Sau cơn thử thách đã qua, đêm xuống, nam tước ở trong một trạng thái buồn bã. Chính tôi cũng cảm thấy sức nặng nào đó đè lên trái tim mình. Linh cảm về một tai hoạ không tránh khỏi day dứt tôi – nỗi linh cảm kinh hoàng hơn nhiều, đến mức tôi không có khả năng để giải thích nó.

Phải chăng không có cơ sở để lo ngại? Chỉ cần nhớ tới chuỗi sự kiện chứng tỏ sự tồn tại của những lực lượng hắc ám đang hoạt động ở đây; cái chết của chủ nhân sau cùng của lâu đài Baxkervili hoàn toàn chính xác khi đối chiếu với truyền thuyết dòng họ; những lời đồn đại giữa các điền chủ về một thực thể quái đản luôn luôn xuất hiện trên khu đầm lầy. Bằng lỗ tai mình, tôi đã hai lần nghe thấy những âm thanh giống tiếng chó sủa. Trong bản chất của việc này có lẽ không thể tin rằng tất cả lại nằm ngoài quy luật của tự nhiên hay sao? Con chó hư ảo để lại dấu vết trên mặt đất chính là con chó rống to lên đó chăng? Không, điều đó thật quá quắt! Xtepltôn và sau ông là Môrtimôrơ có thể ngả theo tâm trạng chung, thế nhưng nếu tôi có mặt tốt nào đó thì đấy là một trí óc lành mạnh và không khi nào đắm chìm trong những điều mê tín. Để làm việc này cần hạ thấp mình xuống trình độ phát triển của các điền chủ địa phương. Những người này không hài lòng với các chuyện kể về con chó hung dữ nào đó. Họ phân chúng ra theo những tia lửa phát ra từ mắt và từ mõm của chúng. Hôm sẽ không thể nghe nổi những điều hồ đồ tương tự, còn tôi thì sẽ giới thiệu nhân vật ấy ở đây với anh.

Tuy vậy, sự thực vẫn là sự thực. Tôi đã hai lần có dịp nghe tiếng rống này. Nếu thực sự có một con chó khổng lồ nào đó chạy khắp khu đầm lầy thì sao? Khi đấy tất cả sẽ trở nên dễ hiểu! Nhưng nó ẩn náu ở đâu, nó ăn gì, nó từ đâu sinh ra và tại sao không một ai nhìn thấy nó ban ngày? Cần thừa nhận rằng nếu muốn giải thích tất cả những điều này sao cho giống với sự thật thì chúng ta vấp phải không ít những khó khăn. Tuy nhiên, nếu gác chuyện con chó về một bên, thì giải thích ra sao về những sự kiện đã xảy ra ở Luân Đôn? Con người bí ẩn trên xe mui, bức thư mà tác giả của nó van nài ngài Genri đừng đi vào khu đầm lầy than bùn? Ở đây không có lực lượng siêu nhiên nào cả, mặc dầu trong mức độ như nhau có thể có cái này hay cái khác là những uy lực của cái thiện hay cái ác. Người này còn ở lại Luân Đôn hay đã theo chúng tôi về đây? Phải chăng… ,phải chăng tôi đã trông thấy hắn trên đỉnh cột đá hoa cương?

Thật ra hắn chỉ mới loáng thoáng hiện ra trước mắt tôi, nhưng tôi đã nhớ lấy một nét gì đấy và sẵn sàng khẳng định điều đó bằng lời thề. Hắn không phải là dân địa phương – giờ đây tôi đã biết tất cả láng giềng của ngài Genri. Hắn cao hơn Xtepltôn và rõ ràng gầy hơn Phrenklênđơ. Có thể lẫn hắn với Berimôrơ song Berimôrơ ở lại nhà. Và tôi tin rằng hắn không thể lẫn ở đằng sau chúng tôi đến mức không thể nhận thấy được. Bởi vì, ở đây cũng như ở Luân Đôn có một kẻ không quen biết nào đó đang rình rập chúng tôi. Cho tới lúc này, chúng tôi không thể lảng tránh khỏi hắn. Nếu như tôi thành công trong việc săn lùng con người này thì mọi nỗi băn khoăn của chúng tôi sẽ được giải quyết. Đấy là mục tiêu của tôi, và tôi sẽ huy động tất cả sức lực của mình để đạt được mục tiêu này.

Ý định trước tiên của tôi là cần trao đổi các kế hoạch của mình với ngài Genri. Nhưng, sau khi suy nghĩ kỹ, tôi kiên quyết tiến hành độc lập trò chơi và càng ít nói hơn về nó. Nam tước im lặng và mải mê với ý nghĩ của mình. Tiếng rống chúng tôi nghe thấy trên khu đầm lầy tác động tới ngài rất mạnh. Tôi quyết định không làm tăng thêm nỗi lo ngại của ngài nhưng cũng sẽ không rời vũ khí, và sẽ hứng chịu mọi trách nhiệm để hành động.

Hôm nay, sau bữa sáng, một cuộc cãi vã không lớn lắm đã nổ ra ở chỗ chúng tôi. Berimôrơ yêu cầu ngài Genri cho phép được nói chuyện với ông ta, và họ lui về phòng làm việc. Tôi ngồi ở phòng chơi bia nghe giọng nói cao hơn lúc bình thường của họ và đoán rất đúng là họ đang nói chuyện gì ở đấy. Lát sau cửa phòng làm việc mở ra, vị nam tước gọi tôi.

- Berimôrơ đã xúc phạm tới chúng ta – Ngài Genri nói – Từ phương diện chúng ta, ông có thấy là việc truy nã em vợ của ông ấy mà bí mật của con người này là do ông ta tự giác thổ lộ cho chúng ta biết liệu có phải là gian dối không?

Berimôrơ đứng tái mặt, nhưng vẫn giữ được bình tĩnh.

- Rất có thể trong trường hợp này tôi có nóng nảy, thưa ngài, xin hãy thứ lỗi cho tôi. Nhưng tôi vô cùng kinh ngạc khi nghe thấy tiếng những bước chân của các ngài vào lúc rạng sáng, tôi hiểu rằng các ngài muốn lùng bắt Xêlđên. Tôi chẳng tội gì mà chỉ dấu vết của chú ấy cho người ta biết cả – chú ấy, một kẻ bất hạnh, giá không có chuyện đó thì cũng tồi tệ lắm rồi.

- Nếu quả thật ông tự nguyện phát giác Xêlđên thì đấy là chuyện khác – Nam tước nói – Nhưng ông, mà đúng hơn là vợ ông thú nhận tội lỗi do sức ép của chúng tôi. Ông chẳng phải hứng chịu việc làm của người khác làm gì.

- Tôi không nghĩ là ngài sẽ bắt bẻ tôi, ngài Genri ạ! Tôi chẳng nghĩ như vậy.

- Xêlđên nguy hiểm cho xã hội. Hắn không chịu dừng chân trước bất kỳ việc gì cả. Cứ nhìn bộ mặt của hắn, điều ấy cũng đã rõ rồi! Ông nên nhớ là nhà cửa ở đây rất thưa thớt. Dù chỉ nghĩ tới Xtepltôn – trong trường hợp bị tiến công, ông ấy sẽ không trông cậy vào đâu cả ngoài sức lực của bản thân mình. Không, chừng nào con người này còn chưa bị khoá chân khoá tay lại thì chúng ta chưa thể cảm thấy đã bớt nguy hiểm.

- Xêlđên không đụng tới một ai đâu, thưa ngài, xin thề với ngài đấy! Chú ấy giờ đây không đáng sợ đối với dân địa phương nữa. Hãy tin vào tôi, ngài Genri ạ, chỉ vài ngày nữa là mọi chuyện sẽ được giải quyết ổn thoả, chú ấy sẽ rời đến Nam Mỹ. Tôi van ngài, xin đừng báo cho cảnh binh là Xêlđên còn ở đây, trên khu đầm lầy. Họ sẽ ngưng việc tìm kiếm và chú ấy có thể yên lòng chờ tàu thuỷ. Nếu ngài tố giác, tôi và vợ tôi không tránh khỏi tai họa đâu. Tôi yêu cầu ngài đừng báo cho cảnh binh, thưa ngài!

- Oátxơn, ông sẽ nói sao về chuyện đó?

Tôi nhún vai:

- Nếu con người này đi khỏi nước Anh thì những người dân thường sẽ sống thoải mái hơn.

- Đột nhiên hắn bậy bạ gây ra tai họa nào đó trước khi đi thì sao?

- Không thể thế được, thưa ngài! Chú ấy quả không phải là thằng điên! Chúng tôi sẽ cung cấp cho chú mọi thứ cần thiết. Tội ác mới sẽ lộ tẩy chú ấy.

- Đúng vậy! – Ngài Genri nói – Được, Berimôrơ…

- Trời ơi, vậy thì tôi sẽ cầu chúa cho ngài và cảm tạ ngài biết dường nào! Nếu người ta bắt giữ Xêlđên, vợ tôi sẽ không chịu nổi nỗi đau thương này đâu.

- Vào đi, Oátxơn, chúng tôi và ông sẽ cùng che chở một tội phạm hình sự. Nhưng dường như tôi không đủ bản lĩnh để tố giác hắn ta. Được, chúng ta sẽ kết thúc ở đây. Ông có thể đi được rồi, Berimôrơ.

Với giọng run run, viên quản lý lúng túng nói một vài lời cảm ơn và bắt đầu bước ra ngoài cửa, nhưng đến ngưỡng cửa ông ta đột nhiên dừng lại:

- Ngài đối xử với tôi tốt đến mức tôi muốn trả ơn ngài bằng cách nào đấy? – Ông ta bắt đầu không được quả quyết lắm – Tôi có biết một điều nào đó, ngài Genri… Có thể, thật là vô ích do lâu nay tôi im lặng, nhưng điều đó chỉ được sáng tỏ khi cuộc điều tra đã kết thúc. Tôi còn chưa hề nói với ai về chuyện đó… Về cái chết của ngài Tsarlizơ ấy.

Tôi và nam tước cùng nhổm phắt dậy:

- Ông có thể biết nhiều điều về cái chết của ngài?

- Không, thưa ngài.

- Vậy thì sao?

- Tôi biết tại sao ngài đứng cạnh cửa hàng rào vào thời gian muộn màng như thế. Ngài có hẹn gặp một người đàn bà.

- Hẹn gặp một người đàn bà? Ngài Tsarlizơ có hẹn gặp một người đàn bà?

- Vâng, thưa ngài!

-Người đàn bà ấy là ai vậy?

- Tôi sẽ không thể nói cho ngài biết tên của bà ta được, thưa ngài. Tôi chỉ biết các chữ cái đầu tiên là “L…L”.

- Do đâu ông biết được điều này, Berimôrơ?

- Vào sáng ngày bác ngài nhận được thư. Thường có rất nhiều thư chuyển đến theo tên ngài Tsarlizơ, vì ngài là một người nổi tiếng, được nhiều người biết đến bởi tấm lòng hào hiệp của mình. Mỗi người đều có thể bày tỏ nổi khổ đau của mình với ngài. Nhưng sáng hôm ấy chỉ có một lá thư chuyển đến nên tôi nhớ nó. Nét chữ trên phong bì là nét chữ đàn bà, trên dấu bưu điện có hàng chữ “Kumbi – Trêxi”.

- Tiếp sau ra sao?

- Tôi đã không nhớ gì hơn về lá thư này nếu không có vợ tôi. Vài tuần sau đó, cô ấy có lên dọn dẹp phòng làm việc của ngài Genri – Đó là lần đầu tiên chúng tôi lên đấy sau khi ngài qua đời – Cô ấy tìm thấy trong góc sâu của lò sưởi một mảnh giấy nhỏ. Phần lớn mảnh giấy đã thành tro, nhưng còn một mẫu nhỏ – Phần cuối cùng thì nguyên vẹn. Có thể đoán biết được các chữ viết mặc dầu mực đã xạm đi vì lửa, còn tờ giấy đã bị cháy. Có lẽ đấy là đoạn trích, chúng tôi đọc thấy thế này: “Cầu mong ngài như một người quân tử, hãy đốt lá thư này đi và hãy ở cạnh cửa hàng giậu vào mười giờ tối”. Phía dưới có hai chữ cái “L.L”.

- Ông có giữ đoạn trích đó không?

- Không, thưa ngài, nó nát vụn trong tay tôi.

- Trước đấy ngài Tsarlizơ có nhận được lá thư nào được viết bằng nét chữ ấy không?

- Tôi không biết, thưa ngài, tôi không để ý. Lá thư ấy tôi nhớ chỉ bởi vì nó là lá thư duy nhất trong ngày hôm đó.

- Ông không biết người đàn bà có tên là “L.L” hay sao?

- Không, thưa ngài, tôi không có ý niệm về nó. Nhưng tôi cho rằng giá chúng ta tìm được người đàn bà này, chúng ta sẽ biết các chi tiết nào đấy liên quan tới cái chết của ngài Tsarlizơ.

- Tôi quả thật không hiểu nổi ông Berimôrơ ạ! Có thể giấu những tin tức quan trọng như thế cho đến bây giờ?

- Ngài có biết không, thưa ngài, ngay sau đó một nỗi bất hạnh đã giáng xuống chính chúng tôi. Ngoài ra, tôi và vợ tôi rất quý ngài Tsarlizơ, chúng tôi không quên những ân huệ của ngài. Chúng tôi nghĩ bới lại chuyện cũ mà làm gì? Nó sẽ không giúp ích cho ông chủ bất hạnh của chúng tôi, mà khi người đàn bà bị cuốn hút vào công việc thì cần phải hành động một cách thận trọng. Thậm chí ngay cả những người đáng kính nhất…

- Theo ông, điều đó có thể xúc phạm tới ký ức về ông chăng?

- Vâng, thưa ông, tôi dám chắc là sẽ chẳng nhận được điều gì tốt lành từ đó cả. Nhưng ngài tốt với chúng tôi quá… Tôi không muốn giấu diếm ngài cái điều tôi biết.

- Được, Berimôrơ, ông có thể đi được rồi.

Lúc viên quản lý đi khỏi, ngài Genri quay lại chỗ tôi.

- Này, Oátxơn, ông sẽ nói gì về tia sáng mới mẻ này?

- Theo tôi, nó làm cho bóng tối càng tối hơn.

- Vâng, đúng vậy, nhưng nếu lần ra được cái người đàn bà “L. L” ấy thì mọi chuyện sẽ được sáng tỏ đấy. Khi ấy chúng ta biết có một người đàn bà nắm chắc nhiều điều, đấy cũng là một thành công quan yếu biết bao! Chỉ cần tìm được người đàn bà ấy. Chúng ta cần làm gì bây giờ?

- Khẩn trương báo điều đó cho Hôm biết. Rất có thể chúng sẽ chỉ cho anh ấy hay những dấu vết cần thiết. Hầu như tôi tin rằng bấy giờ anh ấy sẽ đến đây.

Tôi lui về phòng làm việc của mình viết gửi Hôm bản phúc trình chi tiết về các sự kiện trong buổi sáng nay. Bạn tôi vào thời gian gần đây có lẽ rất bận vì các bức thư từ phố Bâykơ càng ngày càng ít hơn và ngắn hơn. Trong các bức thư đó không có lấy một lời nhắc tới các bản phúc trình của tôi, còn về mục tiêu chuyến đi của tôi đến đây chỉ được nhắc thoáng qua. Vụ án về sự đe doạ cầu lợi có lẽ đang thu hút toàn bộ sức lực của Hôm. Nhưng các sự kiện gần đây chắc chắn sẽ cuốn hút sự chú ý của anh và sẽ lại khêu gợi lên trong anh sự quan tâm tới công việc điều tra của chúng tôi. Tôi mong anh đến đây quá!

17 tháng 10

Hôm nay mưa suốt ngày. Những giọt mưa nặng nề xào xạc trong đám trường xuân rậm rì đổ xuống từ thành gờ. Tôi nhớ tới tên tù khổ sai đang lẩn quất trong vùng sâu của khu đầm lầy than bùn buồn bã và trống trải. Một kẻ đáng thương! Những tội ác mà hắn gây ra là như thế, nỗi thống khổ của hắn giờ đây trong một mức độ nào đó đang bù lại cho những tội ác ấy. Và sau đấy, tôi nhớ tới một người, một người khác… Bột mặt thấp thoáng trong ô cửa sổ xe mui, thân hình mờ ám như được khắc chạm trên mặt trăng tròn. Chẳng lẽ, kẻ bí mật theo dõi khó nhận ra ấy, kẻ tiếp tay cho bóng đêm ấy lúc này cũng đang đi lang thang dưới trời mưa tầm tả.

Buổi chiều, tôi khoác áo mưa không thấm nước, đi vào vùng sâu của khu đầm lầy trong óc luôn hiện lên bức tranh kinh hoàng. Mưa tạt vào mặt, gió rít bên tai. Nhưng Chúa trời bảo vệ những người giờ đây đang đi lang thang cạnh vùng đầm lầy Grimpenơ! Vào thời tiết như thế đến ngay những quả đồi nhỏ ở đây cũng biến thành bãi lầy đặc sệt. Tôi tìm cột đá được xếp thành những bậc không đều nhau trên đó đã có người quan sát đơn độc đưa mắt nhìn xuống khu đầm lầy ảm đạm trải ra ở phía dưới. Những dòng nước mưa chảy xiết đổ xuống các chỗ thấp màu nâu, những đám mây nặng xám đen bay là là mặt đất, và xuyên qua những đám mây, hình những ngôi nhà kỳ cục hiện ra. Xa xa, từ phía tay phải tôi, những chiếc tháp hẹp mờ mờ của lâu đài Baxkêrvili nổi lên phía trên cây cối. Chỉ có mình chúng là nói về sự tồn tại của con người ở các vùng này nếu không tính đến những hang động thời tiền sử ở những sườn núi. Không ở đâu còn dấu vết nhỏ nhất của người xa lạ mà hình dáng lẻ loi của con người này tôi đã trông thấy hai đêm trước đây trên chính cột đá nọ.

Trên đường tôi quay trở lại, bác sĩ Môrtimôrơ đi trên chiếc xe tải nhỏ của mình từ hướng đầm lầy Grimpênơ đã đuổi kịp tôi. Vào thời gian này, bác sĩ rất quan tâm đến chúng tôi. Hầu như không ngày nào là ông không tạt qua lâu đài Baxkêrvili hỏi han xem chúng tôi sống ra sao. Bác sĩ mời tôi ngồi lên xe mình và ra lệnh đưa tôi về nhà. Ông rất buồn vì con chó săn của mình bị thất lạc. Nó chạy vào khu đầm lầy và đã không trở về nữa. Tôi an ủi bác sĩ, còn chính mình thì nhớ lại con pôni sa lầy ở vùng đầm lầy Grimpênơ và cho rằng chưa chắc Môrtimôrơ còn có dịp gặp lại con chó của mình.

- Nhân thể xin hỏi thêm – Tôi nói trong khi chúng tôi cùng bị xóc theo ổ gà của con đường – Bác sĩ này, có lẽ ông biết tất cả những người nằm trong khu vực giao thiệp của ông ở đây chứ?

- Tôi nghĩ mình biết tất cả.

- Vậy, chắc có lẽ ông sẽ nói được cho tôi biết tên và họ đầy đủ của người đàn bà có các chữ cái đầu là “L. L”.

Môrtimôrơ trầm ngâm suy nghĩ rồi trả lời:

- Không. Quả thật là tôi không thể đảm bảo trong số người Digan và những người làm việc ở các trang trại được, nhưng trong số những điều chủ và những nhà quý tộc nhỏ thì hình như không có ai chữ cái đầu của họ tên lại như thế. Hượm đã! Sau khi ngừng lời, ông thêm – Có Laura Latônxơ nào đó, đấy là “L.L” mà ông đang cần biết chăng? Thế nhưng bà ta lại sống ở Kumbi – Trêxi kia.

- Bà ấy là ai vậy? Tôi hỏi

- Con gái của Phrênklênđơ.

- Ôi! Con gái của ông lão gàn dở ấy à?

- Rất đúng. Bà ta lấy một hoạ sĩ họ là Intônxơ, tay này đưa đến đây nhiều phác thảo. Hắn là một tên vô lại và đã bỏ rơi bà ta. Tuy nhiên theo những điều tôi nghe được thì không thể đổ toàn bộ lỗi lầm cho một bên nào cả. Người cha cũng không thừa nhận bà bởi vì bà đi lấy chồng không được sự chấp thuận của cha và có thể không chỉ bởi lý do đó đâu. Tóm lại đấy là hai kẻ vô công rồi nghề – Một già một trẻ ra sức đầy đoạ người người đàn bà bất hạnh bằng tất cả những gì có thể làm được.

- Vậy bà ta sống bằng cách nào?

- Ông già Phrênklênđơ chắc cũng cho bà ta một cái gì đó, lẽ tất nhiên không nhiều, vì các vụ án riêng của ông rơi vào tình trạng thật thảm hại. Những cái gọi là tội lỗi của bà chỉ là vậy thôi, chớ nên làm cho bà ấy bị đẩy xuống thấp hơn mà làm gì. Chuyện này mọi người ở đây đều biết. Những láng giềng – ngay cả Xtepltôn và ngài Tsarlizơ – cũng đã giúp bà, tạo điều kiện cho bà làm ăn sinh sống một cách lương thiện. Tôi cũng đã quyên góp một chút gì đó. Chúng tôi muốn bà ta tập đánh máy.

Môrtimêrơ hỏi vì sao điều đó lại khiến tôi quan tâm. Tôi đã gợi trí tò mò của ông, gắng không đi sâu vào các tiểu tiết, bởi chúng tôi hoàn toàn không thể thổ lộ những vụ án của mình cho người khác nghe vì bất cứ một lý do nào.

Sáng mai tôi sẽ đi Kumbi-Trêxi, và nếu  tôi gặp được người đàn bà có cái tên rất đáng hoài nghi ấy – bà Laura Laiônxơ, thì chúng tôi sẽ tiến thêm được một bước đáng kể trong việc phanh phui bí mật này.

Nhân thể nói thêm, kẻ phục vụ ngoan ngoãn của Hôm dần dà đã biến thành con yêu quái mất rồi: Lúc Môrtimêrơ mới gạn hỏi tôi thì tôi đã chuyển sang hỏi dò ông ta xem xương sọ của Phrênklênđơ thuộc kiểu nào và thế là tôi đã cứu vãn được tình thế – Phần còn lại của con đường, tôi chỉ còn nghe giảng về môn khoa học nghiên cứu sọ người và động vật. Những năm tháng sống gần Sơlốc Hôm đã trôi qua không đến nỗi uổng phí đối với tôi.

Để kết thúc những trang mô tả cái ngày mưa dầm ão não ấy, tôi sẽ nhắc lại một cuộc trò chuyện nữa với Berimôrơ. Cuộc trò chuyện đã cho tôi con chủ bài để từ đó tôi sẽ đi tới điểm cần thiết.

Môrtimêrơ ở lại chỗ chúng tôi, và sau bữa trưa họ cùng với nam tước tổ chức chơi bài ekarte. Viên quản lý đem cà phê vào phòng làm việc cho tôi, và tôi đã lợi dụng thời cơ này để yêu cầu ông ta trả lời một vài câu hỏi của mình.

- Này Berimôrơ, người bà con đáng mến của ông hiện đang làm gì? Anh ta đã đi khỏi khu đầm lầy hay còn đang ẩn áu ở đó?

- Tôi không biết, thưa ngài. Mong sao chú ấy mau chóng rời khỏi đây! Vì chúng tôi mà chú ấy đã đau khổ đủ rồi. Từ lúc tôi mang thức ăn cho chú ấy lần cuối cùng cách đây ba ngày tôi không biết điều gì về chú ấy nữa.

- Vậy là ông gặp anh ta?

- Không, thưa ngài, sau khi kiểm tra tôi không thấy thức ăn ở đó nữa.

- Một khi thức ăn không còn nghĩa là anh ta vẫn còn ở đấy.

- Hình như thế,thưa ngài, nếu không tính đến là có một người nào khác đã lấy thức ăn.

Tay cầm ly của tôi ngưng lại giữa chừng, và cả hai mắt tôi chằm chằm nhìn vào Berimôrơ.

- Ông biết là ở đấy có một người à?

- Vâng, thưa ngài, trên đầm lầy còn có một người khác đang lẩn trốn.

- Ông bắt gặp người ấy hay sao?

- Không, thưa ngài.

- Do đâu ông biết về hắn?

- Xêlđên nói cho tôi biết về người ấy mười ngày trước đây. Hắn cũng trốn tránh, nhưng theo tôi con người này không phải là tù khổ sai nào đó… Tôi không ưa chuyện đó, bác sĩ Oátxơn ạ, tôi không ưa chuyện đó chút nào! – Đột nhiên Berimôrơ buột miệng nói những lời đó ra với sức mạnh đáng kinh ngạc.

- Hãy nghe đây, ông bạn của tôi! Ở đây tôi hành động chỉ theo những yêu cầu của chủ ông. Tôi đến đây chỉ để giúp ngài. Hãy nói thẳng ra cho tôi biết: cái gì khiến ông không ưa thích vậy?

- Tất cả những gì đang diễn ra ở đấy, thưa ngài! – Cuối cùng ông ta thốt lên sau khi chỉ vào ô cửa sổ quay ra khu đầm lầy bị ố bẩn vì nước mưa – Chuyện đó không có gì là lương thiện cả. Người ta đang toan tính một việc làm mờ ám, hãy tin vào lời nói của tôi! Giờ đây tôi chỉ muốn mỗi một điều: ngài Genri sẽ mau chóng rời đi Luân Đôn.

- Cái gì khiến ông kinh hãi vậy?

- Ông hãy nhớ tới cái chết của ngài Tsarlizơ! Viên dự thẩm ở đây có nói không đúng sự thật, cũng có sao đâu! Ban đêm hãy chăm chú lắng nghe xem cái gì đang xảy ra ở khu đầm lầy. Bởi những kẻ không vụ lợi thì sẽ không chịu thoả thuận vào đấy sau khi mặt trời lặn đâu… Con người này lẩn lút ở đấy và theo dõi ai đó – Hắn theo dõi ai vậy? Tất cả chuyện ấy nghĩa là thế nào? Không, điều đó sẽ không kết thúc một cách tốt lành cho tất cả những ai có cái tên Baxkêrvili. Tôi sẽ không chờ đến ngày những người phục vụ mới của ngài Genri thế chỗ tôi đâu, có thể tôi sẽ đi khỏi đây!

- Hãy kể cho tôi biết về con người ấy đi! – Tôi nói – Ông biết gì về hắn ta? Xêlđên nói gì vậy? Anh ta biết hắn ẩn nấp ở đâu và để làm gì chứ?

- Xêlđên gặp hắn hai lần, nhưng hắn thận trọng và tinh quái lắm. Ban đầu, Xêlđên lầm hắn với cảnh binh, rồi sau đấy chú ấy dám chắc rằng hắn không phải như vậy. Nhìn bề ngoài hắn có vẻ là một bậc quân tử, nhưng hắn cần gì ở đây, hắn không săn bắn gì cả.

- Hắn ẩn nấp ở đâu?

- Xêlđên nói là trong những hang động cổ xưa trên các triền núi – Ông biết ở đấy có những hang động bằng đá nơi xưa kia con người sinh sống.

- Hắn được nuôi dưỡng bằng gì?

- Xêlđên trông thấy có một chú bé nào đấy đi đến chỗ hắn. Cậu ta có lẽ mang theo đồ ăn và những thứ khác từ Kumbi-Trêxi tới.

- Thôi được, Berimôrơ, vào lúc khác chúng tôi sẽ nói chuyện thêm với ông về điều đó.

Lúc viên quản lý ra khỏi phòng, tôi dừng lại cạnh cửa sổ, xuyên qua tấm kính mờ tôi đưa mắt nhìn những đám mây đang trôi nhanh trên bầu trời và những lùm cây đang bị gió quật mạnh. Vào thời tiết này, ngay ở trong nhà còn thiếu tiện nghi, nói gì đến trong hang đá ở khu đầm lầy! Lòng oán thù sôi sục nào khiến hắn mai phục ở một nơi như thế vào thời điểm như vậy! Cái gì đã thúc đẩy con người ấy lao vào cơn thử thách cực kỳ gian khổ này?

Ở một trong số những hang động kia ẩn chứa ngay chính nhiệm vụ đang dằn vặt tôi. Xin thề là chưa đầy một ngày nữa tôi sẽ làm tất cả những gì mà sức lực con người cho phép để gắng tìm ra lời giải đáp bí ẩn này.

 

CHƯƠNG XI

NGƯỜI TRÊN CỘT ĐÁ HOA CƯƠNG

 

Những đoạn trích rút ra từ trong nhật ký của tôi tạo thành chương trước đã đưa chúng ta tới sát ngày 17 tháng 10, nghĩa là đến sát cái ngày các sự kiện khó tin là có thật này sẽ tiến nhanh tới kết cục bi thảm của mình. Các sự cố của những ngày sau cùng ấy in đậm vào trong trí nhớ của tôi đến mức tôi có thể kể về chúng mà không nhờ cậy vào những trang ghi chép của mình.

Vậy tôi xin bắt đầu từ sau cái ngày có hai tình tiết quan trọng hàng đầu đã được sáng tỏ. Một là, bà Laura Laiônxơ ở Kumbi- Trêxi viết thư cho ngài Tsarlizơ Baxkêrvili hẹn gặp ngài ở chính nơi ngài bị chết (thêm vào đấy là cả giờ hẹn gặp nữa). Hai là, cần tìm kiếm trong những hang đá trên sườn núi một người đang ẩn náu ở vùng đầm lầy. Tôi cảm thấy là hiện giờ chỉ thiếu lòng can đảm và trí thông minh mới có thể ngăn cản tôi giải đáp hai điều bí ẩn này.

Vào tối hôm đó, tôi đã không kể được cho nam tước nghe về bà Laitônxơ, vì bác sĩ Môrtimêrơ ngồi chơi bài với ngài đến tận khuya. Nhưng vào ngày hôm sau, trong lúc ăn sáng, tôi đã chia sẻ cùng ngài sự khám phá của mình và mời ngài cùng tôi tới Kumbi-Trêxi. Ban đầu ngài vui lòng chấp thuận, nhưng sau một thời gian suy nghĩ ngài cho rằng tốt hơn cả là tôi nên đi một mình. Cuộc viếng thăm này càng được tổ chức đúng nghi thức thì công việc của chúng tôi sẽ càng ít hiệu quả. Tôi không thấy lương tâm bưt rứt khi để ngài Genri ở lại nhà và tự mình lên đường tới các cuộc tìm kiếm mới mẻ ấy.

Khi đến gần Kumbi-Trêxi, tôi ra lệnh Pêrkinxơ ghìm ngựa lại dò hỏi về người đàn bà mà tôi sẽ phải tra hỏi. Việc tìm kiếm nhà của bà hoá ra không thật khó khăn lắm – ngôi nhà ở ngay giữa làng. Không cần lễ nghi thủ tục gì cả, người nữ hầu mở cửa dẫn tôi vào phòng khách, nơi có một người đàn bà đang ngồi sau máy chữ. Với nụ cuời thoải mái, bà ta đứng dậy đón tôi, nhưng sau khi nhận ra trước mặt mình là một người chưa quen biết thì bà lại ngồi xuống ghế ướm hỏi về mục đích cuộc viếng thăm của tôi.

Ngay từ phút đầu tiên, bà Laiônxơ đã khiến tôi kinh ngạc bởi sắc đẹp của mình. Cặp mắt nâu sáng, tóc màu hạt dẻ, nước da mịn màng ửng đỏ trên đôi má điểm nhiều tàn hương – Đó là nước da mê ly của đoá hồng bạch ẩn giấu trong trái tim. Tôi xin nhắc lại, ấn tượng ban đầu là rất mạnh mẽ. Tuy nhiên, sau khi nhìn kỹ tôi lại cảm thấy có một sự hoà hợp luôn biến đổi. Trên khuôn mặt ấy có cái gì đó thô thiển, khó coi – khi thì những nếp nhăn nhu nhược ở mép, lúc thì vẻ cứng rắn của cái nhìn đã làm mất đi vẻ hoàn mỹ của nó. Nhưng mọi ý nghĩ này về sau mới nảy ra trong đầu tôi, còn vào phút ban đầu tôi chỉ cảm thấy rằng đang ngồi trước mặt tôi là một người đàn bà rất đẹp và người đàn bà này hỏi xem tôi đến đây để làm gì. Chỉ đến lúc ấy tôi mới cảm thấy rõ rệt là mục đích của chuyến viếng thăm của mình quả là tế  nhị.

- Tôi rất lấy làm hân hạnh được làm quen với cụ thân sinh ra bà – Tôi nói.

Sự khởi đầu vậy là hoàn toàn không thành công, ngay lập tức người đàn bà đã cho tôi hiểu điều đó.

- Tôi không còn liên quan gì tới cha tôi nữa – Bà ta nói – Tôi đã cắt mọi quan hệ với ông ấy và tôi không thể coi bạn của ông là bạn của mình được. Nếu không có ngài Tsarlizơ Baxkêrvili đã mất và một vài người từ tâm khác thì tôi đã chết đói rồi.

- Tôi cũng muốn nói chuyện với bà về ngài Tsarlizơ  Baxkêrvili đã khuất.

Những nốt tàn nhang hiện rõ trên khuôn mặt tái nhợt của bà.

- Điều gì khiến ngài quan tâm vậy? – Bà ta hỏi, những ngón tay của bà xúc động chạm vào các phím máy chữ.

- Bà quen biết ngài chứ?

- Tôi đã nói là tôi đội ơn ngài ấy rất nhiều. Nếu tôi còn có thể đứng trên đôi chân này thì chủ yếu là vì mối thiện cảm ngài đã biểu lộ đối với số phận của tôi.

- Bà đã trao đổi thư từ với ngài phải không?

Người đàn bà nhìn tôi rất nhanh và trong đôi mắt nâu sáng của bà ta bùng lên một tia lửa độc ác.

- Hãy giải thích cho tôi biết mục đích của những lời tra hỏi này? – Bà ta sẵng giọng hỏi.

- Có thể chỉ thế này: đã có những lời đồn đại không hay ho lắm về bà. Nào, hãy cùng nói chuyện ở đây nếu không thì điều đó sẽ nằm ngoài quyền lực của chúng ta và khi ấy sẽ càng xấu hơn.

Người đàn bà càng tái nhợt hơn. Bà im lặng hồi lâu. Sau đấy đột nhiên bà nhìn tôi và nói bằng giọng điệu xấc xược.

- Được, tôi đồng ý. Ông muốn biết gì nào?

- Bà đã trao đổi thư từ với ngài Tsarlizơ?

- Vâng, tôi đã hai lần viết thư cho ngài, tôi cám ơn lòng độ lượng và sự lịch thiệp của ngài.

- Bà còn nhớ ngày tháng của các lá thư ấy không?

- Không.

- Bà đích thân gặp ngài hay sao?

- Cùng ngày với thời gian đến Kumbi-Trêxi của ngài. Ngài Tsarlizơ là một người rất khiêm tốn, ngài không ưa khuếch trương những việc làm lương thiện của mình.

- Bà ít khi trao đổi thư từ với ngài, ít khi gặp gỡ ngài. Tuy nhiên ngài rất quan tâm tới công việc của bà, thậm chí còn giúp đỡ bà nữa! Điều ấy giải thích thế nào được nhỉ?

Không cần phải suy nghĩ, bà ta trả lời ngay câu hỏi hóc búa của tôi:

- Những bậc quân tử khác không biết lai lịch đau buồn của tôi đã quý tôi bằng những sức lực chung. Một người trong số họ là ông Xtepltôn, láng giềng và bạn thân của ngài Tsarlizơ. Ông đã biểu lộ lòng từ tâm hiếm có đối với tôi và qua ông ấy, ngài Tsarlizơ đã quen tôi.

Tôi biết ngài Tsarlizơ đã nhiều lần uỷ thác cho Xtepltôn điều hành những công việc từ thiện của mình, cho nên tôi coi việc giải thích như thế là hoàn toàn giống với sự thật.

- Bây giờ xin hãy cho tôi biết: trong các lá thư của mình gửi cho ngài Tsarlizơ bà có hẹn gặp riêng ngài không?

Bà tức giận đến đỏ mặt:

- Tôi coi câu hỏi như thế là không thích hợp, thưa ông!

- Hãy thứ lỗi cho tôi, thưa bà, nhưng tôi  buộc lòng phải nhắc lại câu hỏi đó.

- Được, tôi sẽ trả lời: Tất nhiên, không!

- Ngay cả vào ngày ngài Tsarlizơ qua đời cũng thế?

Trong khoảnh khắc nước da đỏ đắn trên má bà ta dịu hẳn đi. Nét mặt quay về phía tôi phủ một vẻ nhợt nhạt chết chóc. Cặp môi khô lại run run, và tôi đã thấy trước là một tiếng “không” nữa sẽ được thốt ra.

- Trí nhớ rõ ràng đã bội bạc với bà thì phải. Tôi có thể trích, một câu từ bức thư của bà. Ở đấy viết thế này: “Cầu xin ngài như một bậc quân tử hãy đốt bức thư này, và ở cạnh cửa hàng rào vào lúc 10 giờ tối”.

Tôi ngỡ rằng chỉ một giây sau là bà Laiônxơ sẽ ngất xỉu đi, thế nhưng bà đã tự kiềm chế được mình với một sức mạnh tinh thần thật phi thường.

- Nghĩa là trên đời này không hề có những người đàn ông chân chính! – Bà buột miệng nói.

- Bà thật không công minh với ngài Tsarlziơ: ngài đã thực hiện đúng yêu cầu của bà. Nhưng sau đó có thể đọc lá thư bị cháy. Bây giờ bà hãy thú nhận đi: bà đã viết thư cho ngài ngày hôm ấy phải không.

- Vâng, tôi viết. Tôi sẽ không làm gì phải từ chối! – Bà ta thốt lên những lời thật tâm huyết – Tôi sẽ không chút hổ thẹn vì lá thư này. Tôi yêu cầu ngài giúp tôi. Và tôi tin rằng nếu nói chuyện được với ngài thì ngài sẽ không từ chối việc giúp đỡ tôi.

- Nhưng tại sao bà lại quy định giờ gặp như thế?

- Tôi biết là ngày hôm sau ngài sẽ đi Luân Đôn có lẽ phải tới vài tháng. Tôi không thể đi tới đấy sớm hơn, tôi có những lý do riêng của mình.

- Tại sao bà lại hẹn gặp ở ngoài trời? Chẳng lẽ không thể sắp xếp cuộc gặp gỡ ở trong nhà được hay sao?

- Theo ông, người đàn bà có thể xuất hiện một mình ở nhà một người chưa có gia đình vào lúc muộn màng như thế được sao?

- Thôi được. Cái gì đã xảy ra lúc bà đi tới cuộc hẹn hò?

- Tôi đã không đi đâu cả.

- Bà Laiônxơ!

- Xin thề với ông, tất cả chuyện ấy là thiêng liêng đối với tôi. Tôi đã không thể đi đâu cả. Tôi đã bị ngăn cản.

- Cái gì cản trở bà?

- Đây là việc riêng của tôi. Tôi không thể nói được.

- Như vậy, bà đã hẹn gặp ngài Tsarlizơ chính ở nơi ngài bị chết, thậm chí vào đúng thời gian ngài bị chết, thế mà chính bà lại không đi đến đấy?

- Đó là sự thật thiêng liêng.

Tất cả những mưu chước của tôi đã không dẫn tới đâu cả, bà ta vẫn tiếp tục dừng lại ở vị trí của mình.

- Bà Laiônxơ – Tôi nói để kết thúc cuộc thẩm vấn thiếu kết quả kéo dài này – Bà không muốn nói thật và bởi thế bà sẽ chịu trách nhiệm nặng nề về điều đó. Cương vị của bà rất khó xử. Nếu tôi nhờ vào cảnh binh thì tất cả chuyện đó sẽ làm tổn hại tới thanh danh của bà. Chúng tôi giả thử là bà không có lỗi lầm gì cả. Vậy thì tại sao ngay từ những lời đầu tiên bà đã cự tuyệt việc nói tới lá thư của bà gửi cho ngài Tsarlizơ vào ngày ngài qua đời?

- Tôi e rằng từ đó sẽ nảy ra những kết luận lệch lạc đẩy tôi vào những chuyện chẳng thoái mái gì.

- Vì sao bà khẩn khoản yêu cầu ngài Tsarlizơ huỷ bức thư của mình đi?

- Nếu đọc lá thư thì ông đã rõ vì sao rồi.

- Tôi không nói là tôi đã đọc tòan bộ lá thư.

- Ông đã nhớ trọn vẹn một câu kia mà!

- Chỉ là phần tái bút thôi. Tôi đã nói với bà là lá thư đã bị đốt, tôi không đọc được toàn bộ lá thư. Xin nhắc lại câu hỏi của tôi một lần nữa: Vì lẽ gì mà bà đã khẩn khoản yêu cầu ngài Tsarlizơ huỷ lá thư của bà đi?

- Điều đó chỉ liên quan đến tôi thôi.

- Vậy thì bà cần phòng ngừa cuộc điều tra công khai đấy.

- Được, tôi sẽ kể cho ông nghe tất cả. Nếu có những lời đồn đại về số phận cay đắng của tôi đến được ông thì ông cần biết rằng tôi lấy chồng một cách hấp tấp và tôi có toàn bộ cơ sở để phải luyến tiếc về điều đó.

- Vâng, tôi đã nghe biết được điều gì đấy.

- Từ đấy, người chồng mà tôi thù ghét không ngừng truy tố tôi, gắng đạt được ý muốn của mình. Pháp luật thì đứng về phía hắn, mối nguy hiểm đe doạ tôi hàng ngày: hắn ép buộc tôi phải sống chung. Trước khi viết thư cho ngài Tsarlizơ, tôi biết rằng tôi có thể được tự do, nhưng để đạt được điều đó thì cần phải có tiền… Tự do sẽ cho tôi tất cả: sự thư thái trong tâm hồn, hạnh phúc và lòng tự trọng. Phải kiên quyết thôi! Biết rõ tấm lòng hào hiệp của ngài Tsarlizơ, tôi nghĩ: nếu nói cho ngài biết về nỗi cay đắng của mình chắc ngài sẽ không từ chối việc giúp tôi.

- Vậy tại sao bà không đến cuộc gặp mặt?

- Bởi vì vào lúc ấy tôi đã kịp nhận được sự giúp đỡ của người khác.

- Vậy cần phải viết thư giải thích vì lẽ gì bà không thể đến được chứ?

- Tôi đã làm như thế nếu tôi không đọc được bài báo viết về cái chết của ngài vào sáng hôm sau.

Câu chuyện hoàn toàn chặt chẽ, những câu hỏi của tôi đã không thể làm lay chuyển vẻ giống như thật của nó. Có thể kiểm tra tất cả điều này chỉ bằng một cách: biết được bà Laiônxơ có bắt đầu việc ly dị của mình không bao lâu sau cái chết bi thảm của ngài Tsarlizơ hay không.

Bà ta chắc gì dám nói dối là đã không đến cuộc gặp mặt vì bà phải đi bằng xe hai bánh tới lâu đài Baxkêrvili và trở về Kumbi-Trêxi chỉ vào lúc rạng sáng. Không giữ nổi một chuyến đi như thế được. Như vậy, bà ta đã nói đúng hoặc là ít nhất cũng đã nói đúng một phần sự thật.

Tôi từ biệt bà, rối trí và chán chường bởi sự thất bại của mình. Trước mắt tôi lại là một bức tường dài dằng dặc xuất hiện trên mọi nẻo đường dẫn tới mục đích đã được định trước. Tuy nhiên, khi nhớ lại khuôn mặt của người phụ nữ, cách cư xử của bà vào thời gian nói chuyện, tôi càng ngày càng tin rằng còn nhiều điều bà che giấu tôi. Tại sao bà đột nhiên tái xanh tái xám như thế? Tại sao tôi buộc phải bắt bẻ từng lời của bà? Tại sao bà không đến cuộc gặp mặt được hẹn vào lúc tấn bi kịch xảy ra? Chắc nguyên do của mọi chuyện đó không đơn giản như bà muốn khơi lên trong tôi. Quả không thể làm gì thêm ở đây nữa! Buộc phải lần theo những dấu vết khác đưa tới các hang đá trên khu đầm lầy vậy.

Thế nhưng, những dấu vết này chưa được rõ ràng. Trên đường quay trở về lúc đi qua những quả đồi còn in những dấu tích sinh hoạt của người tiền sử tôi đã tin chắc rằng như vậy. Berimôrơ nói rằng người lạ mặt ẩn náu ở một trong số những hang động bỏ hoang, nhưng ở đây những hang động như thế có thể gặp ở khắp mọi nơi. Vả lại ngoài những chỉ dẫn của Berimôrơ, tôi cũng có những khả năng thu nhận riêng của mình, vì chúng tôi cũng đã nhìn thấy con người ấy trên đỉnh cột đá hoa cương. Như vậy, cần bắt đầu tìm kiếm ở đấy. Tôi sẽ khám xét từng hang động ở chỗ đó và cuối cùng sẽ tìm ra cái cần thiết cho tôi. Nếu tôi đụng phải kẻ lạ mặt nọ, tôi sẽ buộc hắn phải phải tự xưng danh, phải thú nhận là tại sao hắn lại đeo đẳng việc theo dõi chúng tôi như vậy. Thậm chí để làm việc đó tôi buộc phải dùng súng lục để doạ dẫm. Hắn đã thoát khỏi tay Hôm trên phố đông người Riđjiêntơ, còn ở đây, trên khu đầm lầy trống không này, hắn sẽ không làm nổi điều đó. Nếu tôi phát hiện ra chính chiếc hang này mà kẻ nương thân lại không có ở đấy thì tôi sẽ chờ hắn quay trở lại. Hôm đã đánh xổng con người ấy ở Luân Đôn. Tôi sẽ hân hoan đến mức nào nếu truy lùng được hắn và vì vậy có ưu thế hơn hẳn ông thầy của tôi.

Biết bao lần vào lúc điều tra, sự may mắn đã phản bội lại chúng tôi, nhưng giờ đây nó đã quay mặt về phía tôi. Người báo tin thành công không phải ai khác mà là ông Phrênklênđơ tóc bạc má đỏ hây hây, người gặp tôi ở cạnh cửa vườn dẫn ra ngoài con đường chạy qua đây.

- Chào bác sĩ Oátxơn! – Ông lên tiếng chào hỏi không bình thường chút nào – Hãy cho ngựa nghỉ ngơi chút đã! Rẽ vào đây và hãy vui lòng cạn chén cùng tôi.

Sau khi nghe biết về mối quan hệ của ông Phrênklênđơ với đứa con gái ruột rà của mình, tôi không thể có một tình nhân ái gì đặc biệt với ông cả. Tuy nhiên, bằng bất kỳ giá nào tôi cũng cần phải cho Perkinxơ trở về nhà và không thể có một lý do nào tốt hơn thế. Tôi trườn ra khỏi xe ngựa, sai người xà ích báo cho ngài Genri biết là tôi sẽ trở về vào lúc ăn trưa, rồi theo sau Phrênklênđơ đến thẳng phòng ăn.

- Hôm nay tôi có một ngày trọng đại, thưa ngài, một ngày hội thực sự! – Ông ta tuyên bố trong tiếng cười vang lên một cách thích thú – Tôi thắng hai vụ kiện liền. Bây giờ, bọn người ở đây sẽ hiểu rằng luật pháp là luật pháp, rằng với tôi, họ có công chuyện với một người không hề e ngại trong việc giáng đòn trừng phạt của mình xuống đầu những kẻ không biết điều. Tôi đã đạt được quyền tự do đi qua công viên của ông già Miđlôn – đi qua ngay chính công viên cách cửa của ông ta chừng một trăm bước, thưa ngài! Này, ngài sẽ nói gì về chuyện đó? Tôi còn cho những viên đại quan của chúng tôi những bài học thật đích đáng. Họ thật đáng nguyền rủa! Họ hãy biết rằng không một ai được phép chà đạp lên những đạo luật công xã mà không bị trừng trị. Ngoài điều đó ra, tôi cũng đã rào con đường đi vào rừng, nơi bọn người ở đây đã quen thói tổ chức những cuộc du ngoạn. Những bọn vô lại ấy xử sự cứ như là quyền tư hữu riêng không hề tồn tại ấy. Bọn họ tưởng tượng rằng họ có thể để lại những chai không và những mẫu giấy vụn ở đâu cũng được. Hai vụ án đã kết thúc và cả hai đều có lợi cho tôi, bác sĩ Oátxơn ạ. Từ lâu tôi chưa có một ngày sung sướng như thế kể từ khi tôi bắt ngài Đjiôn Môrlênđơ phải chịu trách nhiệm về việc săn bắn trái phép trong thời gian ông ta lùng những chú thỏ ở bãi chăn nuôi thuộc quyền sở hữu của mình.

- Ông đạt được điều đó bằng cách nào vậy?

- Ngài hỏi cái phòng lưu trữ của toà án ấy, thưa ngài, ngài sẽ không luyến tiếc về thời giờ tiêu xài ở đấy đâu. “Phrênklênđơ chống lại Môrlenđơ”, vụ án lan tới Luân Đôn. Nó làm tôi phí đến hai trăm bảng Anh, nhưng tôi đã thắng ông ta!

- Vụ này đem lại cho ông cái gì?

- Không có gì cả, thưa ngài, hoàn toàn không có gì cả. Tôi tự hào bởi tôi không hề có lợi ích riêng nào trong các vụ án này. Tôi  chỉ thực hiện nghĩa vụ công dân của mình. Tôi không hoài nghi rằng đêm nay những người dân của làng Phêđvônxi sẽ lại đốt hình nộm của tôi trên giàn lửa. Vào lần gần đây, khi họ có mưu đồ làm chuyện đó, tôi đã yêu cầu cảnh binh đặt dấu kết thúc cái trò tầm bậy ấy. Nhưng các nhà chức trách ở địa phận chúng ta xử sự hoàn toàn đáng sỉ nhục, thưa ngài! Tôi có quyền nhờ cậy vào sự bảo trợ của họ, thế mà họ đã không bảo vệ tôi! Ngài hãy chờ đấy, rồi vụ án “Phênklênđơ chống lại cảnh binh” sẽ thu hút sự chú ý của xã hội cho mà coi. Tôi xin báo trước rằng chính quyền địa phương sẽ lấy làm luyến tiếc về mối quan hệ đáng công phẫn đối với tôi. Mà những lời của tôi đã trở thành hiện thực rồi đấy!

- Bằng cách nào vậy? – Tôi hỏi.

Ông già ném vào tôi một cái nhìn nhiều ý nghĩa:

- Trước lúc chết, họ muốn biết một chuyện mà tôi có được biết ít nhiều. Nhưng tôi sẽ không vì lợi ích nào trên đời này để giúp những tên vô lại ấy.

Tôi nóng lòng tìm cớ nào đó để mau chóng thoát khỏi ông già ba hoa này, thế nhưng những lời nói sau cùng của ông ta khiến tôi lưu tâm. Tuy nhiên, tôi biết rõ thói quen ngang ngược của ông già tiêu xài thời gian một cách đáng chê trách ấy: chỉ cần biểu lộ sự quan tâm đến câu chuyện của ông. Nên ông vừa ngừng lời, tôi đã hỏi với giọng tỉnh bơ:

- Có lẽ lại vụ săn bắn trái phép chứ gì?

- Ha ha! Không, ông bạn của tôi ạ, đấy là một công việc cực kỳ nghiêm trọng. Nếu nó liên quan tới tên tù khổ sai vượt ngục thì sao?

Tôi giật thót mình:

- Ông biết chỗ hắn ẩn náu?

- Chỗ chính xác có thể tôi không biết, nhưng tôi có thể đưa cảnh binh lần theo vết của hắn. Chẳng lẽ ngài lại không cho rằng để lùng bắt được con người này, chúng ta cần biết ai mang đồ ăn cho hắn, rồi chúng ta theo dõi việc cung cấp đồ ăn hay sao?

Ông già càng đến gần sự thật, tôi càng tỏ ra e dè.

- Vâng đúng vậy – Tôi nói – Nhưng vì lẽ gì ông cho rằng tên tù khổ sai vẫn còn lẩn lút ở trong khu đầm lầy?

- Vì chính mắt tôi đã trông thấy kẻ mang đồ ăn cho hắn.

Tim tôi thắt lại khi nghĩ tới Berimôrơ. Nếu ông ta rơi vào tay lão già gian giảo độc ác này thì công việc của ông sẽ rất xấu. Nhưng khi nghe xong những điều sau đó, tôi thở phào nhẹ nhõm.

- Ngài hãy tưởng tượng xem, một thằng nhóc mang đồ ăn – Phrênklênđơ tiếp tục – Hàng ngày tôi nhìn thấy hắn qua ống kính viễn vọng ở trên mái nhà tôi. Nó đi chỉ theo một đường và cùng vào một thời gian. Tới chỗ ai vậy? – Tự nhiên nảy sinh ra câu hỏi như thế. Tất nhiên tới chỗ tên tù khổ sai!

Đấy, nó đấy, sự thành công đấy, và thế là cuối cùng nó đã đến!

Mặc dù vậy tôi vẫn không tỏ ra là điều đó khiến tôi quan tâm. Chú bé! Berimôrơ nói rằng có một chú bé nào đấy nuôi dưỡng một người chưa được chúng tôi biết đến. Nghĩa là Phrênklênđơ đã lần ra dấu vết của con người này, và đấy chắc chắn không phải là người tù khổ sai. Nếu tôi có thể moi ở ông già tất cả những gì ông ta biết thì điều đó sẽ giải thoát tôi khỏi quá trình tìm kiếm lâu dài và mệt mỏi. Nhưng vẻ thiếu tin cậy và sự lãnh đạm hoàn toàn vẫn còn là những con át chủ bài của tôi trong trò chơi này như trước.

- Thế mà tôi tưởng đấy là con trai của một người chăn cừu nào ở đây. Có lẽ chú ta mang đồ ăn cho cha mình.

Mối hoài nghi nhỏ nhất đã dập tắt những tia lửa từ ông già hách dịch này. Ông quắc mắt giận dữ nhìn tôi, tóc tôi dựng đứng tựa như con mèo trong cơn điên khùng.

- Ngài tưởng thế à, thưa ngài? – Ông chỉ tay về phía khu đầm lầy trải dài trước mặt chúng tôi nói tiếp – Ngài có nhìn thấy cột đá hoa cương kia không? Thế đấy, và quả đồi thâm thấp với những cụm mận gai ở phía sau nó nữa? Đó là một nơi nhiều đá nhất trên cả khu đầm lầy, ở đấy thì những người chăn cừu làm gì? Giả thiết của ngài quả là không có cơ sở, thưa ngài!

Tôi sẳn sàng chấp nhận là tôi đã không để ý tới điểm này. Sự ngoan ngoãn của tôi đã khiến Phrênklênđơ thích chí, ông ta bắt đầu những câu chuyện huyên thuyên tiếp theo.

- Thưa ngài, ngài có thể tin rằng không bao giờ tôi lại đưa ra những kết luận vội vàng cả. Tôi trông thấy chú bé xách tay nải này không phải lần đầu. Hàng ngày, cứ hai lần nó lại… Gượm đã, Oátxơn!... Đây là ảo giác hay có một cái gì đấy đang chuyển động theo sườn núi thế kia?

Thật vậy? ở cách tới vài dặm mà tôi vẫn trông thấy, một điểm đen nhỏ trên sườn núi mờ mờ xanh.

- Hãy lên đây, thưa ngài, hãy lên đây! – Phrênklênđơ vừa kêu vừa theo cầu thang leo lên trên. Ngài sẽ tận mắt mình nhìn thấy nó!

Trên mái nhà bằng phẳng có đặt một chiếc ống kính viễn vọng cỡ rất lớn cột chặt vào chiếc giá đỡ ba chân. Phrênklênđơ lao nhanh tới ống kính la thét ầm ĩ:

- Mau lên, bác sĩ Oátxơn, mau lên! Nếu không nó lẫn vào sau núi mất!

Quả vậy, một chú bé với tay nải sau vai đang chậm chạp theo sườn núi leo lên trên. Rồi chú lên đến đỉnh núi và tôi trông thấy rất rõ. Hình dáng vụng về với quần áo rách rưới của chú in lên trên khoảng xanh biếc lạnh lẽo của bầu trời. Chú bé lén lút đưa mắt nhìn khắp mọi hướng, rõ ràng là kiểm tra xem có ai theo dõi chú không, rồi lẩn vào sau núi.

- Thế nào, tôi nói có đúng không?

- Đúng là một cậu bé. Chắc có lẽ cậu ta lẻn vào đấy bởi sự thôi thúc của những nguyên nhân bí ẩn.

- Những nguyên nhân bí ẩn, đó là việc của cảnh binh. Tôi thề sẽ không hé răng nói nửa lời cho họ biết và tôi cũng yêu cầu ngài, bác sĩ Oátxơn ạ, phải im lặng. Ngài có hiểu không? Tuyệt đối im lặng!

- Tuỳ ý ông thôi.

- Họ coi thường tôi bằng cách bỉ ổi nhất. Khi mọi tình tiết của vụ án “Phrênklênđơ chống lại cảnh binh” được phơi bày thì làn sóng công phẫn sẽ nổi lên trên khắp đất nước. Không, họ hoàn toàn không tính đến việc giúp đỡ tôi! Họ sẽ không hề đụng tay vào chừng nào bọn người đê tiện ấy chưa tính đến thay việc đốt hình nộm bằng việc đốt chính bản thân tôi… Thế nào, đã đến lúc ngài cần đi rồi phải không? Lẽ nào ngài không giúp tôi nốc hết bình rượu để chào mừng cái sự kiện đáng vui này hay sao!

Tuy nhiên, tôi không chịu khẩn khoản van nài gì cả, còn khi ông già tuyên bố là muốn tiễn tôi về nhà, tôi đã thuyết phục ông là nên từ bỏ ý định uống rượu đi. Khi ông ta còn có thể nhìn thấy tôi thì tôi đi theo đường lớn, nhưng sau đấy tôi sẽ thẳng tới quả núi nhiều đá, nơi chú bé lẫn vào đó.

Tất cả được sắp đặt như không thể nào tốt hơn thế. Tôi thề trong đầu rằng nếu tôi không thành công trong việc tận dụng thời cơ may mắn mà số phận đã trao cho thì dù sao đó cũng sẽ là một tội lỗi, chỉ do tôi không có nghị lực và lòng kiên trì thôi!

Lúc tôi lên đến đỉnh thì mặt trời đã khuất. Những triền đồi thoai thoải một bên còn vàng óng, bên kia đã chìm trong bóng đêm. Xa xa, ở phía chân trời, một đám sương mù bay là là và từ đó hiện ra hình dáng huyền ảo của cột đá Lixi. Chung quanh vắng vẻ và yên tỉnh. Chỉ có con chim lớn màu xanh tựa như chim hải âu đang bay cao trên bầu trời xanh thẳm. Con chim và tôi, đấy là hai thực thể sống duy nhất giữa vòm trời rộng lớn và vùng hoang vắng trải dài dưới bầu trời. Khoảng rộng bao la trần trụi của khu đầm lầy, sự thiếu vắng con người, bí mật chưa được khám phá, tầm quan trọng của nhiệm vụ đặt ra cho tôi, tất cả đã làm buốt giá trái tim tôi. Không trông thấy chú bé ở đâu cả. Nhưng ở giữa các quả núi ngay cạnh chân tôi có những hang đá cổ sơ mà giữa vòng cung của chúng có một cái hang vòm mái vẫn còn nguyên vẹn có thể che chở con người vào lúc thời tiết xấu. Tim tôi thắt lại khi nhận ra chiếc hang này. Chắc có lẽ con người ấy lẩn lút trong hang này đây. Và thế là cuối cùng bàn chân tôi đã đặt vào ngưỡng cửa nơi trú thân của hắn – Hắn ở trong tay tôi rồi!

Tôi len lén đến gần chiếc hang đá vắng vẻ này – hoàn toàn giống như Xtepltôn khi chiếc vợt của ông ta đưa đến phía trên con bướm. Tôi đi đến gần hơn và tin rằng nơi này có người ở. Một lối mòn hiện lên lờ mờ giữa tảng đá dẫn tới khe hở dùng làm lối ra vào. Không nghe thấy âm thanh nào vọng ra. Con người bí ẩn này hoặc đã trốn tránh ở đây hoặc đang đi lang thang trên khu đầm lầy. Thần kinh tôi căng đến tột độ trong sự chờ đợi cuộc đụng độ sắp tới. Tôi quẳng điếu thuốc đi, tay nắm chắc chuôi súng lục, tiến nhanh tới lối ra vào, rồi nhìn vào bên trong. Hang đá trống không.

Nhưng linh cảm đã không lừa tôi. Rõ ràng có ai đó sống ở đây. Trên chiếc giường bằng đá mà vào thời gian nào đó con người thời đại đồ đá mới nằm nghỉ có cái mềm chăn được bọc bằng áo mưa không thấm nước. Trong bếp lò thô sơ hiện lên một đống tro, cạnh đó có những dụng cụ nấu nướng và một chiếc thùng còn đến một nửa phần nước. Đống vỏ đồ hộp rỗng không chứng tỏ người ta sinh sống ở đây không phải ngày đầu tiên. Và khi mắt đã quen với cảnh tranh tối tranh sáng  thì tôi nhìn thấy ở trong góc một chiếc ca sắt và một chai rượu nặng. Ở giữa là phiến đá bằng phẳng  dùng làm bàn, trên bàn có chiếc tay nải nhỏ, chắc đây chính là chiếc tay nải ở sau vai chú bé tôi nhìn thấy qua ống kính viễn vọng. Trong tay nải có bánh mì và hai đồ hộp – một hộp có lưỡi xông khói còn hộp kia đựng đào với nước xi rô. Sau khi xem xét tất cả những thứ ấy, tôi có ý đặt tay nải trở lại chỗ cũ, thì đột nhiên tôi nhìn thấy một mảnh giấy viết những hàng chữ gì đó. Tôi cầm lấy tờ giấy, và sau khi phân biệt rất khó nhọc những nét chữ viết ngoáy bằng bút chì, tôi đã đọc được những từ này: “Bác sĩ Oátxơn đã đi đến Kumbi-Trêxi”.

Vào giây phút đó, đứng bất động với mẩu giấy trong tay, tôi suy ngẫm về ý nghĩa của lá thư ngắn này. Có thể rút ra một điều là kẻ lạ mặt không phải đang săn đuổi ngài Genri mà đang săn đuổi tôi chăng? Không phải chính hắn theo dõi tôi, mà hắn đặt một người khác, có lẽ là chú bé này, cạnh tôi chăng? Và đây chính là bản báo cáo mới nhất của người ấy từ lúc tôi sống ở đây? Có lẽ từng bước đi của tôi đều bị theo dõi. Vậy mà trong suốt thời gian ấy không hề lưu lại trong tôi cảm giác rằng ở đây đang có những thế lực chưa được biết tới hoạt động, rằng những thế lực đó đã giăng quanh chúng tôi những tấm lưới tinh vi  nhất mà chỉ vào những giây phút cực kỳ nguy kịch  chúng tôi mới cảm thấy sự rung động  mong manh của tấm lưới ấy!

Sự ghi chú này có lẽ không phải là trường hợp duy nhất. Tôi đưa mắt nhìn khắp mọi phía nhưng không tìm thấy điều gì thêm nữa. Tôi không tìm được những dấu vết qua đó có thể phán đoán về con người  đã chọn cho mình một nơi ở quái lạ hoặc có thể phán đoán về những ý định của hắn. Chỉ có thể nói như sau về hắn: trong các thói quen của mình, hắn hình như là một kẻ khổ hạnh, hắn không coi các tiện nghi sinh hoạt có ý nghĩa gì đáng kể. Nhớ lại những trận mưa vào những ngày gần đây, nhìn khe đá toang hoác ở cửa ra vào của hang đá, tôi hiểu rằng hắn đã bị cuốn hút vào công việc của mình thật ghê gớm, vì công việc đó hắn bắt mình chịu đựng chỗ nương thân không chút ấm cúng, tiện nghi này. Hắn là ai vậy? – Kẻ thù ác hiểm hay là thần hộ mệnh của chúng tôi? Tôi thề với lòng mình là sẽ không rời khỏi hang đá khi chưa nhận thức được tất cả chuyện đó đến nơi đến chốn.

Mặt trời đã lặn, bầu trời ở phía tây vàng rực lên. Ánh hồi quang của buổi hoàng hôn rải ra trên mặt nước phía xa của vùng đầm lầy Grimpenơ những vệt đỏ sẫm. Xa xa, nổi lên những chiếc tháp của lâu đài Baxkêrvili, phía sau quả đồi là ngôi nhà của anh em Xtepltôn. Ánh nắng vàng buổi chiều đem lại cho tất cả cảnh vật vẻ mỹ miều và thanh bình làm sao! Nhưng trái tim của tôi lại không tin vào sự bất ngờ khủng khiếp ẩn chứa trong cuộc đụng độ không tránh khỏi đang từng giây đến gần. Thần kinh tôi căng thẳng, nhưng tôi ngồi trong hang tối với vẻ hoàn toàn quả quyết, kiên trì chờ đợi sự quay lại của kẻ trú ngụ trong hang.

Và cuối cùng, tôi nghe nhận ra hắn. Gót giày hắn đụng phải đá. Một lần… lại lần nữa… Tiếng những bước chân càng gần hơn, gần hơn nữa… Tôi lùi nhanh vào góc tối nhất, lên cò súng ngắn, kiên quyết chỉ xuất hiện ra ngoài ánh sáng cho đến khi tôi được trông thấy dù chỉ chút ít con người ấy. Bên ngoài, tất cả đều im ắng, dường như hắn đã dừng lại. Rồi tiếng những bước chân lại nổi lên, và bóng của ai đó che khuất cửa vào hang.

- Hôm nay có một buổi chiều thật tuyệt vời, Oátxơn yêu quý ạ! – Giọng nói rất quen thuộc với tôi vang lên – Tại sao lại ngồi ở nơi ngột ngạt thế? Ở ngoài trời rõ ràng là dễ chịu hơn.

 

 

CHƯƠNG XII

CÁI CHẾT TRÊN KHU ĐẦM LẦY

 

Tôi đứng lặng đi tới một, hai phút. Không tin vào tai mình, không thể thở được vì bất ngờ. Sau đấy tài ăn nói mới trở lại với tôi, và tôi cảm thấy một sức nặng lớn đã trút khỏi vai mình. Giọng nói lãnh đạm xỏ xiên ấy trên khắp thế giới này chỉ có thể thuộc về một người mà thôi!

- Hôm! – Tôi kêu lên – Hôm!

- Hãy lại đây! – Anh nói – Và hãy cẩn thận hơn với  khẩu súng lục đấy!

Từ trong hang tôi bò ra và nhận ra anh. Hôm ngồi trên phiến đá, nhìn vào dáng kinh ngạc của tôi với vẻ tinh nghịch trong cặp mắt xanh xám của mình. Vào thời gian gần đây, anh gầy xọp đi, thế nhưng vẻ ngoài của anh vẫn tóat lên vẻ điềm tĩnh, bàn tay đầy sinh lực, khuôn mặt ngả sang màu đồng thau vì rám nắng. Bộ quần áo thể thao nghiêm chỉnh và chiếc mũ cát két, không ai nghĩ rằng đấy là những thứ của vị du khách phiêu bạt khắp nơi trên khu đầm lầy! Thậm chí anh vẫn còn giữ được sự ưa thích vẻ sạch sẽ đúng như của loài mèo nữa: râu được cao nhẵn nhụi, áo sơ mi thì không hề có vết nhơ nào cả. Tưởng như tất cả điều đó trôi qua trên phố Bâykơ vậy.

- Không một sự xuất hiện của ai có thể khiến tôi sung sướng như sự xuất hiện của anh! – Tôi vừa nói vừa xiết chặt lấy tay anh.

- Đồng thời ngạc nhiên nữa chứ?

- Vâng, đúng vậy.

- Nhưng, ông bạn của tôi ơi, tôi xin cam đoan là không phải chỉ một mình anh ngạc nhiên đâu. Tôi vừa tin rằng anh sẽ tìm ra nơi trú thân tạm thời của tôi, lại vừa không nghĩ được rằng lại gặp anh ở đây. Điều này chỉ được nhận ra khi tôi ở cách hang đá hai mươi bước.

- Anh trông thấy dấu vết của tôi à?

- Không, Oátxơn ạ! Tôi e rằng đây là nhiệm vụ quá khó khăn, và điều đó đã phân biệt dấu vết của anh với muôn vàn dấu vết khác tồn tại trên đời này. Nếu sau này anh có muốn đánh lừa tôi, thì tôi khuyên anh trước tiên hãy thay đổi hiệu thuốc lá của mình đi, bởi vì chỉ cần nhìn thấy điếu thuốc đầu lọc nhãn hiệu “Brêđli phố Ôkxphôrđơ” là tôi đoán ra ngay ông bạn Oátxơn của tôi đang ở đâu đó gần thôi. Mẩu thuốc hút dở của anh nằm lăn lóc tại cạnh đường mòn. Chắc anh ném nó đi từ lúc  quyết định đột nhập vào nơi ở trống trải của tôi phải không?

- Hoàn toàn đúng.

- Tôi nghĩ như vậy đấy… Và biết được tính ưa sâu sắc của anh, tôi đoán ra rằng anh đã mai phục ở trong hang, chờ đợi sự trở lại của kẻ trú ngụ ở đấy với cây súng ngắn sẵn sàng trong tay. Có đúng là anh lầm tôi với kẻ phạm tội không?

- Tôi không biết anh lại như thế, và quyết định tìm hiểu.

- Thật tuyệt, Oátxơn ạ! Mà anh phát hiện ra nơi trú thân của tôi bằng cách nào vậy? Có lẽ anh đã nhìn thấy tôi vào thời gian đuổi bắt người tù khổ sai khi do sơ xuất nhỏ của mình tôi đã để cho ánh trăng soi vào lưng phải không?

- Vâng, tôi đã trông thấy anh khi đó.

- Anh đã lùng sục lần lượt tất cả các hang trước khi chưa đụng phải cái hang này, phải không?

- Không, cậu bé đã đưa tôi tìm  đến dấu vết của anh. Ở đây có một ai đó theo dõi cậu ta.

- A! Người quân tử già với ống kính viễn vọng! Tôi nhìn thấy mặt trời lấp lánh trên ống kính. Ban đầu tôi không thể đoán nổi đấy là cái gì cả. Ông ta đứng và nhìn về phía hang đá. A ha! Kartraitơ đã có mặt ở đây. Mảnh giấy gì đấy? À, anh đi Kumbi-Trêxi phải không?

- Vâng.

- Đến thăm bà Laura Laiônxơ?

Hoàn toàn đúng.

- Tuyệt lắm! Trên con đường tìm tòi của mình, tôi và anh rõ ràng là tiến hành song song với nhau. Bây giờ cần trao đổi những tin tức đã thu lượm được, và khi đó chúng ta sẽ có ý niệm ít nhiều sáng tỏ về vụ án này.

- Tôi rất vui là anh đã ở đây! Thần kinh của tôi đã bắt đầu suy kiệt dưới sức nặng của tất cả những bí ẩn và của trọng trách đặt lên tôi. Nhưng anh lọt vào đây bằng cách nào? Và anh làm gì ở đây? Thế mà tôi cứ nghĩ rằng Hôm đang ngồi ở phố Bâykơ, bận tâm với vụ án phát giác để cầu lợi kia đấy!

- Tôi muốn chính anh nghĩ như vậy!

- Thế nghĩa là anh nhờ cậy sự giúp đỡ của tôi mà trong khi đó lại không tin vào tôi! – Tôi tức giận – Điều đó không oan uổn gì đâu, Hôm ạ!

- Ông bạn yêu quý của tôi, trong vụ án này cũng như trong nhiều vụ án khác sự giúp đỡ của anh đối với tôi là vô giá. Nếu anh cảm thấy là tôi đã lừa gạt anh thì xin anh đừng có nổi nóng! Chân thành mà nói, tôi làm như vậy phần nào cũng chính là vì anh. Tôi cảm thấy là anh đang lâm vào vòng nguy hiểm. Tôi quyết định đi đến đây để độc lập điều tra vụ án này. Nếu tôi ở cùng một chỗ với anh và ngài Genri thì điểm quan sát của tôi sẽ không khác anh và kẻ thù của chúng ta sẽ cảnh giác đề phòng. Việc đi đến lâu đài Baxkêrvili sẽ trói buộc tôi lại. Tôi có thể hành động rất tự do khi đứng ở ngoài cánh gà và sẵn sàng bước vào sân khấu vào giờ phút nguy kịch nhất.

- Nhưng vì lẽ gì anh lại phải giấu tôi?

- Nếu anh biết tôi ở đây thì chẳng những không ích lợi gì mà rất có thể tôi sẽ bị phát giác? Anh có lẽ sẽ muốn kể cho tôi nghe một cái gì đấy, hoặc là với bản tính nhân hậu của mình, anh sẽ đột nhiên nảy ra ý định thu xếp những tiện nghi cho tôi ở đây. Vì sao phải làm những việc liều mạng không cần thiết cơ chứ? Tôi mang theo Kartraitơ – Anh còn nhớ chú bé ở văn phòng Raxtrli không? Chú phục vụ tôi một cách tuyệt bời. Anh biết những nhu cầu đơn giản của tôi rồi đấy: mẩu bánh mì và chiếc cổ áo sạch sẽ. Người ta còn cần gì hơn nữa? Ngoài ra, Kartraitơ, đấy là cặp mắt rất tinh nhạy và đôi chân rất nhanh nhẹn phụ thêm cho tôi. Cái này hoặc cái kia đối với tôi đều quý giá cả.

- Thế nghĩa là tất cả những bản phúc trình của tôi được viết ra một cách vô ích – Tôi run ru nói sau khi nhớ lại biết bao công sức và niềm tự hào đã được đặt vào những bản tường trình ấy.

Hôm rút từ trong túi ra một đống thư tín.

- Các bản phúc trình của anh đây, bạn của tôi ạ! Chúng đã được  nghiên cứu bằng cách thức tỉ mỉ nhất. Anh hòan tòan có thể không nghi ngờ về điều đó. Tôi sắp xếp khéo léo đến mức chúng rơi vào tay tôi chỉ sau một ngày. Xin nồng nhiệt chúc mừng anh. Lòng kiên trì và tài quan sát mà anh đã bộc lộ ra trong công việc cực kỳ khó khăn này cao hơn bất cứ lời khen ngợi nào.

Tôi vẫn không sao có thể chấp nhận được những điều anh khéo léo thuyết phục tôi. Thế nhưng, lời nói nồng nhiệt của Hôm đã làm nguôi nỗi tức giận của tôi. Thêm vào đó, tự trong thâm tâm, tôi cảm thấy sự đúng đắn của bạn tôi, và tôi thừa nhận rằng vì những đòi hỏi của vụ án tôi không cần thiết phải biết sự có mặt của anh ở những nơi này.

- Vậy đấy! – Anh vừa nói vừa nhìn vào khuôn mặt đã tươi tỉnh của tôi – Còn bây giờ, hãy kể cho tôi nghe cuộc viếng thăm bà Laura Laiônxơ đi! Tôi đoán ra ngay là anh sẽ đến chỗ ai, vì giờ đây tôi đã rõ đấy là người duy nhất ở Kumbi-Trêxi mà chúng ta có thể khai thác được một cái gì đó. Thú thật là nếu hôm nay anh không ở đây thì chắc có lẽ ngày mai tôi phải thân chinh đến chỗ bà ta.

Mặt trời đã khuất núi, hoàng hôn đã bao phủ lên khu đầm lầy. Ngoài trời đột nhiên lạnh lẽo, chúng tôi đi vào trong hang. Ở đó tôi ngồi cạnh Hôm trong cảnh tranh tối tranh sáng, kể cho anh nghe câu chuyện của mình với bà Laiônxơ. Anh chú ý tới câu chuyện này tới mức nhiều điều tôi phải nhắc lại đến hai lần. Lúc tôi ngừng lời, anh nói:

- Tất cả chuyện đó là rất quan trọng. Vụ án cực kỳ rối rắm. Trong vụ án có một khoảng trống mà cho tới lúc này, chúng ta vẫn không sao lấp cho đầy được. Có lẽ anh biết Xtepltôn rất thân thiết với bà Laiônxơ chứ?

- Không, tôi không hề nghe nói gì về sự gắn bó giữa họ.

- Đó là sự thực. Họ gặp nhau, trao đổi thư từ với nhau. Nói chung giữa họ có sự đồng cảm hoàn toàn và điều đó trao vào tay chúng ta con át chủ bài quan trọng. Nếu đưa con bài này vào cuộc để dùng tới vợ của ông ta…

- Vợ của ông ta?

- Bây giờ tôi sẽ trao cho anh một cái gì đó để đổi lấy những khám phá của anh. Người đàn bà mà ông ta tự nhận là cô Xtepltôn ấy thực chất là vợ của ông.

-Trời ơi! Hôm! Anh tin vào điều ấy à? Vậy mà ông ấy lại cho phép ngài Genri yêu cô ta?

- Những tình cảm lãng mạn của ngài Genri đem lại tai hoạ chỉ cho chính ngài Genri thôi! Anh không nhận thấy là Xtepltôn đã bảo vệ cô ta trước sự ve vãn của nam tước bằng mọi cách hay sao. Tôi nhắc lại, người đàn bà ấy không phải là em gái của Xtepltôn.

- Nhưng họ làm cái chuyện rắc rối ấy để làm gì cơ chứ?

- Nguyên do thế này: Xtepltôn nhìn thấy trước là trong vai trò người đàn bà tự do, cô sẽ có lợi nhiều hơn đối với ông ấy.

Tất cả những mối ngờ vực chưa được sáng tỏ của tôi, mọi điều mách bảo của linh cảm tự nhiên lồ lộ ra bên ngoài và vây quanh nhà tự nhiên học. Phảng phất từ con người trầm tĩnh thiếu bản sắc với chiếc mũ rơm và cây vợt bắt bướm ấy có cái gì đó hăm doạ người khác. Sự điềm tĩnh và tính kiên nhẫn đi liền với vẻ khôn khéo trên cặp môi khi nở nụ cười mà trong trái tim lại ẩn chứa sự độc ác thâm hiểm…

- Nghĩa là đây chính là đối thủ của chúng ta? Nghĩa là hắn đã theo dõi chúng ta ở Luân Đôn?

- Đúng, tôi đã phanh phui điều bí ẩn này như vậy.

- Và phòng ngừa trước… Điều bí ẩn này đã phái hắn đến phải không?

- Hoàn toàn đúng.

Từ đám mây mù tôi phiêu bạt hồi lâu trong đó hiện ra những bóng dáng của tội ác quái đản hư hư thực thực đối với tôi.

- Lẽ nào đó là sự thực, Hôm? Do đâu mà anh biết cô ấy là vợ của hắn?

- Vào cuộc gặp gỡ đầu tiên của anh, Xtepltôn đã gắng cho anh biết một phần tiểu sử của mình. Về chuyện đó, hình như cho đến giờ hắn vẫn chưa thôi luyến tiếc. Hắn quả thật có một trường học ở miền Bắc nước Anh. Tìm kiếm tin tức một người thầy giáo là một công việc chẳng khó khăn gì. Để làm việc đó có hãng thông tấn trường học. Họ sẽ cho anh biết những tin tức của bất kỳ ai có liên quan tới nghề nghiệp này. Tôi đã dò hỏi và chẳng bao lâu đã biết đúng là có những sự cố rất không may xảy ra trong một trường học. Viên hiệu trưởng của nó – họ của ông ta không giống như vậy – đã cùng vợ lẩn trốn. Mọi dấu hiệu đều trùng hợp hoàn toàn với nhau, và khi tôi bắt đầu biết sự ham mê côn trùng của hắn thì tôi không còn nghi ngờ gì nữa.

Bóng tối che phủ lấy tôi bắt đầu dần dần tản ra, nhưng nhiều điều vẫn còn tranh tối tranh sáng.

- Nếu người đàn bà ấy là vợ của hắn thì bà Laura Laiônxơ giữ vai trò gì trong đó? – Tôi hỏi.

- Đấy là một trong những điểm chính anh đã soi rọi ít nhiếu ánh sáng vào đó. Sau chuyến đi của anh tới Kumbi-Trêxi nhiều điều đã bắt đầu sáng tỏ. Ví như, tôi chưa biết là bà Laiônxơ muốn ly dị với chồng. Hình như bà ta tính đến chuyện kết hôn với Xtepltôn – Bởi vì bà không ngờ rằng hắn đã có vợ.

- Khi nào bà ta sẽ biết sự thật?

- Khi người đàn bà ấy trở nên thật có lợi đối với chúng ta.  Ngày mai, cả hai chúng ta cần đến thăm bà. Còn bây giờ, Oátxơn, anh chưa cho rằng đã tới lúc anh phải trở về chức phận của mình hay sao? Chỗ của anh là ở lâu đài Baxkêrvili.

Những tia đỏ cuối cùng của hoàng hôn đang phai nhạt dần ở phía tây, nhưng đêm tối đã buông xuống khu đầm lầy. Những ngôi sao hiếm hoi nhấp nháy yếu ớt trên bầu trời tím nhạt.

- Còn một câu hỏi, câu hỏi cuối cùng, Hôm ạ! – Tôi vừa đứng lên vừa nói – Chúng ta chẳng cần phải giấu diếm nhau làm gì. Tất cả chuyện đó nghĩa là thế nào? Hắn sẽ đi đến đâu?

- Tới việc giết người, Oátxơn ạ… Việc giết người được bình tĩnh cân nhắc một cách kỹ lưỡng. Xin đừng gạn hỏi tỉ mỉ về các chi tiết. Xtepltôn lùa ngài Genri vào lưới của mình, còn tôi thì lùa bản thân hắn vào lưới của tôi. Với sự giúp đỡ của anh, hắn hầu như đang nằm trong tay tôi. Giờ đây, chỉ có một mối nguy hiểm đe doạ chúng ta – hắn có thể hành động trước. Còn một ngày, quá lắm là hai ngày nữa thôi, tôi đã chuẩn bị mọi thứ để đến lúc đó sẽ che chở ngài Genri như người mẹ yêu thương bảo vệ đứa con ốm yếu của mình. Sự vắng mặt của anh hôm nay hoàn toàn có thể tha thứ được, nhưng tôi thích anh đừng để ông ấy ở lại một mình hơn…Anh nghe rõ không?

Tiếng gào thét kinh hãi kéo dài, hoàn toàn ghê sợ và đau đớn vang lên trên khu đầm lầy tĩnh mịch. Tôi nghe thấy và có cảm giác vô cùng khiếp sợ.

- Trời ơi! Cái gì vậy? Đó là cái gì vậy?

Hôm nhổm phắt dậy, bóng dáng cao của anh che khuất lối vào hang. Anh cúi người đứng đó. Và sau khi ngoái cổ ra, anh vừa chăm chú nhìn vào bóng đêm vừa chỉ kịp thầm thì với tôi:

- Im lặng! Hãy im lặng!

Tiếng kêu khiến chúng tôi kinh ngạc bởi vẻ lạ lùng của nó vọng tới từ trong lòng sâu của khu đầm lầy tối như bưng. Nhưng nó vang lên mỗi lúc một gần hơn và rõ hơn…

- Ở đâu vậy? – Hôm thì thào và giọng của anh run run – Đó là giọng của một người có thần kinh vững vàng hay sao? Tôi hiểu tiếng gào thét xuyên vào tận đáy tâm hồn anh – Tiếng kêu ở đâu vậy, Oátxơn?

-Theo tôi ở phía này – Tôi đưa tay chỉ vào bóng đêm.

- Không phải, ở kia cơ!

Tiếng kêu nhức nhối lại vang lên trong đêm yên tĩnh, nhưng giờ nó ở gần và rõ hơn nữa. Hoà trộn vào đó là những âm thanh khác tiếng gầm gừ trầm trầm gợi nhớ đến tiếng rì rầm triền miên của biển cả.

- Con chó đấy! – Hôm kêu lên – Chạy đi Oátxơn, chạy đi! Trời ơi chỉ mong sao đừng có muộn thôi!

Anh chồm vào trong bóng tối, tôi bám theo sau anh. Rồi đột nhiên ở một nơi nào đó vang lên một tiếng la tuyệt vọng và sau đó là tiếng đập nặng nề không rõ. Chúng tôi dừng lại lắng nghe. Nhưng không còn gì phá tan bầu không khí im ắng lan toả trong đêm lặng gió nữa.

Tôi trông thấy Hôm đang ôm lấy đầu dậm dậm chân xuống đất như một người mất trí.

- Hắn đã vượt lên trước chúng ta rồi, Oátxơn! Chúng ta đã muộn mất rồi!

- Không, không thể có chuyện đó được!

- Tôi trì hoãn để làm gì, đồ ngốc! Anh cũng tốt thật đấy, Oátxơn ạ, để Baxkêrvili ở lại một mình và mọi chuyện đã kết thúc như vậy đấy! Không, nếu không thể cứu chữa được nữa thì dù thế nào tôi cũng sẽ trả thù tên chó má ấy!

Không phân biệt đường sá gì cả, chúng tôi lao tới nơi tiếng kêu khủng khiếp vọng đến. Chúng tôi trèo lên đỉnh dốc, rồi chạy xuống. Trong bóng tối, chúng tôi đụng phải những tảng đá nằm lọt vào giữa lùm cây. Từ đỉnh của mỗi ngọn núi, bạn tôi đều đưa mắt nhìn khắp bốn phía. Nhưng khu đầm lầy phủ bởi lớp sương mờ ảo, trên đỉnh của nó không thể nhận ra sự di động nhỏ nhất được.

- Anh có trông thấy gì không?

- Không thấy gì cả.

- Hãy chờ một lát!… Cái gì thế này?

Tiếng rên rỉ bị nén lại vọng đến tai chúng tôi. Nó vọng đến đâu đó từ phía bên trái. Dãy đá đột nhiên bị đứt đoạn ở phía dưới khi nó chạy qua sườn núi rải rác có những tảng đá ở phía trên, ở giữa những tảng đá này có một vật gì đó đen thẫm. Chúng tôi càng chạy đến gần thì vẻ ngoài của cái vật đen sẫm đó càng rõ. Đó là một người nằm úp mặt xuống đất. Hình như người này đang chuẩn bị làm một cái gì đấy – đầu ngoẹo lại thành một góc khó tin là có thật, hai bờ vai hơi nâng lên, lưng cong xuống. Vẻ kỳ quái của dáng điệu này ban đầu đã không cho tôi hiểu đây chính là tiếng rên của một kẻ hấp hối. Chúng tôi đứng cúi mình trên người đó, không nghe thấy tiếng thở khò khè, cũng không thể nhận ra tiếng sột soạt. Hôm đụng vào tấm thân bất động. Anh kêu lên vì hoảng sợ và ngay lập tức rụt tay lại. Que diêm được quẹt sáng soi rọi vào những ngón tay đầm đìa máu của ông ta, vũng nước kinh hoàng chậm chập rỉ ra từ sọ tử thi bị đập nát. Tim chúng tôi thót lại – Trong ánh sáng của que diêm chúng tôi nhận ra ngài Genri đang nằm trước mặt chúng tôi.

Lẽ nào có thể quên bộ quần áo khác thường mà viên nam tước đã mặc trong lần đầu xuất hiện trên phố Bâykơ! Chỉ trong tích tắc cũng đủ để chúng tôi nhận ra ông. Sau đấy que diêm lại được bật sáng, rồi tắt lịm, như tia hy vọng cuối cùng trong lòng chúng tôi. Hôm bắt đầu rên rỉ, thậm chí ngay trong bóng tối, tôi vẫn nhìn thấy khuôn mặt của anh nhợt nhạt ra sao.

- Tử thi! Tử thi! – Tay tôi xiết lại thành nắm đấm – Hôm, tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho mình vì đã bỏ rơi ông ta.

- Tội lỗi của tôi còn lớn hơn, Oátxơn ạ! Tôi đã hy sinh tính mệnh của người khách hàng chỉ để tính toán xem làm thế nào để giải quyết vụ án này nhanh gọn hơn. Tôi không nhớ đến những vố tương tự như thế xảy ra trong toàn bộ cuộc đời hoạt động của bản thân. Thế nhưng, ai có thể biết được rằng mặc dầu tôi đã phòng ngừa từ trước, ông ta vẫn dám cả gan một mình đi vào khu đầm lầy!

- Chúng ta nghe thấy tiếng kêu của ông! Trời ơi, tiếng kêu như thế! – Không thể ngay tức khắc đến giúp ông được! Con chó quái đản ấy lẩn đi đâu rồi – Kẻ đã giết chết ông ta ấy? Có lẽ bây giờ nó đang ở đâu đó quanh đây? Còn Xtepltôn thì ở đâu? Hắn sẽ phải chịu trách nhiệm về việc này!

- Đúng, hắn sẽ phải trả lời tất cả những gì tôi quan tâm. Bác và cháu, cả hai người đều bị giết. Một người chết vì kinh hãi chỉ sau khi nhìn thấy trước mặt con quái vật mà ông coi đấy là một sinh  vật siêu phàm. Còn người kia chết khi không thoát khỏi con quái vật này. Nhưng bây giờ chúng ta cần phải  xác minh rằng giữa con người ấy và con chó này có mối liên quan gì với nhau. Chúng ta nghe thấy tiếng rống của nó, nhưng điều đó chưa phải là bằng chứng bởi vì ngài Genri có lẽ bị thương trong lúc ngã xuống. Xin thề rằng, kẻ thù của chúng ta ranh mãnh thế nào thì ngày mai hắn cũng sẽ bi tôi tóm cổ!

Chúng tôi đứng cạnh thi thể méo mó, bị chấn động mãnh liệt bởi tai họa bất ngờ, không cứu chữa nổi, đã đặt dấu kết thúc cho những công sức nặng nề và lâu dài của chúng tôi. Sau đó, vào lúc ánh trăng từ đám mây đen ló ra, chúng tôi leo lên dãy đá mà từ đó người bạn bất hạnh của chúng tôi rơi xuống, rồi đưa mắt nhìn khu đầm lầy sáng láng trong ánh trăng. Xa xa nổi lên ngọn lửa màu vàng cạnh Grimpenơ. Ngọn lửa chỉ có thể soi sáng trong nơi  ở biệt lập của gia đình Xtepltôn. Với một lời nguyền rủa, tôi giơ nắm đấm về phía đó doạ dẫm:

- Chúng ta còn chờ cái gì nữa? Cần mau chóng tóm lấy hắn thôi!

- Vụ án còn chưa kết thúc, mà hắn là một kẻ thận trọng và tinh quái. Chúng ta biết thì đã sao đâu. Hãy thử kết án đi! Một bước đi hấp tấp là tên vô hại sẽ trượt khỏi tay chúng ta.

- Vậy khi nào mới hành động?

- Ngày mai cũng không sao! Còn hôm nay chúng ta cần săn sóc lần cuối cùng ngài Genri bất hạnh đã.

Chúng tôi trườn xuống sườn dốc dựng đứng đến gần đám đen đen, không có hình thù nằm trên tảng đá sáng loáng bởi ánh trăng. Nhìn cơ thể quằn quại một cách đau đớn, lòng chúng tôi thắt lại vì nhức nhối, còn cặp mắt thì nhoà đi vì những giọt nước mắt tràn ra.

- Sẽ phải phái người đến giúp đỡ thôi, Hôm ạ. Chúng ta sẽ không đưa ông ấy về đến nhà được… Trời ơi, anh làm sao vậy? Anh mất trí rồi…!

Hôm rú lên, cúi nhìn trên thi thể ngài Genri. Rồi tự nhiên anh bắt đầu nhảy nhót và với tiếng cười khanh khách anh lắc lắc tay tôi. Phải chăng đây là bạn tôi, một người nghiêm khắc luôn luôn tự kiềm chế được mình? Và điều đó đã xảy ra khi ngọn lửa giấu kín bùng ra bên ngoài chăng!

- Có râu! Ông ta có râu!

- Có râu à?

- Đây không phải là ngài Genri!... Trời ơi, đây đúng là láng giềng của tôi: người tù khổ sai!

Chúng tôi cuống cuồng lật thi thể trở lại. Giờ đây tia sáng lạnh lẽo rực rỡ của ánh trăng dọi thẳng vào bộ râu đẫm máu. Không còn hoài nghi nữa! Trán thấp, mắt sâu hoẵm như ở loài khỉ. Bộ mặt loáng thoáng hiện ra trước mặt chúng tôi dưới ánh sáng của cây nến trong kẽ hang đó chính là bộ mặt của tên giết người Xêlđên!

Trong khoảnh khắc, tôi hiểu ra tất cả. Tôi có nhớ là viên nam tước đã tặng cho Berimôrơ hầu như toàn bộ những trang phục cũ của mình. Nghĩa là Berimôrơ đã cho Xêlđên để hắn mặc vào trong lúc ra đi. Đôi giày, áo sơ mi, mũ cát két – Vào thời gian nào đó ngài Genri đã mang tất cả những thứ ấy. Thảm kịch vẫn là thảm kịch, đúng vậy, nhưng con người này đáng nhận cái chết bằng cách này hay cách khác theo pháp luật của đất nước chúng ta. Đứng ngồi không yên vì vui sướng, tôi giải thích cho Hôm nghe mọi chuyện đã xảy ra như thế nào.

- Nghĩa là kẻ bất hạnh đã chết vì bộ quần áo – Anh nói – Chắc chắn người ta đã cho con chó đánh hơi vật gì đó của ngài Genri – có lẽ chính chiếc giày bị thất lạc ở khách sạn – và con chó đã lần theo vết của người tù khổ sai. Chỉ còn một điều chưa được rõ: Xêlđên trông thấy một ai đó rượt đuổi theo hắn trong bóng tối bằng cách nào được?

- Có lẽ, hắn nghe thấy.

- Nghe thấy con chó chạy khắp khu đầm lầy và đã kêu cứu khi có cơ bị săn lùng hay sao? Không, chuyện đó không làm cho tên tù khổ sai kinh hãi đâu. Đúng ra là thế này: Xêlđên có thể trông thấy con chó rượt theo hắn chứ?

- Theo tôi có những vật còn quái lạ hơn thế nữa. Tại sao phải là con chó này – cứ cho rằng những giả định của chúng ta là đúng.

- Tôi không hề giả định như thế.

- Được. Vậy tại sao người ta thả con chó này vào khu đầm lầy đêm nay? Chắc vì con chó lại luôn luôn sử dụng quyền tự do của mình như vậy. Xêlđên có lẽ chờ ngài Genri đi vào đấy.

- Điều bí ẩn của tôi khó hơn. Chúng ta sẽ nhận được câu trả lời bí ẩn của anh, chẳng bao lâu nữa đâu, còn điều bí ẩn của tôi chắc có lẽ vẫn chưa được giải đáp. Bây giờ, hãy dứt khoát đi, chúng ta cần làm gì với kẻ bất hạnh này. Không thể để hắn ở đây làm mồi cho cáo và diều hâu được.

- Khi chúng ta chưa báo cho cảnh binh thì cứ đặt hắn nằm trong bất kỳ hang đá nào đó…

- Đúng. Dù sao chúng ta cũng đưa hắn đến một chỗ nào đấy. Nhìn kìa, Oátxơn! Cái gì vậy? phải chăng chính là hắn? Không, lẽ nào lại liều mạng như thế? Không được lời nào nói về sự hoài nghi của chúng ta, không một lời nào đấy! Nếu không, tất cả dự định của tôi sẽ sụp đổ mất.

Từ giữa khu đầm lầy một người đang đến gần chỗ chúng tôi. Hắn hút thuốc, đốm lửa của điếu thuốc lập loè từ xa. Mặt trăng chiếu vào hắn rất rõ. Ngay lập tức tôi nhận ra thân hình gầy guộc và dáng đi nhanh, nhún nhẩy của nhà tự nhiên học. Nhận ra chúng tôi, hắn dừng lại, rồi lại bắt đầu đi về phía trước.

- Bác sĩ Oátxơn! Có phải ông đấy không? Tôi chẳng thể nghĩ rằng lại gặp ông trên khu đầm lầy vào ban đêm đấy! Trời, cái gì thế này? Chuyện gì đã xảy ra thế này? Không, không thể có chuyện đó được! lẽ nào đây là bạn của chúng ta, ngài Genri?

Xtepltôn lướt qua tôi cúi người trên thi thể…

Tôi nghe tiếng thở đứt quãng, điếu thuốc từ tay hắn rơi xuống đất.

- Ai… Ai đấy? – Hắn ấp úng nói lắp lắp.

- Đấy là Xêlđên, tên tù khổ sai chạy trốn khỏi nhà lao Prinxtaium.

Xtepltôn xoay bộ mặt tái nhợt như bộ mặt của người chết về phía chúng tôi. Hắn phải dùng sức mạnh cực lớn của ý trí để làm chủ mình, không làm cho vẻ ngạc nhiên và tuyệt vọng của mình lộ ra ngoài. Cái nhìn chăm chú của hắn dừng lại trước tiên ở Hôm và sau đó ở tôi.

- Trời ơi! Thật là kinh khủng! Chuyện đó xảy ra thế nào vậy?

- Có lẽ hắn ngã xuống từ triền núi kia và đã gãy cổ. Tôi và bạn tôi đang đi dạo trên khu đầm lầy thì nghe thấy tiếng kêu của ai đó.

- Còn tôi ra khỏi nhà khi nghe thấy tiếng kêu này. Ngài Genri khiến tôi rất lo ngại.

- Tại sao lại là ngài Genri – Tôi không kìm lòng được.

- Hôm nay ngài cần rẽ vào chỗ chúng tôi, nhưng vì lý do nào đấy ngài đã không đến. Điều đó làm tôi rất ngạc nhiên. Lúc nghe thấy những tiếng kêu trên khu đầm lầy thì tự nhiên tôi rất lo cho ngài. Tiện thể xin hỏi – Xtepltôn lại chuyển cái nhìn từ tôi sang Hôm – Ngoài những tiếng kêu này ra, các ông có nghe thấy tiếng nào khác nữa không?

- Không – Hôm nói – Thế còn ông?

- Cũng không.

- Vậy tại sao ông hỏi như vậy?

- Ôi, ông không biết đấy thôi, ở chỗ chúng tôi người ta có thể kể về con chó kì ảo và những con quái vật tương tự như thế! Các điền chủ địa phương nói rằng hình như tối nào con chó cũng lang thang ở khu đầm lầy. Vậy đó, tôi muốn biết xem có thể các ông nghe thấy tiếng của nó chăng?

- Không, chúng tôi không nghe thấy tiếng gì như thế cả – Tôi nói.

- Vậy ông giải thích cái chết của kẻ bất hạnh này như thế nào?

- Tôi tin rằng đầu óc hắn quay cuồng sợ hãi vì bị ám ảnh bởi mối nguy hiểm bị săn lùng. Và có lẽ trong cơn mất trí, hắn chạy khắp khu đầm lầy rồi cuối cùng ngã xuống sườn núi gãy cổ.

- Vâng, hoàn toàn có thể như thế – Hắn nói và thở phào, nhẹ nhõm – Còn ông, ông nghĩ thế nào về điều đó, ông Hôm?

- Thật tinh ý làm sao! – Bạn tôi cúi người chào hắn và nói.

- Chúng tôi chờ ông từ lâu rồi, ngay từ khi bác sĩ Oátxơn đến đây kia. Ông đến đúng lúc tấn thảm kịch xảy ra?

- Vâng, đúng vậy! Tôi tin rằng bạn tôi giải thích đúng tấn thảm kịch này. Còn tôi, ngày mai tôi sẽ trở về Luân Đôn với cảm giác không chút thoải mái trong tâm hồn.

- Thế nào, mai ông sẽ đi à?

- Tôi có ý định như thế.

- Nhưng sự có mặt của ông chắc chắn sẽ dọi ánh sáng vào tất cả những sự cố quả thật đã đẩy chúng tôi vào ngõ cụt.

Hôm nhún vai:

- Sự thành đạt không phải luôn luôn nằm trong tay ta. Trong điều tra cần phải dựa vào các sự kiện chứ không phải các truyền thuyết và những lời đồn đại. Tôi vẫn chưa nhận được cái gì đó từ vụ án này.

Bạn tôi nói bằng giọng điệu tự nhiên nhất và điềm tĩnh nhất. Xtepltôn chăm chú, chằm chằm nhìn anh. Sau đấy, hắn hướng về phía tôi.

- Tôi vui lòng đề nghị chuyển thi thể về nhà chúng tôi, nhưng em gái tôi sẽ sợ hãi. Vậy tốt hơn hết là đừng làm như thế. Chúng ta sẽ lấy cái gì đó đậy lên mặt hắn và để hắn lại đây thôi! Cho tới sáng sẽ không có gì xảy ra với cái xác chết này đâu.

Công việc được tiến hành như thế. Tôi và Hôm từ chối lời mời rẽ vào Mêripít – Khaiuxơ của Xtepltôn. Chúng tôi để cho hắn trở về nhà một mình và đi về phía lâu đài Baxkêrvili. Đi được vài bước chúng tôi ngoảnh đầu lại và trông thấy bóng hắn lùi xa dần vào trong khu đầm lầy, còn xa hơn ở phía sau chiếc bóng của hắn có một vật đen duy nhất trên sườn núi được chiếu sáng bởi ánh trăng, đó là nơi một người bị huỷ hoại bởi cái chết khủng khiếp như thế đang nằm.

- Thế là cuối cùng chúng ta đã đánh giáp là cà! – Hôm bước cạnh tôi và nói – Nhưng thật là điềm tĩnh! Hắn tự kiềm chế mới nhanh chóng làm sao! Cú đấm thật điếng người – nhận ra nạn nhân hoàn toàn không phải là người hắn có ý định giết. Oátxơn, tôi đã nói về điều đó với anh ở Luân Đôn rồi, giờ tôi xin nhắc lại: Chúng ta còn chưa có dịp nào đọ kiếm với một đối thủ xứng đáng hơn thế!

- Dẫu sao đáng tiếc là hắn đã nhận ra anh!

- Ban đầu chính tôi cũng hối tiếc, nhưng nghĩ lại thì đành vậy, biết làm sao được!

- Anh nghĩ thế nào, cuộc gặp gỡ với anh có ảnh hưởng tới những dự định của hắn không?

- Chắc thế, hoặc hắn sẽ hành động với tính thận trọng cao hơn, hoặc hắn sẽ cả gan tiến những bước tuyệt vọng nào đó. Như phần lớn những tên tội phạm xuất sắc khác, Xtepltôn hình như rất trông mong vào sự khôn khéo của mình và tưởng tượng ra rằng hắn đã khéo đánh lừa chúng ta.

- Vì sao anh còn chưa muốn bắt hắn?

- Oátxơn, bạn yêu quý của tôi! Anh là con người hành động. Bản tính của anh đẩy anh tới những biện pháp kiên quyết nhất. Được thôi, cứ giả thử là đêm này hắn sẽ bị bắt. Điều ấy đem lại cho chúng ta cái gì nào? Chúng ta sẽ không thể chứng minh được gì cả. Đấy, sự tinh ranh quỷ quyệt của ý đồ này là ở đấy. Nếu kẻ tiếp tay cho Xtepltôn là con người, chúng ta phải tìm cho ra bằng cớ nào đó, nhưng anh thử lôi con chó khổng lồ ra ngoài ánh sáng ban ngày xem nào? Lẽ nào điều đó sẽ giúp chúng ta quàng thòng lọng vào cổ ông chủ của nó chăng?

- Nhưng một phần của tội ác đã rõ rồi kia mà?

- Chưa có gì tương tự như thế cả! Tất cả chỉ là những phỏng đoán, những giả định. Tại phiên toà, chúng ta sẽ bị cười cợt nếu chúng ta đến đây bằng câu chuyện hoang đường như vậy, và chúng ta sẽ chỉ củng cố thêm cho câu chuyện đó bằng những chứng cớ như vậy.

- Còn ngài Tsarlizơ?

- Tìm được xác chết, nhưng không phát hiện ra dấu vết của sự bức tử. Tôi với anh biết ông ta chết vì kinh hãi, chúng ta cũng biết cái gì đã làm ông kinh sợ. Nhưng mười hai tên đần độn sẽ là thẩm phán liệu có tin vào chuyện đó hay không? Cơ sở của giả định có con chó nào đấy bị lôi kéo vào đây ở chỗ nào? Những vết cắn của nó ở đâu? Tôi với anh lại biết là con chó chưa cắn chết người, và ngài Tsarlizơ bị chết trước lúc nó nhảy xổ vào ông ta. Cần phải chứng minh điều đó, còn chúng ta thì chưa thể chứng minh được.

- Còn đêm nay thì sao?

- Cũng không đem lại cái gì thật đặt biệt. Dầu sao cũng không có mối liên quan trực tiếp giữa con chó với cái chết của người tù khổ sai. Không một ai trông thấy con chó này. Quả thật chúng ta có nghe thấy tiếng của nó, tuy vậy chúng ta không có bằng chứng về việc con chó săn lùng người tù. Sự vắng mặt hoàn toàn của các nguyên cớ! Không, bạn của tôi ơi, sự  kiện vẫn còn là sự kiện. Chúng ta chưa thể xác lập được bộ phận nào của tội ác, mà để làm việc đó cần phải tham gia vào bất kỳ trò mạo hiểm nào.

- Anh có ý định bắt tay vào thực hiện việc gì vậy?

- Tôi đặt nhiều hy vọng vào bà Laura Laiônxơ. Khi bắt đầu rõ tình trạng đích thực của vụ án, bà sẽ giúp chúng ta một cách đáng kể. Ngoài ra, tôi còn có kế hoạch khác. Tuy nhiên, không cần trù tính trước làm gì. Dù thế nào tôi cũng hy vọng là ngày mai chiến thắng sẽ đến với tôi.

Tôi không moi thêm được ở Hôm điều gì nữa. Trước khi đến chỗ rẽ vào lâu đài Baxkêrvili, anh bước đi im lặng, đắm chìm trong các ý tưởng của mình.

- Anh có rẽ vào không?

- Có. Giờ thì không cần lẩn trốn nữa.  Nhưng còn một điều nữa, Oátxơn, đừng nói với ngài Genri về con chó. Cứ gán cái chết của Xêlđên cho các nguyên nhân mà Xtepltôn đã gắng gợi ý cho chúng ta vậy! Như thế ông ta sẽ cảm thấy nhẹ nhàng hơn khi trải qua cơn thử thách đang chờ ông vào ngày mai lúc ông đi đến ăn trưa ở Mêripít – Kaiuxơ, nếu tôi trích dẫn không sai bản phúc trình mới đây của anh.

- Nhưng người ta cũng mời tôi đến đấy.

-Vậy anh sẽ phải từ chối. Hãy để ông ấy đi một mình và điều đó dễ sắp xếp… Thế đấy! Có lẽ đã quá bữa trưa rồi, nhưng vừa kịp bữa tối. 

 

                                                                                             CHƯƠNG XIII

                                                                                     GIĂNG LƯỚI

                

           Sự xuất hiện của vị khách khiến ngài Genri không hẳn là ngạc nhiên mà đúng hơn là vui sướng, vì ông tin rằng sau khi biết được các sự kiện diễn ra vào những ngày gầy đây Sơlốc Hôm không còn có thể ngồi lỳ ở Luân Đôn được nữa. Tuy nhiên nam tước nhíu mày sửng sốt khi được biết bạn tôi đến chẳng có hành trang gì cả, nhưng rồi ông cũng không cố công giải thích việc này. Ngay lập tức người ta mang tới cho Hôm tất cả những vật dụng cần thiết. Sau bữa tối muộn màng, chúng tôi nói cho nam tước biết một phần cuộc phiêu lưu của chúng tôi mà ông cần phải biết. Và đến lúc này, tôi buộc phải hoàn thành một trách nhiệm nặng nề là báo cho Berimôrơ và vợ của ông biết về cái chết của Xêlđên. Viên quản lý tiếp nhận tin này với cảm giác nhẹ nhõm ra mặt, tuy thế, bà Berimôrơ lấy tạp dề che mặt khóc một cách cay đắng. Trong con mắt của tất cả mọi người, Xêlđên là một tên tội phạm nằm giữa quỹ sứ và thú dữ. Còn bà, như trước đây, vẫn coi hắn là một cậu bé ngỗ nghịch, một đứa trẻ vào tuổi thơ ấu từng níu lấy tay bà. Con người sẽ hoàn toàn trở thành quái vật nếu không tìm thấy người đàn bà than khóc cho cái chết của mình!

-Từ lúc ông đi khỏi, Oátxơn ạ, tôi ngồi lỳ ở nhà buồn đến não ruột – Nam tước nói – Hy vọng là sự vâng lời ấy không thừa chứ? Nếu ông không nói về việc không được đi vào khu đầm lầy thì tôi đã sử dụng buổi tối vui vẻ hơi nhiều, vì Xtepltôn có chuyển giấy mời cho tôi.

- Đúng, ngài sử dụng buổi tối vui vẻ hơn nhiều, tôi không hoài nghi về điều đó – Hôm lạnh lùng nói – Tiện thể nói thêm, hình như ngài không ngờ rằng lúc nhìn thấy con người với chiếc cổ bị gãy, chúng tôi đã khóc lóc ngài hay sao?

- Ngài Genri trợn trùng mắt nhìn:

- Tại sao thế?

- Có lẽ người tù khổ sai bất hạnh trong bộ đồ của ngài. Hắn nhận được từ Berimôrơ. Cảnh binh có thể rất khó chịu.

- Không, chưa hẳn đâu. Tôi rất nhớ là ở đấy chưa hề có dấu hiệu nào cả.

- Vậy đấy, sự may mắn của hắn đồng thời là sự may mắn của ngài. Chừng nào ngài cũng bị lôi cuốn vào những hành vi phạm pháp. Thú thật, tôi, với tư cách người thám tử tận tâm, cần phải nhanh chóng bắt cả nhóm của ngài lại. Các lá thư của Oátxơn có thể là tài liệu xác minh.

- Tốt hơn là hãy cho biết công việc của chúng ta ra sao? – Nam tước hỏi – Ông đã thành công trong việc tháo gỡ mớ bòng bong này chưa? Tôi và Oátxơn đã đi đến đâu và đang ở đâu – chúng tôi chưa được hiểu biết cặn kẽ gì cả.

- Tôi nghĩ chẳng bao lâu nữa nhiều điều sẽ được sáng tỏ. Vụ án cực kỳ khó khăn và rối rắm. Cho đến giờ đối với tôi hãy còn một đôi điều còn bị bao phủ bởi sương mù… Nhưng sương mù sẽ tan đi, chắc chắn sẽ tan đi.

- Oátxơn, hình như tôi có kể cho ông là tôi đã nghe thấy gì trên khu đầm lầy rồi chứ. Đấy không phải là những lời đồn đại vô nghĩa đâu! Trong cuộc đời mình, tôi đã từng có công việc với các loài chó, ở đó đừng hòng mà lừa dối nổi tôi – tôi không thể không nhận ra tiếng chó rống được. Nếu ông đeo được rọ bịt mõm cho con chó này và xích được nó, tôi sẽ coi ông là người thám tử kiệt xuất nhất thế giới.

- Nó sẽ bị đeo rọ bịt mõm, và sẽ bị xích chỉ cần ngài giúp sức tôi.

- Tôi sẽ làm tất cả những gì ông ra lệnh.

- Tuyệt thật! Nhưng tôi yêu cầu phục tùng một cách mù quáng. Không được hỏi vì sao, tại sao.

- Sẽ như ý muốn của ông.

- Nếu ngài chấp thuận điều đó, chúng ta sẽ giải quyết được nhiệm vụ của chúng ta. Tôi không nghi ngờ rằng…

Hôm tắc giọng giữa chừng, rồi chăm chăm nhìn ở đâu đó trên đầu tôi. Ngọn đèn chiếu thẳng vào mặt anh – bộ mặt đờ ra, bất động tựa như bộ mặt của pho tượng cổ điển! Bộ mặt biểu lộ sự lo ngại và cảnh giác.

- Cái gì xảy ra vậy? – Tôi và ngài Genri cùng thốt lên.

Hôm chuyển sang nhìn chúng tôi, và tôi cảm thấy anh đang gắng kìm nén nỗi xúc động của mình. Khuôn mặt anh, vẫn như trước, không thể hiện điều gì, nhưng cặp mắt thì long lanh vì sung sướng.

- Thứ lỗi cho tôi, nhưng tôi không thể kìm nổi thích thú của mình được – Anh vừa nói vừa chỉ lên những bức chân dung treo trên bức tường đối diện – Oátxơn có cả quyết rằng tôi không am hiểu hội hoạ, nhưng điều đó chỉ chứng tỏ tình cảm đố kị trong anh ấy mà thôi, vì chúng tôi không hợp nhau trong việc đánh giá các tác phẩm nghệ thuật. Nhưng các bức chân dung kia thì quả thật là tuyệt vời.

- Tôi vui lòng khi nghe ông nói – Ngài Genri ngạc nhiên nhìn bạn tôi và nói – Tôi hiểu các bức tranh không được thông thạo lắm. Con ngựa hay con bê đực – đấy là chuyện khác. Thế nhưng, ai có thể nghĩ được rằng ông còn có thời giờ để quan tâm đến nghệ thuật!

- Hãy yên trí, tôi luôn luôn chú ý đến những tác phẩm có giá trị. Tôi đảm bảo người đàn bà trong chiếc áo lụa màu xanh da trời kia là theo bút pháp của Nêlêrơ. Còn người đàn ông phục phịch trong bộ tóc giả tất nhiên là được Râynôlđxơ vẽ. Đây có lẽ là những bức chân dung dòng họ.

- Vâng, tất cả đều là những người trong dòng họ.

- Ngài có biết tên của họ không?

- Từ lâu Berimôrơ kèm tôi môn học này và dường như tôi có thể trả lời lưu loát bài học của mình.

- Người đàn ông với chiếc kính viễn vọng kia là ai vậy?

- Đấy là thuỷ sư đô đốc Baxkêrvili phục vụ ở miền Tây Ấn Độ. Còn người trong bộ áo lễ phục màu xanh tay cuộn là ngài Viliam Baxkêrvili Chủ tịch hạ nghị viện trong chính phủ Pitơ.

- Còn người bạn nhảy trong chiếc áo ngắn nhung đen thêu đăng ten đối diện với tôi là ai?

- Ôi, ông cần làm quen với ông ta. Đấy chính là tên hung bạo Gugơ, kẻ gây ra mọi nỗi bất hạnh và đã đặt sự khởi đầu cho truyền thuyết về con chó của dòng họ Baxkêrvili. Có lẽ còn lâu tôi mới quên nổi ông.

Tôi nhìn bức chân dung với vẻ chăm chú và có phần phân vân.

- Trời ơi! – Hôm nói – Sao trông bề ngoài ông ta có vẻ hiền từ và bình thản thế kia. Trong cặp mắt quả có cái gì quỷ quyệt lắm. Thế mà tôi đã hình dung Gugơ của ngài là một chàng trai vạm vỡ với dáng vẻ kẻ cướp cơ đấy!

- Chân dung chính xác, không mảy may có sự nghi ngờ nào đâu. Đằng sau bức hoạ có ghi tên ông ta và năm tháng – 1467.

Suốt buổi tối còn lại, Hôm ít nói, nhưng hình như bức chân dung của Gugơ phóng đãng cuốn hút tâm trí của anh. Sau bữa tối, anh hình như không rời mắt khỏi nó. Tuy nhiên quá trình tư duy của bạn tôi chỉ bắt đầu sáng tỏ trong tôi vào lúc ngài Genri lui về chỗ mình. Hôm cầm cây nến cùng chiếc bàn con đầu giường của mình, và sau khi tôi và anh trở lại gian phòng sang trọng, anh đưa cây nến đến gần bức chân dung đã thẫm lại vì thời gian.

- Anh chưa nhận thấy cái gì đáng chú ý hay sao?

Tôi quan sát hồi lâu chiếc mũ rộng vành có ngù lông, chiếc cổ áo đính đăng ten màu trắng, mớ tóc xoăn dài, khuôn mặt hẹp, vẻ lãnh đạm viền chung quanh. Không ai có thể trách khuôn mặt này là thô thiển về đường nét, là hung dữ trong sự thể hiện, nhưng trong cặp môi mỏng mím lại, trong cái nhìn kiên định lạnh lùng có cái gì đó nghiêm khắc, cứng rắn và phô trương.

- Ông ta không nhắc anh nhớ tới ai hay sao?

- Phần dưới của khuôn mặt có hao hao giống ngài Genri.

- Đúng, chút xíu thôi. Nhưng hãy chờ một lát!

Anh đứng lên ghế, tai trái cầm cây nến, tay phải khum lại che chiếc mũ rộng vành và mớ tóc xoăn dài.

- Những sức mạnh thiên thần! – Ngoài ý muốn của mình, anh thốt lên kinh ngạc.

Bộ mặt của Xtepltôn từ bức tranh nhìntôi.

- A ha! Anh có trông thấy gì không? Mắt tôi đã quen phân biệt bộ mặt thật với cái gì khuôn theo nó rồi. Biết nhìn thấu qua đồ hoá trang là phẩm chất cơ bản của người thám tử.

- Đáng ngạc nhiên thật! Hình là bức chân dung của hắn!

- Đúng vậy, một ví dụ hay về việc quay trở lại quá khứ trong quan hệ hình thể và tinh thần. Thế đấy, bắt đầu là việc tìm hiểu các bức chân dung dòng họ và tin tưởng chắc chắn là có sự chuyển chỗ. Hắn cũng là Baxkêrvili, điều đó là hoàn toàn rõ rệt.

- Và ngấp nghé kế thừa gia tài.

- Cố nhiên. Bức chân dung đột nhiên được tôi nhìn thấy này đã giúp chúng ta lấp đầy một trong những kẽ hở khó nhất. Giờ đây chúng ta đã phát hiện ra nó. Oátxơn, giờ đây chúng ta đã phát hiện ra nó rồi! Xin thề với anh rằng vào đêm mai hắn sẽ sa vào lưới của chúng ta như những con bướm sa vào vợt của hắn. Kim găm, nút chai, nhãn hiệu – bộ sưu tập trên phố Bâykơ sẽ còn được bổ sung một mẫu vật nữa.

Hôm cười khanh khách và lùi ra khỏi bức chân dung. Trong những trường hợp hiếm hoi khi tôi có dịp nghe tiếng cười của anh, tôi biết rằng điều đó luôn là điềm báo trước một tai hoạ ghê gớm sẽ rơi xuống đầu tên hung bạo nào đó.

Vào sáng hôm sau, lúc đang mặc quần áo, tôi nhìn ra ngoài cửa sổ đã trông thấy Hôm hình như dậy từ sớm tinh mơ và đã kịp đi đâu đấy.

- Đúng, chúng ta sẽ có một ngày thật bận rộn – Anh vừa nói vừa sung sướng xoa tay khoan khoái cảm thấy trước tất cả sự bận rộn này – Không lâu nữa đâu, chúng ta sẽ bắt đầu hành động. Lưới đã được giăng ra. Tới chiều tối sẽ rõ là con cá măng răng to và nhọn ấy quẫy ở trong đó hay là bị xổng mất.

- Anh đã kịp đến khu đầm lầy?

- Tôi đến Grimpenơ và từ đấy chuyển bức điện tới Prinxtaiunxơ thông báo về cái chết của Xêlđên. Tôi nghĩ không một ai trong số các anh lại không bắt đầu lo ngại về việc này. Ngoài ra, tôi cũng đã liên lạc với Kartraitơ trung thành của tôi, vì lo lắng cho tôi có lẽ chú ấy cũng sẽ chết ở cửa hang như con chó nằm trên nấm mộ của chủ mình.

- Hôm nay, anh sẽ bắt đầu từ đâu?

- Trước hết phải nói cho ngài Genri biết. Đấy, chính ông ta đến rồi kia!

- Chúc buổi sáng tốt lành, ông Hôm! – Nam tước nói – Ông cứ như là vị tướng đang trao đổi với tham mưu trưởng về kế hoạch của trận sắp tới ấy.

- Có một trận đánh như thế. Oátxơn theo lệnh đã có mặt.

- Tôi cũng vậy.

- Thật tuyệt! Nếu tôi không lầm, những người bạn của chúng ta, Xtepltôn, hôm nay có mời ngài tới ăn trưa thì phải?

- Mong rằng các ông cũng sẽ đi chứ? Họ là những người mến khách; họ sẽ rất vui khi gặp các ông.

- Đáng tiếc là tôi cùng Oátxơn cần phải trở về Luân Đôn.

- Về Luân Đôn sao?

- Vâng. Trong những hoàn cảnh thế này tốt hơn cả là chúng tôi ở đấy.

Mặt Nam tước buồn xỉu.

- Tôi nghĩ các ông sẽ không từ giã tôi mãi mãi chứ! Thực lòng mà nói ở lâu đài Baxkêrvili sống một mình không được ấm cúng lắm đâu!

- Bạn thân mến, ngài cần phục tùng ý định của tôi vô điều kiện, và cần làm tất cả những gì tôi yêu cầu ngài. Hãy nói với những người bạn của chúng ta rằng nếu không có những công việc khẩn cấp đòi hỏi chúng tôi phải trở về Luân Đôn thì chúng tôi đã vui lòng đến rồi. Tuy vậy, không bao lâu nữa, chúng tôi sẽ quay trở lại Đêvônsirơ. Ngài đừng quên thông báo tới họ điều đó.

- Nếu ông đã năn nỉ như thế.

- Xin cam đoan với ngài là không có cách giải quyết nào khác.

Cứ theo vẻ nhăn nhó của nam tước khi trả lời, tôi hiểu là ông ta đã phật ý và coi chuyến đi của chúng tôi là hành vi đào ngũ.

- Các ông định đi lúc nào? – Ông lạnh nhạt hỏi.

- Ngay sau bữa sáng. Chúng tôi sẽ đến Kumbi -Trêxi bằng ngựa, nhưng Oátxơn còn mang đồ đạc của mình đến hiệu cầm đồ đã, vì vậy ngài hãy chờ anh ấy quay trở lại. Oátxơn, hãy viết cho Xtepltôn vài dòng, cáo lỗi là anh không thể ở chỗ họ được.

- Tôi cũng muốn đi Luân Đôn – Nam tước nói – Vì sao tôi phải ngồi ở đây một mình kia chứ?

- Bởi vì ngài không thể từ bỏ nơi ở của mình, bởi vì ngài đã hứa với tôi là sẽ luôn tuân theo ý muốn của tôi, và bây giờ tôi nói vời ngài: ngài hãy ở lại đây!

- Được, tôi sẽ ở lại.

- Còn một yêu cầu nữa. Hãy đi đến Mêripít bằng ngựa. Ra lệnh cho xe ngựa quay trở lại và nói với gia đình Xtepltôn là ngài sẽ đi bộ về nhà.

- Đi bộ qua khu đầm lầy?

- Vâng.

- Nhưng vì sao chính ông đã nhiều lần ngăn tôi làm việc đó?

- Bây giờ ngài có thể đi qua đấy tuyệt đối an toàn. Tôi khẩn khoản yêu cầu ngài như thế chỉ vì tôi tin vào lòng can đảm của ngài.

- Được, tôi sẽ làm như thế.

- Nếu ngài còn quý trọng cuộc đời của mình thì hãy đừng có đi ra khỏi đường mòn dẫn từ Mêripít – Khaiuxơ tới con đường Grimpenơ, hơn nữa đấy là con đường gần nhất đi về lâu đài Baxkêrvili.

- Tất cả sẽ được thực hiện chính xác.

- Thế thì tốt lắm. Còn chúng tôi sẽ gắng đi ngay sau khi ăn sáng xong để tới Luân Đôn vào ban ngày.

Chương trình hành động này khiến tôi rất ngạc nhiên, mặc dầu nhớ là tối hôm trước Hôm đã báo cho Xtepltôn biết về việc ra đi của mình. Nhưng ai có thể ngờ rằng việc nảy ra ý định ra đi cùng với tôi lại vào thời điểm chính anh coi là rất nguy kịch! Tuy vậy, tôi không thể làm gì khác hơn là nghiêm chỉnh tuân thủ theo ý muốn của bạn tôi. Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã chia tay với nam tước. Hai giờ sau, chúng tôi cho xe ngựa hai bánh trở về nhà và bước vào sân ga ở Kumbi-Trêxi. Một chú bé vóc người không lớn đã đợi chúng tôi ở đấy.

- Mệnh lệnh sẽ như thế nào, thưa ông?

- Hãy ngồi vào tàu hoả và đi Luân Đôn, Karitrainơ ạ. Lúc tới nơi, ngay tức khắc nhân danh ta mà chuyển điện tới ngài Genri. Hãy hỏi là ngài có tìm thấy ở một nơi nào đó cuốn sổ bị thất lạc của ta hay không. Nếu ngài tìm thấy thì hãy chuyển bằng bưu điện bảo đảm tới phố Bâykơ giùm.

- Rõ rồi, thưa ông!

- Con bây giờ hãy xem lại văn phòng nhà ga có cái gì mang tên ta hay không nhé!

Chú bé nhanh chóng trở lại với bức điện trong tay. Hôm đọc xong và đưa cho tôi coi. Ở đấy được viết như sau: “Đã nhận được điện. Sẽ ra lệnh bắt. Sẽ tới lúc 5,40. Lextrâyđơ”

- Đây là câu trả lời bức điện lúc sáng của tôi. Lextrâyđơ là một thám tử chuyên nghiệp xuất sắc nhất, chúng ta sẽ cần tới sự giúp đỡ của ông ta. Này Oátxơn, chúng ta vẫn còn thời gian và tôi cho rằng đã tới lúc chúng ta tới thăm người đàn bà quen biết của anh, bà Laura Laiônxơ rồi đấy!

Kế hoạch của chiến dịch được Hôm sắp đặt mỗi lúc một sáng tỏ trong tôi. Với sự giúp đỡ của nam tước, Xtepltôn sẽ tin rằng chúng tôi không có ở đây, nhưng thật ra chúng tôi sẽ trở về vào đúng lúc cần sự có mặt của chúng tôi hơn bao giờ hết. Nếu ngài Genri nhắc tới bức điện của Hôm từ Luân Đôn thì điều đó sẽ xoá sạch những mối hoài nghi cuối cùng của Xtepltôn. Và tôi mường tượng ra tấm lưới của chúng tôi ngày càng được căng ra quanh con cả măng to và hung dữ.

Bà Laura Laiônxơ ngồi trong phòng làm việc của mình. Sơlốc Hôm khởi đầu câu chuyện thẳng thắn và cởi mở đến mức khiến cặp mắt của bà trợn tròn vì ngạc nhiên.

- Tôi đang điều tra về tình trạng cái chết của ngài Tsarlizơ Baxkêrvili – Anh bắt đầu – Bạn tôi, bác sĩ Oátxơn đã cho tôi rõ tất cả những gì bà thông báo cho anh ấy biết trong mối liên quan tới điều này và cả những gì bà chưa muốn nói ra.

- Tôi chưa nói về điều gì vậy? – Bà xấc xược hỏi.

- Bà thú nhận là bà đã mời ngài Tsarlizơ tới cửa hàng rao vào lúc mười giờ tối. Như bà biết đấy ngài đã chết vào đúng thời gian ấy và đúng địa điểm ấy. Bà chưa nói về mối liên hệ tồn tại giữa hai sự thật này.

- Giữa chúng không tồn tại mối liên hệ nào cả.

- Trong trường hợp như thế, phép so sánh quả đã khiến người ta kinh ngạc. Nhưng tôi nghĩ rằng rồi cuối cùng chúng tôi cũng sẽ xác định được mối liên hệ này. Tôi sẽ hoàn toàn cởi mở với bà, bà Laiônxơ ạ. Chúng ta đang nói về vụ giết người mà các tang chứng của vụ án cần được xác minh trong việc điều tra không chỉ hành vi của bạn bà, ông Xtepltôn, mà còn của vợ ông ta nữa.

Bà Laiônxơ từ ghế bành nhổm phắt dậy:

- Vợ ông ta!

- Điều này đã không còn là điều bí mật với bất kì ai nữa. Cái người ông ta nhận rằng là em gái của mình thực chất là vợ ông.

Bà Laiônxơ buông mình xuống ghế bành, những ngón tay bám chặt vào chỗ vịn của ghế bành đến mức các móng tay trắng bợt ra.

- Vợ của ông ta! Vợ của ông ta … Nhưng ông ta là người chưa có gia đình kia mà!

Sơlốc Hôm nhún vai:

- Bà hãy chứng minh giúp tôi điều đó đi! Chứng minh đi, nếu có thể!

Những tia mắt giận dữ ở bà nói nhiều hơn bất cứ lời nào.

- Việc gì cũng phải có bằng cớ – Sơlốc Hôm rút từ trong túi ra những tờ giấy – Đây là bức ảnh của cặp vợ chồng này được chụp bốn năm trước ở Iôrka. Mặt sau có dòng chữ “M – R và M – X Vanđêlêrơ”, nhưng chắc bà sẽ nhận ra cả ông ta lẫn người phụ nữ này nếu bà có dịp gặp lại. Hơn nữa, còn ba tài liệu được những người đáng tin cậy khác nhau ký. Đấy là sự mô tả ông và bà Vanđêlêrơ mà có một thời đã chu cấp cho trường học riêng “Xênt – Olivêr”. Đọc xong những tài liệu này, bà sẽ không còn chút hoài nghi rằng đó quả thật là những người quen biết đối với bà.

Bà Laiônxơ nhìn thoáng qua những tờ giấy đặt trước mặt mình rồi chuyển sang nhìn chúng tôi. Sự tuyệt vọng đã biến khuôn mặt ba thành thứ mặt nạ đờ đẫn.

- Ông Hôm – Bà ta nói – Tên đê tiện ấy đã hứa sẽ lấy tôi nếu được phép ly dị. Vậy là, không thể tin một lời nào của hắn hay sao? Vậy la, hắn đã luôn lường gạt tôi? Nhưng tại sao? Tại sao cơ chứ? Tôi nghĩ hắn chỉ quan tâm tới tôi thôi! Thì ra, tôi là công cụ trong tay hắn. Vì sao phải trung thành với một kẻ tráo trở như thế? Vì sao phải che chở hắn? Hắn phải đền mạng về hành vi tội lỗi của mình! Hãy hỏi tôi những điều cần thiết, tôi sẽ không giấu diếm gì cả. Xin thề với ông là khi viết bức thư ấy tôi tuyệt nhiên không ngờ rằng điều đó sẽ khiến ngài Tsarlizơ, người bạn tốt nhất của tôi, phải bị chết!

- Tôi tin vào từng lời của bà, thưa bà – Sơlốc Hôm nói – Chắc có lẽ bà cảm thấy nặng nề khi kể về chuyện đó. Hãy làm thế này vậy: tôi sẽ nói và nếu tôi lầm lẫn một điều chủ yếu nào đấy thì bà sẽ sửa lại giúp tôi. Bức thư chắc được viết theo sự xúc xiểm của Xtepltôn?

- Theo lời hắn đọc.

- Có lẽ hắn nói với bà rằng ngài Tsarlizơ sẽ cho tất cả các khoản chi phí của vụ li dị chứ?

- Vâng.

- Còn sau khi lá thư được chuyển đi, hắn thuyết phục bà đừng đến cuộc gặp mặt?

- Hắn nói là hắn không đáng được kính trọng nếu một người khác chu cấp tiền cho việc tiến hành vụ li dị. Hắn thề rằng mặc dầu không giàu có gì nhưng hắn sẽ hiến đồng xu cuối cùng để tiêu diệt chướng ngại ngăn cách chúng tôi với nhau.

- Hắn rõ ràng rất nhất quán trong các hành vi của mình. Còn những sự kiện sau đó, bà đã nghe và biết điều gì đấy về cái chết của ngài Tsarlizơ chỉ qua báo chí.

- Vâng.

- Và Xtepltôn bắt bà hứa không được thổ lộ về cuộc gặp mặt định trước với ai chứ?

- Vâng. Hắn nói cái chết của ngài Tsarlizơ xảy ra trong những tình huống rất bí ẩn, và nếu người ta biết về lá thư thì tôi sẽ bị ngờ vực. Hắn đe doạ tôi, và tôi quyết định im lặng.

- Thế đấy, tôi hiểu rồi. Nhưng dẫu sao bà cũng vẫn hoài nghi điều gì chứ?

Bà Laiônxơ đưa mắt nhìn xuống, hình như không dám trả lời.

- Tôi biết rõ con người này – Cuối cùng bà nói – Nhưng nếu hắn không lừa dối tôi thì tôi cũng không tố giác hắn làm gì.

- Nhìn chung bà may mắn là đã thoát nạn – Sơlốc Hôm nói – Hắn nằm trong tay bà và hắn biết rõ như vậy, mà bà thì vẫn còn sống. Những tháng gần đây bà qua lại trên bờ vực thẳm. Còn bây giờ, bà Laiônxơ ạ, hãy cho phép được chúc bà mọi sự tốt lành. Chúng ta có lẽ sẽ còn được gặp nhau.

- Thế đấy, tất cả đang dần dà sáng tỏ, sương mù đang tản đi –Hôm nói khi chúng tôi lại bước vào sân ga tới cửa ra vào tàu tốc hành Luân Đôn – Chẳng bao lâu nữa tôi có thể khôi phục lại tội ác này từng điểm một. Đây chính là tội ác gây chấn động mạnh nhất vào thời đại chúng ta. Rồi các nhà hình pháp học sẽ cho rằng đã không có cái gì tương tự như thế cả. Hiển nhiên họ nhớ tới vụ giết người ở Grôđnô thuộc Ukrain vào năm 1866, và vụ giết Anđêrxôn tại miền Bắc Karônin, nhưng trong vụ án hiện giờ của chúng ta có một vài đặc điểm vô cùng độc đáo. Lúc này, chúng ta còn chưa thể đưa ra các bằng cớ trực tiếp kết tội tên quỷ quyệt đó, song hãy nhớ lời tôi, Oátxơn: tới lúc chúng ta đi nghỉ mọi điều sẽ được sáng tỏ.

Chuyến tàu tốc hành Luân Đôn rầm rập tiến vào ga. Từ toa tàu hạng nhất nhảy xuống sân ga là một người bé nhỏ mà chắc nịch gợi người ta phần nào nhớ đến con chó Bulơđô. Chúng tôi chào hỏi nhau. Theo vẻ tôn kính mà Lextrây biểu lộ trong quan hệ với bạn tôi, tôi bắt đầu được rõ là ông ta đã hiểu nhiều điều từ khi họ cùng nhau bắt tay vào vụ án. Tôi rất nhớ là biết bao điều con người thực tế này xem thường đã khơi gợi những tính toán lôgíc ở người ưa thích lý luận của chúng ta.

- Thế nào, vụ án nghiêm trọng chứ? – Lextrâyđơ hỏi.

- Đã lâu chưa có vụ nào như thế! – Hôm nói – Chúng ta còn có hai giờ để dự phòng. Nào, hãy dùng thời gian đó để ăn trưa, rồi sau đấy, Lextrâyđơ ạ, chúng tôi sẽ thết ông không khí trong sạch nhất của ban đêm vùng Đarimurơ, chúng tôi cũng sẽ giúp ông tẩy sạch cổ họng mình từ sương mù Luân Đôn. Chưa khi nào ông ở đây phải không? Vậy thì ông sẽ không thể chóng quên sự làm quen ban đầu của mình với miền đấy này đâu!

 

CHƯƠNG XIV

CON CHÓ CỦA DÒNG HỌ BAXKÊRVILI

 

Một trong những khiếm khuyết của Sơlốc Hôm – nếu có thể gọi như vậy – là cho đến tận lúc thực hiện các kế hoạch của mình, anh vẫn không bao giờ chia sẻ với bất kì ai về những kế hoạch đó. Sự kính đáo này một phần được giải thích bởi bản tính hách dịch của con người ấy – anh vốn ưa sai bảo những người xung quanh và thích đánh vào trí tưởng tượng của họ. Mặt khác, tính thận trọng nghề nghiệp không cho phép anh lao vào những trò mạo hiểm không cần thiết. Dầu sao chăng nữa, đặc tính này của anh đã gây nhiều khó chịu cho những ai cùng anh hành động trong công việc giúp việc hoặc trợ sức cho anh. Bản thân tôi cũng thường chịu khổ chịu sở vì điều đó, nhưng chính những gì tôi phải chịu đựng trong suốt cuộc hành trình dài lâu trong đêm tối đã vượt lên trên mọi nỗi khổ sở trước đó của mình. Chúng tôi đã trải qua thử thách không chút dễ dàng để chuẩn bị giáng quả đấm quyết định cuối cùng, vậy mà Hôm vẫn kiên trì im lặng, tôi chỉ có thể đoán mò về những ý định hành động của anh. Đúng lúc thần kinh tôi căng thẳng đến tột độ thì đột nhiên những luồng gió lạnh phả vào mặt chúng tôi. Qua bóng đêm, tôi nhận ra khoảng không vắng vẻ trải ra hai phía con đường hẹp và hiểu rằng chúng tôi lại đang ở trên khu đầm lầy. Mỗi bước đi của ngựa, mỗi chỗ rẽ của xe lại đẩy chúng tôi đến gần điểm kết thúc của những sự kiện này.

Không thể bàn tính công việc trong sự có mặt của người xa ích thuê ở Kumbi-Trêxi được. Và mặc dầu rất hồi hộp, chúng tôi vẫn nói về những chuyện nhảm nhí nào đó. Tôi thở phào nhẹ nhõm lúc ở bên đường xuất hiện vila của Phrênklênđơ. Từ đây tới biệt thự Baxkêrvili cũng như tới địa điểm cần phải bùng nổ cảnh cuối cùng của tấn bi kịch còn chừng hai ba dặm nữa. Không dừng lại ở cạnh cổng ra vào, chúng tôi đi đến cửa hàng dậu dẫn tới con đường rợp bóng cây. Sau khi thanh toán tiền cho người đánh xe, chúng tôi cho ông ta quay trở lại Kumbi- Trêxi và bắt đầu hướng về Mêripít – Khaiuxơ đi tới.

- Ông có mang theo vũ khí không, Lextrâyđơ?

Người thám tử nhỏ bé mỉm cười:

- Từ lúc tôi mặc quần dài nghĩa là có túi sau thì trong túi sau của tôi chẳng bao giờ rỗng cả.

- Vậy thì tuyệt, tôi với Oátxơn cũng đã chuẩn bị đón nhận bất kỳ điều bất ngờ nào xảy ra.

- Tôi nhận thấy ông cũng rất căng thẳng, ông Hôm ạ. Bây giờ trò chơi này đòi hỏi chúng ta cái gì?

- Lòng kiên nhẫn. Chúng ta sẽ chờ.

- Vùng này quả thật không lấy gì làm vui lắm! – Viên thám tử vươn người nhìn lên những sườn núi mờ ảo và sương mù lan toả trên mặt đầm lầy Grimpenơ – Mà có lửa sáng ở chỗ nào kia kìa.

- Đấy là Mêripít – Khaiuxơ – đích cuối cùng của chuyến đi chúng ta. Bây giờ tôi sẽ yêu cầu các vị bước lặng lẽ hơn và hãy nói thầm thôi.

Chúng tôi thận trọng bước theo lối mòn dẫn tới ngôi nhà, nhưng cách toà nhà chừng hai trăm ácxơ thì Hôm dừng lại.

- Không cần tiếp tục đi nữa – Anh nói – Những tảng đá kia có thể làm chỗ che chở tốt cho chúng ta đấy.

- Chúng ta sẽ chờ ở đấy sao?

- Vâng, chúng ta sẽ mai phục. Hãy đứng vào đó, Lextrâyđơ! Oátxơn này, anh đã ở trong ngôi nhà này phải không? Chắc anh biết sự bố trí các phòng chứ? Ô cửa sổ với cái khung chéo kia là phòng nào vậy?

- Theo tôi, đấy là bếp.

- Thế còn cửa sổ kế liền sang sáng kia?

- Đấy là phòng ăn.

- Những tấm rèm được nâng lên. Anh biết cách lẻn tới đó tốt hơn tôi. Hãy nhìn qua cửa sổ xem họ làm gì trong đó? Chỉ cần im lặng, đừng để họ nghe thấy anh đấy!

Tôi nhón chân len lén tới gần hàng rào thấp bằng đá bao quanh khu vườn cằn cỗi của gia đình Xtepltôn. Thế rồi tôi lẩn vào bóng tối của nó tiến đến chỗ có thể nhìn vào ô cửa sổ không buông rèm.

Trong phòng có hai người đàn ông – ngài Genri và Xtepltôn. Họ ngồi đối diện với nhau quanh bàn tròn, quay nghiêng về phía tôi, hút thuốc. Trước mặt họ bày mấy tách cà phê và chai rượu vang. Xtepltôn đang sôi nổi nói về chuyện gì đó, nhưng nam tước ngồi mặt mày tái nhợt nghe hắn nói không được chăm chú cho lắm. Có lẽ ý nghĩ về việc quay trở về nhà qua khu đầm lầy chứa nhiều điều dữ dằn đã khiến ông không yên tâm.

Nhưng rồi Xtepltôn đứng dậy, ra khỏi phòng. Còn ngài Genri thì rót rượu vào ly mình rồi ngả người vào lưng ghế hút thuốc. Tôi nghe thấy tiếng cửa kêu cót két và sau đấy là tiếng lạo xạo của đá sỏi trên lối mòn. Những bước chân tiến đến gần tôi. Từ sau bức tường, tôi ngoảnh lại nhìn thì trông thấy Xtepltôn dừng lại ở cạnh kho chứa củi không lớn ở góc vườn. Chìa khoá kêu xủng xoảng trong ổ và sự nhốn nháo nào đó vang lên từ kho chứa củi. Xtêpltôn ở đấy chưa quá hai phút. Chìa khoá kêu xủng xoảng. Hắn đi qua chỗ tôi và mất hút trong nhà. Sau khi nhìn thấy hắn quay trở lại với vị khách của mình, tôi thận trọng lẻn tới chỗ các bạn của mình và kể tất cả chuyện đó cho họ nghe. Lúc tôi ngừng lời, Hôm hỏi:

- Nghĩa là người đàn bà không ở cùng chỗ với họ?

- Không.

- Vậy thì cô ta ở đâu? Bởi vì ngoài bếp và phòng ăn ra mọi cửa sổ đều tối om.

- Quả thật tôi không biết?

Tôi đã nói rằng, mặt đầm lầy Grimpenơ bị bao phủ bởi những làn sương trắng dày đặc. Nó lừng lững tiến về phía chúng tôi, kết lại thành bức tường thấp và dầy bọc lấy chúng tôi từ hai phía. Ánh trăng lai láng ở phía trên biến sương mù thành cánh đồng băng lấp lánh, trên đấy những đỉnh cột đá hoa cương xa xa tựa như những con đầm bích màu đen trầm ngâm suy nghĩ. Hôm ngoảnh đầu về hướng đó, và khi trông thấy bức tường trắng đang chậm chạp trườn tới, anh nóng lòng càu nhàu:

- Hãy nhìn kia, Oátxơn, sương mù đang tiếng thẳng về phía chúng ta.

- Mà điều đó có gì là không hay vậy?

- Tệ quá! Sương mù là nhân tố duy nhất có thể phá vỡ những dự định của tôi. Thế mà ngài Genri vẫn còn lưu lại. Đã mười giờ rồi. Lúc này, sự thành công của chúng ta và ngay cả tính mệnh của ông ta nữa, tất cả đều tuỳ thuộc ở chỗ ông có ra về trước khi màn sương bao phủ đường mòn này không.

Màn đêm quang đãng không gợn mây. Những ngôi sao lạnh lùng nhấp nháy phía trên cao, mặt trăng trải xuống khu đầm lầy ánh sáng mượt mà lừa đảo. Ngay trước mặt chúng tôi, hiện lên lờ mờ hình dáng đen đen của toà nhà mài nhọn với những ống khói phóng thẳng lên bầu trời đầy sao. Những vệt màu vàng toả rộng từ những ô cửa sổ của tầng dưới đổ xuống khu vườn và xa hơn xuống khu đầm lầy. Đột nhiên, một vệt sáng tắt lụi. Các gia nhân đi ra khỏi bếp. Bấy giờ ngọn đèn chỉ chiếu ở phòng ăn nơi có hai người – tên chủ nhà giết người và vị khách không mảy may nghi ngờ một điều gì, đang hút thuốc và tiếp tục trò chuyện.

Bức màn trắng óng ánh đã bao phủ hầu khắp khu đầm lầy, mỗi phút một tới gần ngôi nhà. Những màng lóng lánh đầu tiên đã lơ lửng cạnh khuôn cửa sổ vàng óng. Bức tường phía xa của khu vườn hoàn toàn chìm trong màn sương đang cuồn cuộn bốc lên, phía trên chỉ còn hiện lên những ngọn cây cao. Và thế là những vòng tròn trăng trắng xuất hiện từ hai phía của toà nhà đã nhập lại thành bức thành dày đặc mà trên đó tầng thượng cùng mái nhà đúng như là một con tàu thần kì đang bơi trên sóng cả của đại dương huyền ảo. Hôm giận dữ buông nắm đấm vào khỏang không phía trước, dậm chân sốt ruột ra mặt:

- Nếu mười lăm phút nữa ông ta xuất hiện thì đường mòn sẽ bị sương mù bao phủ, và sau nửa tiếng nữa chúng ta sẽ không thể nhìn thấy trong bóng đêm này ngay cả bàn tay của mình nữa.

- Chúng ta lùi lại phía sau một chút nữa vậy, ở đấy cao hơn.

- Được, sẽ làm như thế.

Theo mức độ sương mù tiến sát đến gần mà chúng tôi lùi lại xa dần, xa dần cho tới khi chỉ còn cách ngôi nhà chừng nửa dặm. Vậy mà biển cả trắng nhờ dày đặc được ánh trăng dát bạc ở phía trên lại vẫn thành hình ở đó, tiếp tục cuộc tiến công dần dà không ngừng không nghỉ của mình.

- Chúng ta lùi lại quá xa rồi đấy – Hôm nói – Điều này thật nguy hiểm: kẻ thù có thể rượt kịp nam tước trước lúc ông kịp tới chúng ta. Dừng lại ở đây thôi!

Anh quỳ xuống ghé tai vào đất nghe ngóng.

- May quá! Hình như có tiếng chân của ông ta.

Trong vẻ vắng lặng của khu đầm lầy vang lên những tiếng chân bước dồn. Từ phía sau những tảng đá, chúng tôi cúi xuống dán mắt nhìn qua bức tường trăng trắng mờ ảo đã tiến sát tới chúng tôi. Tiếng những bước chân gần hơn, và thế là từ sau đám sương mù con người chúng tôi đang chờ đợi như đang rẽ bức rèm trước mặt mình bước tới. Nhận thấy bầu trời quang đãng đầy sao trên đầu mình, ông ta ngạc nhiên đưa mắt nhìn bốn xung quanh. Sau đó ông rảo bước trên con đường mòn vượt qua chỗ chúng tôi và bắt đầu leo lên sườn dốc thoai thoải bắt đầu từ ngay sau những tảng đá. Đúng lúc ấy, ông nhân thể ngoảnh nhìn qua vai mình, có lẽ phòng ngừa một cái gì đó.

- Trời – Hôm thì thào lên cò súng đến rốp một cái – Hãy nhìn kìa! Con chó đấy!

Tiếng dậm thình thịch đều đều vang lên ngay trong đám sương mù tiến gần đến chỗ chúng tôi. Bức tường màn trắng ở cách chúng tôi chừng 50 ácxơ. Cả ba chúng tôi đều cùng dán mắt vào đó mà vẫn không biết con quái vật nào sẽ xuất hiện từ đấy. Đứng cạnh Hôm, tôi loáng thoáng nhận ra khuôn mặt tái xanh, lo sợ với cặp mắt lấp lánh trong ánh trăng của anh. Và đột nhiên khuôn mặt đó biến dạng: cái nhìn trở nên chăm chú và nghiêm nghị, còn miệng anh thì hé mở vì kinh ngạc. Lextrâyxơ rú lên vì sợ hãi, rồi ngã vật xuống đất. Tôi ưỡng thẳng người lên, hầu như bị tê liệt khi nhìn thấy con vật trước mặt mình. Tôi đưa bàn tay yếu đuối nắm lấy khẩu súng lục. Đúng rồi! Đấy là con chó khổng lồ, đen tuyền. Nhưng chưa một ai  trong chúng tôi, những người trần mắt thịt, trông thấy một con chó như thế bao giờ. Ngọn lửa phọt ra từ cái mõm rộng toang hoác của nó, đôi mắt phóng ra những tia lửa, còn quanh mõm và gáy thì ánh sáng nhấp nhánh. Không thể phát sinh ra trong bộ óc bị kích động nào một ảo ảnh khủng khiếp và gớm ghiếc hơn so với con vật dữ tợn đang từ màn sương mù chồm về phía chúng tôi.

Theo đường mòn, con quái vật vừa đánh hơi vừa nhảy vun vút theo vết của người bạn chúng tôi. Chúng tôi chỉ kịp hồi tỉnh sau khi con vật lao nhanh qua bên cạnh. Khi ấy cả tôi lẫn Hôm đều đồng loạt nổ súng. Tiếng rống đinh tai vang liền sau đó khiến chúng tôi tin rằng ít nhất cũng có một  viên đạn đã trúng đích. Nhưng con chó vẫn không dừng lại mà tiếp tục phóng về phía trước. Chúng tôi nhìn thấy ngài Genri ngoảnh đầu lại, mặt tái xanh như da người chết trong ánh trăng, hai tay chới với giơ lên cao vì kinh hãi. Thế rồi ông đứng lặng đi, mắt không rời khỏi con quái vật đang chồm lên về phía mình.

Nhưng tiếng thốt ra do đau đớn của con chó đã làm tiêu tan hết thảy nỗi khiếp đảm của chúng tôi. Con vật nào bị thương thì con vật ấy có thể bị giết chết. Trời ơi! Vào đêm ấy Hôm chạy! Tôi thường được xem là người chạy giỏi, vậy mà Hôm vượt cả tôi bằng khoảng cách tôi vượt lên phía trước người thám tử nhỏ bé. Chúng tôi lao nhanh trên lối mòn, nghe thấy tiếng kêu không dứt của ngài Genri và tiếng rống khàn khàn của con chó. Chúng tôi đến đúng lúc con vật đang chồm lên miếng mồi của mình, đẩy nó ngã xuống đất và chuẩn bị túm lấy cổ. Nhưng Hôm đã nã vào hông nó năm phát súng liền. Con chó tru lên lần cuối cùng, răng nghiến kèn kẹt một cách giận dữ, lưng đổ xuống, cả bốn chân co giật rồi nằm im bất động. Tôi cúi nhìn con vật, thở hổn hển, gí nòng súng ngắn vào chiếc mõm lóng lánh một cách kỳ dị. Thế nhưng tôi không phải bóp cò nữa – con chó khổng lồ đã tắt thở.

Ngài Genri nằm bất tỉnh nhân sự ở ngay chỗ con vật rượt kịp ông. Chúng tôi bẻ lại cổ áo cho ông. Hôm cảm ơn số phận sau khi tin rằng ông không bị thương và sự giúp đỡ của chúng tôi thật kịp thời. Thế rồi mí mắt của ngài Genri động đậy, ông khẽ cựa mình. Lextrâyđơ đút miệng bình rượu cô nhắc vào giữa hai hàm răng của ông. Một loáng sau cặp mắt run sợ của ông mở ra nhìn  chúng tôi.

- Trời  ơi! – Nam tước thì thào – Cái gì thế này? Nó đâu rồi?

- Nó đã chết rồi! – Hôm nói – Cái bóng ma theo đuổi dòng họ của ngài đã bị kết liễu vĩnh viễn.

Con quái vật nằm trước mặt chúng tôi thật ra vẫn có thể làm bất kỳ ai kinh hãi bởi kích thước và sức mạnh của nó. Đấy là con chó không thuần chủng. Dường như con vật này được lai tạo từ con chó dị thường, cao, vạm vỡ - kích thước của con sư tử cái trẻ trung. Cái mõm to sụ của con vật luôn toả ra những tia sáng màu lam nhạt, còn đôi mắt hung dữ sâu hoắm của nó được phủ những tia lửa chung quanh. Tôi đụng vào cái đầu lấp lánh của nó, và sau khi rụt tay lại, tôi nhận thấy những ngón tay tôi cũng nhấp nhánh những tia sáng trong bóng tối.

- Lân tinh! – Tôi nói.

- Đúng vậy, một loại chế phẩm đặc biệt nào đó – Hôm đưa mũi lại gần và khẳng định – Thiếu mùi vị thì ở con chó cũng không còn khả năng đánh hơn nữa. Hãy thứ lỗi cho chúng tôi, ngài Genri, vì chúng tôi đã bắt ngài phải trải qua cơn thử thách khủng khiếp đến mức này. Tôi tin là sẽ trông thấy một con chó nhưng không một chút ngờ rằng con quái vật này lại như thế. Sương mù cản trở nên chúng tôi không thể đón đầu con chó được.

- Các ông đã cứu sống tôi ...

- … Sau khi bắt ngài phải chịu một mối nguy hiểm. Thế nào, ngài có thể đứng dậy được chứ?

- Hãy cho tôi một hớp cô nhắc nữa, lúc đó tất cả sẽ đâu vào đấy. Thế là nhờ sự giúp đỡ của các ông, giờ tôi sẽ đứng được. Rồi sau đây ông  định làm gì?

- Tạm thời chúng tôi để  ngài ở đây cho đến khi ngài hồi tỉnh lại, rồi một người nào đó trong chúng tôi sẽ cùng trở về nhà với ngài.

Nam tước thử đứng lên nhưng không được. Ông tái mét như gà bị cắt tiết, toàn thân run rẩy. Chúng tôi đưa ông đến gần tảng đá. Ông ngồi xuống đó, cả người vẫn run run, sau đó ông lấy tay che mặt.

- Còn bây giờ chúng ta phải đi thôi – Hôm nói – Cần kết thúc công việc mới bắt đầu. Hãy quý trọng từng phút một. Tội ác đã rõ, chỉ còn túm lấy tội phạm nữa thôi!

- Tôi sẽ bắt giam cả hai. Hắn không còn ở trong nhà nữa – Hôm cùng chúng tôi bước nhanh trên lối mòn, tiếp tục nói – Hắn không thể không nghe thấy tiếng súng và hắn hiểu là trò chơi đã bị thất bại.

- Anh nói sao! Tiếng súng ở cách xa  ngôi nhà, hơn nữa sương mù làm nhỏ âm thanh đi.

- Anh có thể không phải hoài nghi rằng hắn cũng lao theo sau con chó – Bởi cần kéo con chó ra khỏi thi thể. Không, chúng ta sẽ không gặp hắn! Nhưng dẫu sao cũng cần phải lục lọi khắp mọi nơi.

Cửa ra vào mở toang. Chúng tôi chạy vào trong nhà,  nhanh chóng khám xét từ phòng này tới phòng khác khiến người hầu già lụ khụ gặp chúng tôi ở hành lang rất ngạc nhiên. Chỉ có ánh sáng ở trong phòng ăn, nhưng Hôm đã cầm đèn lùng sục mọi xó xỉnh trong nhà. Con người chúng tôi đang tìm kiếm đã không cánh mà bay. Tuy vậy, cửa vào một trong những phòng ngủ ở lầu hai bị khoá chặt.

- Có ai đó ở trong này! – Lextrâyđơ kêu lên.

Trong phòng nghe thấy tiếng loạt xoạt và tiếng rên rỉ yếu ớt. Hôm vừa lấy chân đạp vào ổ khoá thì cánh cửa đã mở toang ra. Lăm lăm súng lục trong tay, chúng tôi ập vào.

Thế nhưng, tên vô lại xấc xược chúng tôi đang săn đuổi té ra không có ở đây. Thay thế hắn, hiện ra trước mắt chúng tôi là một cái gì đó kỳ lạ, bất ngờ tới mức chúng tôi đứng như chôn chân tại chỗ.

Căn phòng này là một bảo tàng nhỏ. Các bức tường chỉ chất đầy toàn bộ những hộp kính bảo quản bộ sưu tập bướm con và bướm lớn – những đứa con cưng chiều của bản tính phức tạp và tội lỗi kia. Giữa phòng có giá đỡ treo vào thanh xà mục nát của trần nhà. Một người đứng ở cạnh giá đỡ, tấm vải trải giường quấn chặt lấy người đó từ đầu đến chân. Phút đầu tiên chúng tôi không thể đoán biết được đấy là đàn ông hay đàn bà. Một mảnh vải quấn quanh cổ, mảnh vải khác che phần dưới của khuôn mặt, chỉ có cặp mắt mở to là nhìn chúng tôi dò hỏi, là tràn ngập nỗi khiếp đảm và thẹn thùng. Chúng tôi nhanh chóng tháo bỏ dây buộc, lấy giẻ bịt miệng ra. Nhào xuống dưới chân chúng tôi không phải ai khác mà chính là cô Xtepltôn. Đầu cô gục xuống ngực, tôi trông thấy những vết roi lằn đỏ trên cổ cô.

- Quân đê tiện! – Hôm thốt lên – Lextrâyđơ, cô nhắc đâu? Hãy đặt bà ấy lên ghế? Bất kỳ ai chịu sự tra tấn như thế cũng chết ngất cả thôi!

Cô Xtepltôn mở mắt ra.

- Ông ấy có được cứu thoát không? – Cô ta hỏi – Ông ấy đã chạy đi rồi sao?

- Ông nhà sẽ không bao giời thoát khỏi tay chúng tôi, thưa bà.

- Không, không, tôi không hỏi về hắn. Ngài Genri có được cứu sống không?

- Thoát rồi.

- Còn con chó?

- Đã bị giết.

Cô bật ra tiếng thở phào nhẹ nhõm.

- May quá! May quá! Quân chó má! Các ông thấy hắn đã đối xử với tôi như thế đấy! – Cô vén tay áo lên và chúng tôi trông thấy tay cô bầm tím – Nhưng điều đó vẫn không sao… vẫn không sao cả. Hắn đã dày vò, đã đầy đoạ tâm hồn tôi. Trong khi tôi le lói hy vọng là con người ấy còn yêu tôi, tôi đã chịu đựng tất cả: sự đối đãi ngang ngược, cảnh cô độc, cuộc sống tràn ngập những điều giả tạo… nhưng hắn đã lường gạt tôi, tôi biến thành công cụ trong tay hắn! – Không kìm lòng được, cô ta khóc tức tửơi.

- Đúng vậy, thưa bà, bà hoàn toàn không có cơ sở để trông mong vào lòng tốt của hắn – Hôm nói – Đừng giấu chúng tôi, cần tìm hắn ở đâu? Nếu bà đã từng là kẻ tiếp tay cho hắn thì hãy tận dụng thời cơ này để làm giảm nhẹ lỗi lầm của mình – bà hãy giúp chúng tôi.

- Hắn chỉ có thể lẫn trốn ở một nơi, đối với hắn không chỗ nào tốt hơn nơi đó – Cô trả lời – Ngay giữa đầm lầy có một hòn đảo nhỏ. Vào thời gian nào đấy đã có xí nghiệp khai thác mỏ ở đây. Hắn giữ con chó tại đó. Cũng tại đó, hắn chuẩn bị mọi thứ để phòng ngừa trường hợp buộc phải ẩn vào đây.

Hôm soi đèn vào cửa sổ. Sương mù như bông trắng dính đầy vào kính.

- Hãy trông kìa! – Anh nói – Đêm như thế này không một ai có thể lọt vào đầm lầy Grimpenơ được đâu.

Cô Xtepltôn bật cười, vỗ tay. Cặp mắt cô nhấp nháy những tia lửa hằn học.

- Hắn sẽ tìm thấy đường và sẽ không quay trở lại được nữa – Cô reo lên – Lẽ nào vào một đêm như thế hắn có thể nhận ra cột mốc? Chúng tôi đã cài đặt những cột mốc để đánh dấu lối mòn sang vùng đầm lầy. Ôi! Tại sao hôm nay tôi không nghĩ đến chuyện thu dọn chúng đi! Thế là hắn đã nằm trong tay các ông rồi!

Không thể nghĩ đến chuyện đuổi bắt vào một đêm như thế. Chúng tôi để Lextrâyđơ ở lại với người chủ toàn quyền của Mêripít-Khaiuxơ còn bản thân chúng tôi cùng với ngài Genri quay trở lại lâu đài Baxkêrvili. Cũng không thể giấu diếm ngài Genri về lịch sử vợ chồng Xtepltôn thêm được nữa. Sau khi biết rõ tất cả sự thật về người đàn bà mình đem lòng yêu dấu, ông đã can đảm chấp nhận thất bại của mình.

Tuy nhiên cơn chấn động trải qua trong đêm ấy đối với ngài Genri vẫn chưa qua khỏi. Ông nằm mê man trong cơn sốt tới tận sáng dưới sự chăm sóc của bác sĩ Môrtimôrơ. Sắp tới, cả hai người có ý định đi du lịch vòng quanh thế giới, và chỉ sau chuyến đi này, ngài Genri mới lại vui vẻ, khoẻ mạnh trở về Anh Quốc thừa hưởng thái ấp rủi ro của mình.

Giờ câu chuyện kỳ lạ của tôi sắp kết thúc. Chép lại câu chuyện này, tôi gắng để bạn đọc chia sẻ cùng chúng tôi mọi nỗi khủng khiếp cùng những phán đoán mơ hồ đã phủ lên cuộc sống của chúng tôi lâu đến thế và đã được kết thúc bằng tấn bi kịch như vậy.

Đến sáng, sương mù tản đi. Cô Xtepltôn đưa chúng tôi tới nơi bắt đầu lối mòn đi qua đầm lầy. Người đàn bà này dẫn chúng tôi lần theo vết của chồng với vẻ khoan khoái và niềm vui sướng tới mức chỉ đến khi đó chúng tôi mới được rõ cuộc sống mà cô trải qua nặng nề biết dường nào. Chúng tôi từ biệt cô trên dải than bùn hẹp lấn sâu vào vùng đầm lầy thành một bán đảo nhỏ. Những cành cây nhỏ trụi lá nằm khắp nơi làm thành lối mòn uốn lượn theo hình chữ chi từ mô đất này tới mô đất khác, giữa những khoảng trống có phủ lá cây chắn ngang con đường ở mọi chỗ. Ai có thể lần ra một nơi thế này. Hơi độc bốc lên từ lau sậy mục ruỗng và từ những cây phong bị phủ bùn bay là là trên mặt đầm lầy. Thỉnh thoảng chúng tôi trượt ngả, đầu gối lê trên khu đầm lầy đen thẫm được phân ra bởi những vòng mềm mại ở bề mặt. Bùn lầy nhầy nhụa bám vào chân chúng tôi, chắc đến nỗi tưởng như có bàn tay của ai đó kéo chúng tôi xuống những vũng sâu ghê tởm này. Đập vào mắt chúng tôi là một bằng chứng duy nhất xác minh rằng chúng tôi không phải là những người đầu tiên đi trên con đường đầy nguy hiểm này. Trên mô đất mọc lên một loại cỏ đầm lầy còn in hằn những vệt thẫm. Hôm nhoài người tới đó và ngay lập tức anh bị thụt đến ngang thắt lưng trong vũng lầy, và nếu không có chúng tôi thì chưa chắc anh còn đứng vững trên đôi chân của mình được nữa. Anh cầm trong tay chiếc giày đen cũ kỹ bên trong có đóng dấu: “Mâyêrx Tôrôntô”.

- Vật tìm kiếm đã bị tắm bùn. Chiếc giày thất lạc của người bạn chúng ta đấy!

- Bị Xtepltôn vội vàng quẳng đi chăng?

- Rất đúng. Hắn đã cho con chó đánh hơi chiếc giày khi hướng dẫn nó lần theo vết ngài Genri. Rồi hắn chạy với chiếc giày trong tay, sau đó hắn ném đi. Giờ đây, ít nhất chúng ta cũng biết được là hắn đã lọt đến chỗ này bình yên vô sự.

Nhưng chúng tôi không biết được gì thêm nữa, mặc dầu có thể phỏng đoán về nhiều điều. Không thể nào nhận ra những dấu vết trên con đường mòn – bùn lầy ngay tức khắc phủ kín lấy chúng. Chúng tôi cả quyết là những dấu vết đó sẽ được tìm thấy ở chỗ khô ráo hơn. Tuy vậy, mọi sự tìm kiếm đều vô ích. Nếu đất mà nói đúng sự thật thì Xtepltôn đã không tới được nơi náu thân của mình trên cù lao mặc dầu vào cái đêm sương mù không thể nào quên đối với chúng tôi ấy hắn đã gắng đến bằng được chỗ đó. Con người lãnh đạm nhẫn tâm này đã vĩnh viễn bị chôn vùi ngay giữa trung tâm vùng đầm lầy Grimpenơ hôi thối, nơi hắn bị cuốn vào đáy sâu vô cùng tận của nó.

Chúng tôi tìm thấy không thật nhiều dấu vết của hắn trên hòn đảo bị bao bọc bởi bùn lầy nơi hắn cất giấu kẻ tòng phạm quái đản của mình. Cái tời khổng lồ, giếng lò lưng lửng đá dăm đã chứng tỏ vào thời gian nào đó ở đây đã có công trường khai thác mỏ. Cạnh đó là những túp lều đổ nát của những thợ mỏ mà có lẽ hơi độc của khu đầm lầy đã xua đuổi họ đi. Ở một trong những túp lều này chúng tôi tìm thấy một cái vòng treo trên tường, dây xích và rất nhiều xương bị gặm. Chắc có lẽ Xtepltôn giữ con chó của mình tại đây. Lăn lóc giữa rác rưởi là bộ xương chó hung hung còn lại một nhúm lông trên mình.

- Trời ơi! – Hôm thốt lên – Đúng là giống chó thuần chủng. Môrtimôrơ tội nghiệp sẽ không bao giờ tìm thấy con chó đáng yêu của mình nữa. Giờ đây, tôi cho rằng hòn đảo nhỏ này đã cho chúng ta rõ mọi bí mật của mình rồi. Cất giấu một con chó thật không dễ. Đấy, hãy thử bắt nó im lặng đi! Tiếng rống mà mọi người tự nhiên nghe thấy cả vào ban ngày vọng ra từ đây. Trong trường hợp thật cần thiết, Xtepltôn có thể đưa con chó sang nhà chứa củi gần chỗ mình hơn, thế nhưng hắn chỉ làm trò mạo hiểm ấy vào giờ phút nguy kịch nhất khi sắp đưa tấm thảm kịch đến kết thúc. Còn thứ bột nhão trong hộp sắt tây này là chất phát sáng mà hắn đã dùng để bôi vào con chó của mình. Chính truyền thuyết về con chó của dòng họ Baxkêrvili đã nảy ra trong óc hắn ý nghĩ đó và hắn đã quyết định thanh toán ngài Tsarlizơ bằng cách này. Đến giờ chẳng có gì đáng ngạc nhiên là vì sao tên tù khổ sai bất hạnh vừa tháo chạy vừa la hét khi con ngáo ộp từ trong bóng đêm nhảy bổ vào hắn. Người bạn của chúng ta đã hành động rất đúng, còn bản thân chúng ta thì ở cách không xa chỗ ấy. Xtepltôn quả ranh mãnh! Không biết về chuyện con chó đã giúp hắn giết con mồi nên ai đó trong số những điền chủ của địa phương đã cả gan đến gần hơn để làm quen với con chó phải không? Với con vật này thế cũng đủ để nói tới một cuộc gặp gỡ. Nhiều người đã trông thấy nó trên khu đầm lầy là vì vậy. Tôi đã nói với anh ở Luân Đôn, Oátxơn ạ, giờ tôi xin nhắc lại: chúng ta chưa từng bao giờ có công việc với một người nguy hiểm như kẻ bây giờ đang nằm lại đây! – Anh đồng thời chỉ vào vũng bùn lầy xanh nâu đang lùi xa tới những triền đồi thoai thoải của khu đầm lầy than bùn

 

 

CHƯƠNG XV

NHÌN LẠI PHÍA SAU

           

              Đã cuối tháng mười một. Vào một tối sương mù u ám, tôi và Hôm ngồi cạnh lò sưởi cháy rừng rực trong phòng làm việc tại phố Bâycơ. Từ sau tấn thảm kịch kết thúc chuyến đi của chúng tôi đến Đêvônsirơ tới giờ bạn tôi đã điều tra xong hai vụ án rất nghiêm trọng nữa. Vụ án đầu tiên, anh đã thành công trong việc phát giác tên đại tá Epvuđơ khi hắn bị cuốn vào vụ bê bối bùng nổ tại hội bài “Patrisi”. Còn vụ thứ hai, anh đã gỡ tội cho người đàn bà bất hạnh Mônbenxơ trong vụ giết đứa con gái riêng, người phụ nữ trẻ trung Karlrơ. Như mọi người đã biết, nửa năm trước, người thiếu nữ này đã xuất hiện ở Nióoc và đã lấy chồng yên ổn ở đây. Sau việc nghiên cứu thành công hai vụ án nghiêm trọng và khó khăn như the, Hôm sống trong một tâm trạng vô cùng phấn chấn. Lợi dụng điều  này, tôi quyết moi ở anh một vài chi tiết của câu chuyện bí ẩn về Baxkêrvili. Tôi nóng lòng dùng thời giờ của mình chờ đợi, vì biết rằng Hôm không ưa giữ trong đầu cùng một lúc vài ba vụ án, rằng trí óc lôgíc và sáng tỏ của anh sẽ không thể rời bỏ ngay vụ án hiện tại để nhớ tới vụ án trước đây.

Đồng thời vào những ngày này, ngài Genri và bác sĩ Môrtimôrơ cũng đang ở Luân Đôn. Họ chuẩn bị đi du lịch ở nước ngoài theo lệnh của các bác sĩ nhằm hồi phục hệ thần kinh bị suy giảm cho ngài Genri. Buổi sáng họ đến thăm chúng tôi, và đó là nguyên cớ thuận lợi để tôi  gợi chuyện về đề tài cần thiết.

- Từ quan điểm của người tự xưng là Xtepltôn thì các sự kiện đã xảy ra như được mô tả – Hôm bắt đầu – Tuy nhiên, tất cả chuyện này đối với chúng ta hãy còn vô cùng phức tạp vì chúng ta chưa có ý niệm nhỏ nhất về các hành động của hắn. Chúng ta mới biết những sự kiện nào đấy mà thôi. Từ đó đến giờ tôi đã hai lần nói chuyện với cô Xtepltôn và mọi chuyện đã được sáng tỏ. Tôi nghĩ, hiện giờ không còn điều bí ẩn nào cả. Anh có thể xem qua những ghi chép của tôi về vụ án này trong hộp phích có chữ cái “B”.

- Anh có thể trình bày tiến trình của các sự kiện chỉ dựa vào trí nhớ được không?

- Xin vui lòng, mặc dầu không dám đảm bảo là tôi nhớ hết mọi chi tiết. Khi ta tập trung vào một chi tiết nào đó, thì những ý nghĩ trước đây của ta sẽ bay ra khỏi đầu mất. Viên trạng sư, người biết rất rõ vụ án của mình, người từng tranh luận gay gắt lại phiên toà về nó, vậy mà sau hai tuần lễ ông đã quên sạch! Tôi thì thế này: mỗi vụ điều tra mới lại đẩy vụ điều tra trước đó ra khỏi trí nhớ, còn Karlrơ đã lấy người mình che lấp lâu đài Baxkêrvili trong ý thức của tôi. Ngày mai rất có thể một điều bí ẩn khác sẽ ở trước mắt tôi, và đến lượt mình nó sẽ gắng trình bày cho anh rõ toàn bộ câu chuyện này, còn nếu tôi có quên  một điều gì thì anh hãy nhắc giùm tôi.

Sự thăm dò có định hướng đã khiến tôi tin chắc rằng bức chân dung dòng họ là có thật, rằng con người này đúng là thuộc dòng họ Baxkêrvili. Hắn là con trai của Rôđjiêrơ Baxkêrvili, em út ngài Tsarlizơ. Ông ta phải chạy sang Nam Mỹ, lập gia đình và sau đó sinh được một người con mang họ cha. Chàng trai khá quen thuộc với anh này kết hôn với Beril Garxiô, một trong những mỹ nhân ở Côxta  Rica. Hắn tham ô một khoản tiền của nhà nước, nên sau khi đổi họ thành Vanđêlêrơ, hắn trốn về Anh Quốc nơi không lâu sau đó hắn mở một trường học ở phía đông Irôsirơ. Hắn chọn loại hoạt động này vì hắn biết lợi dụng những trí thức và kinh nghiệm của một giáo viên hắn quen trên đường đi. Thế nhưng người bạn của hắn, Phrêzơrơ, đã lâm vào giai đoạn cuối cùng của bệnh ho lao và chẳng bao lâu đã bị chết. Công việc của nhà trường càng ngày càng sa sút, và sau cùng phải chịu nhiều điều nhục mạ. Hai vợ chồng lại có ý định đổi họ và từ đây bắt đầu mang danh là Xtepltôn. Thời gian sau, với phần dư tài sản của mình, với những dự định mới trong tương lai, và với lòng ham thích môn côn trùng học, Xtepltôn dọn đến ở  miền Nam nước Anh. Tôi đã dò hỏi ở Viện bảo tàng Anh và được biết hắn trở thành người có uy tín được mọi người thừa nhận trong lĩnh vực này. Tên của hắn được dùng để gọi một loài bướm đêm được hắn nghiên cứu khi còn ở Iôsirơ.

Giờ đây, chúng ta đi tới một giai đoạn trong cuộc đời của hắn đã khiến chúng ta rất quan tâm. Con người này hình như tìm hiểu rất cặn kẽ và biết rằng giữa hắn với thái ấp rộng lớn chỉ có hai sinh mệnh tất cả. Lúc dự định chuyển đến Đêvônsirơ, các kế hoạch của hắn có lẽ còn rất mờ mịt. Nhưng rồi ý định độc ác dần dần chín muồi – không phải vô cớ mà bắt đầu từ đây hắn nhận vợ mình là em gái. Ý định lợi dụng cô ta làm con mồi chiếm lĩnh ngay lấy hắn. Mặc dầu có lẽ hắn chưa hình dung được về sau này mọi chuyện sẽ tiến triển ra sao. Đích của hắn là phải nhận được thái ấp. Vì điều đó, hắn đã không e ngại dùng bất cứ phương tiện nào và tiến hành bất kỳ hành động mạo hiểm nào. Để khởi đầu cần chuyển đến ở gần lâu đài Baxkêrvili hơn, và sau đấy sẽ đặt mối quan hệ thân thiết với ngài Tsarlizơ cùng các láng giềng khác.

Chính nam tước đã kể cho hắn nghe truyền thuyết về con chó, và vì vậy ngài đã phải chết. Xtepltôn – tôi sẽ gọi hắn như trước đây, biết rằng tim ông già bị đau, rằng chỉ một chấn động mạnh cũng có thể làm ngài chết. Hắn nghe tất cả điều này từ bác sĩ Môrtimêrơ. Ngoài ra, hắn cũng biết là ngài Tsarlizơ là một người mê tín. Ông đã đem tới cho truyền thuyết hư ảo kia một ý  nghĩa to lớn. Đầu óc linh hoạt của Xtepltôn đã nhanh chóng mách bảo hắn phương kế giết nam tước mà chính hắn lại không hề bị nghi ngờ.

Khi thảo xong kế hoạch hành động, Xtepltôn đã bắt tay vào thực hiện nó với tất cả sự sành sỏi vốn là bản tính của hắn. Một tên giết người tầm thường trong trường hợp này có lẽ chỉ hài lòng với một con chó độc, nhưng ý nghĩ đột xuất thoáng nảy ra trong đầu Xtepltôn khiến hắn tạo ra một con quỷ dữ! Hắn mua con chó này ở chỗ Rôxơ và Mênxơ trên phố Phunkhêmrâuđơ sau khi đã lựa chọn con hung dữ nhất, to lớn nhất trong số những con chó ở đây. Thế rồi, hắn cùng con chó theo con đường phía Bắc trở về Đêvônsirơ. Ở đoạn cuối khá dài hắn cuốc bộ qua khu đầm lầy, mang con chó về nhà mà không bị ai để ý cả. Trong thời gian đi tham quan bắt bướm, hắn phát hiện ra con đường đi sâu vào vùng đầm lầy Grimpenơ, không thể nghĩ ra một nơi nhốt con chó chắc chắn hơn thế. Hắn đã để con chó ở đấy, xích lại và bắt đầu chờ đợi thời cơ thuận lợi.

Thế nhưng chờ đợi lâu mà thời cơ vẫn chưa xuất hiện: không thể lừa ngài Tsarlizơ đi ra ngoài thái ấp vào ban đêm nổi. Xtepltôn nhiều lần mang con chó theo ngồi rình ông già, nhưng đều uổng công vô ích. Rồi vào thời gian đi lang thang thiếu kết quả khắp khu đầm lầy này, hắn, đúng hơn là kẻ đồng mưu với hắn, đã lọt vào mắt của ai đó trong số những điền chủ ở đây. Truyền thuyết về con chó lại có thêm bằng chứng mới. Lúc đó, Xtepltôn đặt tất cả niềm hy vọng của mình vào người vợ. Nhưng lần ấy cô ta đã biểu lộ tính quyết đoán trong tính cách tới mức thật bất ngờ. Cô Xtepltôn đã khăng khăng cự tuyệt việc dùng sức quyến rũ của mình chống lại ông già khi biết rằng điều đó có thể huỷ hoại đời ông. Cả doạ dẫm lẫn đánh đập, thương ôi, vẫn không đem lại kết quả. Cô không muốn tham gia vào âm mưu thâm độc của chồng. Xtepltôn lâm vào tình trạng bế tắc.

Nhưng rồi lối thoát khỏi tình trạng bế tắc này đã được tìm thấy. Ngài Tsarlizơ biểu lộ một tình thân ái đặc biệt đối với Xtepltôn, đã phái hắn đi gặp bà Laura Laiônxơ với tư cách là người môi giới của mình. Nhận xằng là mình chưa có gia đình, hắn hoàn toàn chinh phục được người đàn bà bất hạnh này và làm cho bà ta hiểu rằng hắn sẽ lấy bà làm vợ nếu bà ly dị chồng. Không bao lâu sau, hắn nhận ra là cần phải hành động thật khẩn trương: ngài Tsarlizơ sửa soạn đi Luân Đôn theo yêu cầu khẩn khoản của bác sĩ Môrtimêrơ mà hắn cũng làm ra vẻ tán thành. Không thể chậm trễ, nếu không thế miếng mồi có thể bị mất. Xtepltôn đã ép bà Laiônxơ viết thư cho ngài Tsarlizơ. Trong thư bà ta van nài ông già cho được gặp trước khi ông đi khỏi lâu đài Baxkêrvili. Sau đấy nhờ lý do có vẻ chính đáng hắn khuyên nhủ bà không đi đến cuộc gặp mặt. Thế là thời cơ chờ đợi bấy lâu đã xuất hiện.

Chiều hôm đó, sau khi từ Kumbi-Trêxi trở về, hắn kịp chạy tới chỗ con chó, bôi lên người nó chất phát quang rồi dẫn nó tới nơi ngài Tsarlizơ sẽ phải đến. Con chó bị chủ xúi bẩy nhảy qua cửa hàng giậu lao theo vị nam tước bất hạnh khiến ông vừa la thét vừa chạy bổ trên con đường rợp bóng cây. Ta hình dung cảnh tượng ấy thật là khủng khiếp! Chung quanh là bóng đêm. Rượt theo sau ta trong bóng đêm ấy là một con vật khổng lồ mõm phát sáng còn mắt thì rực lửa. Tim của nam tước không chịu đựng nổi, ông đã ngã xuống tắt thở ngay ở cuối con đường. Con chó phóng theo ông trên vạt đất hẹp nên mặt đường không có dấu vết nào khác ngoài những vết của con người. Sau khi ngài Tsarlizơ ngã, hình như con chó có ngửi nhưng không đụng vào người ông thì đã bỏ chạy. Bác sĩ Môrtimêrơ có nhận ra những dấu vết này. Xtepltôn gọi con chó của mình, vội vàng dắt nó trở lại rồi đi sâu vào vùng đầm lầy Grimpenơ. Căn nguyên của điều bí ẩn đã làm quẫn trí cảnh binh, làm kinh hoàng mọi người sống chung quanh nhưng cuối cùng bị chúng ta phanh phui là như thế.

Đấy là tất cả những gì có liên quan tới cái chết của ngài Tsarlizơ Baxkêrvili. Anh đã hiểu con người ấy thu xếp công việc của mình với sự ranh mãnh quỷ quyệt biết dường nào! Bởi vì không thể vạch mặt chỉ tên kẻ phạm tội được! Kẻ tòng phạm với hắn chỉ có một, vả lại sẽ không bao giờ phát giác hắn. Trong khi đó đặc tính huyền ảo không thể thiếu được của ý đồ này đã hoàn toàn làm rối quá trình điều tra. Hai người đàn bà bị lôi kéo vào vụ án này, cô Xtepltôn và bà Laura Laiônxơ đều nghi ngờ kẻ giết ngài Tsarlizơ là ai. Cô Xtepltôn biết là người chồng đang mưu toan chống lại ông già và còn biết về sự hiện diện của con chó. Bà Laura Laiônxơ không mảy may biết về điều này hoặc điều kia, nhưng cái chết của ngài Tsarlizơ trùng với thời gian cuộc gặp mặt không diễn ra ở cạnh cửa hàng rao – ngoài Xtepltôn ra không một ai biết về cuộc gặp mặt này – đã làm bà kinh ngạc. Tuy nhiên, cả hai người hoàn toàn nằm trong sự thao túng của hắn, hắn có thể không e ngại gì họ. Như vậy, nửa đầu của nhiệm vụ đã thực hiện thành công, còn nửa thứ hai của nhiệm vụ đó thì khó hơn nhiều.

Rất có khả năng ban đầu Xtepltôn không nghĩ tới sự tồn tại của người thừa kế tài sản ở Canađa. Nhưng hắn đã biết ngay về điều đó từ bạn mình, bác sĩ Môrtimêrơ, ông đồng thời là người báo cho hắn biết ngày trở về của Genri Baxkêrvili. Ý nghĩ nảy ra trước tiên trong đầu hắn là liệu có thể thanh toán người đàn ông Canađa trẻ tuổi này ở Luân Đôn trước khi ông ta đến Đêvônsirơ được hay không. Xtepltôn không thuyết phục vợ nữa vì hắn còn nhớ là cô đã cự tuyệt việc lôi cuốn ông già Baxkêrvili vào bẫy của mình. Để cô ở lại một mình lâu như thế, hắn cũng không dám –có thể hoàn toàn làm tổn hại tới uy quyền của hắn trước người vợ. Buộc phải cùng nhau đi Luân Đôn, như sau này tôi được rõ, thì cả hai người nghỉ chân tại khách sạn Mêkxbôrơ trên phố Krêven nơi Kartraitơ có rẽ vào khi đi tìm trang báo “Taimơ” bị cắt rời. Xtêpltôn nhốt vợ trong phòng thuê khách sạn, còn bản thân hắn thì đính bộ râu giả vào mặt, lần theo dấu vết của bác sĩ Môrtimêrơ đến phố Bâykơ, đến sân ga và đến khách sạn Nôrxambêrlênđơ. Cô Xtepltôn hoài nghi về những ý định đang được người chồng tiến hành, nhưng cô sợ hắn – nỗi sợ hãi nảy sinh bởi tính tàn nhẫn của hắn – sợ tới mức không dám viết thư cho ngài Genri báo về mối nguy hiểm đang đe doạ ông ta. Nếu lá thư rơi vào tay Xtepltôn thì ai sẽ là người bảo đảm cho tính mệnh của cô? Cuối cùng, như chúng ta đã biết, cô xử sự một cách khôn ngoan hơn: cắt những chữ cần thiết từ báo ra và viết địa chỉ bằng nét chữ đã thay đổi. Bức thư đến tay nam tước và đã thành điều phòng ngừa đầu tiên đối với ông.

Xtêpltôn cần xoay xở để đoạt bằng được bất kỳ một thứ trang phục nào của ngài Genri cho con chó ngửi trước  khi lần theo dấu vết của ông. Vẫn như mọi khi, hắn hành động khôn khéo và mau lẹ, chúng ta đã không thể hoài nghi là cả tên hầu phòng lẫn người phục vụ ở hành lang đã nhận một món tiền thưởng hào phóng để giúp hắn. Chẳng may là chiếc giày đầu tiên chưa đúng bởi thế nó thành vô ích. Hắn đã trả lại và nhận cái khác thay thế. Từ sự thật này tôi đi đến một kết luận rất quan trọng. Tôi bắt đầu rõ là chúng ta đang có công việc với một con chó thực sự, vì chỉ điều đó mới giải thích được tại sao Xtepltôn lại gắng đoạt chiếc giày cũ. Chi tiết nào ta càng cảm thấy là phi lý là thô thiển thì lại càng đáng được chú ý. Có những điểm thoạt nhìn chỉ làm phức tạp thêm vụ án nhưng lại thường đưa ta tới việc giải đáp nó. Chỉ cần phân tích chúng đến nơi đến chốn, tránh hời hợt qua loa.

Sáng hôm sau, những người bạn tới thăm hiếu hỉ chúng ta. Xtepltôn đã ngồi trên xe mui theo dõi họ từ xa. Phán đoán theo nhiều dấu hiệu và chỉ cần như vậy cũng đủ rõ là hắn biết mặt tôi, biết địa chỉ của tôi và nghề nghiệp của hắn không chỉ giới hạn ở vụ án Baxkêrvili. Tôi hầu như tin vào điều này. Chẳng hạn ba năm trở lại đây ở các tỉnh phía tây xảy ra bốn vụ cướp giật lớn mà không phát hiện ra thủ phạm. Vụ cướp giật sau cùng trong số đó xảy ra ở Phôlkxtôum – Kôrtơ vào tháng ba – đã không trót lọt nếu không có đổ máu. Kẻ cướp trong bộ mặt nạ đã dùng súng lục quật ngã một chú bé theo hầu bất chợt bắt gặp hắn. Tới giờ tôi không còn hoài nghi rằng Xtepltôn đã khôi phục sự nghiệp tài chính bị suy thoái của mình bằng cách như vậy, rằng đã từ lâu hắn là một tên tội phạm nguy hiểm.

Với tài ứng phó và sự táo bạo của hắn, chúng ta có thể tin rằng buổi sáng hôm đó chính hắn đã khéo léo thoát khỏi tay chúng ta rồi sau đó đã mạo danh tôi vì hắn biết rõ thể nào tôi cũng sẽ tìm chiếc xe mui này. Đến lúc đó hắn hiểu là ở Luân Đôn sẽ không tính đến chuyện thành công được vì tôi đã bắt tay vào vụ án này. Hắn lui về Đarimurơ, bắt đầu chờ nam tước đến đấy.

- Hượm đã! – Tôi ngắt lời Hôm – Anh trình bày toàn bộ cả tiến trình của các sự kiện rất chính xác, nhưng còn một điểm tôi chưa được rõ. Điều gì đã xảy ra với con chó khi chủ của nó bỏ đi Luân Đôn?

- Vấn đề rất cơ bản, chính tôi cũng quan tâm. Xtepltôn chắc chắn có người đồng mưu với mình mặc dầu chưa hẳn hắn đã chia sẻ với con người này toàn bộ những dự định của mình. Điều đó chứng tỏ là tất cả đều tuỳ thuộc vào hắn. Anh còn nhớ người phục vụ ở Mêripít-Khaiuxơ, ông già Antônhi không? Ông ta sống ở gia đình Xtepltôn nhiều năm ngay cả khi họ còn cái quản trường phổ thông kia. Tất nhiên ông ta biết họ là vợ chồng. Thế rồi chính ông lão Antônhi này đã biệt tăm vô tính, không con thấy ông ta ở Anh nữa. Anh đồng thời hãy chú ý tới điểm này: cái tên Antônhi rất ít khi gặp ở nước ta trong khi đấy ở Tây Ban Nha và Mỹ Latinh thì mỗi bước đi đều đụng phải cái tên này. Ông già nói tiếng Anh không tồi hơn so với cô Xtepltôn đâu nhưng trọng âm thì lạ lắm. Chính mắt tôi đã trông thấy ông ta đi vào vùng đầm lầy Grimpenơ theo lối mòn Xtepltôn đánh dấu. Cho nên rất có thể khi người chủ vắng mặt, Antônhi đã nuôi con chó, mặc dầu có thể ông ta không ngờ tới là người ta giữ con chó ở đây với mục đích gì.

Thế là vợ chồng Xtepltôn đã quay về Đêvônsirơ và chẳng bao lâu anh cùng ngài Genri đi tới đó. Bây giờ tôi sẽ nói đôi lời về bản thân. Có lẽ anh còn nhớ là khi bóc lá thư chuyển cho ngài Genri ra tôi đã lưu ý xem liệu có dấu hiệu ngầm ở trong đó không. Tôi đem giấy đến gần mắt và phát hiện ra mùi thoang thoảng – mùi nước hoa “bông nhài trắng” bay ra từ đó. Có 73 loại nước hoa mà người thám tử dày dạn cần phải phân biệt. Theo kinh nghiệm của bản thân tôi thì sự điều tra thành công các tội ác nhiều lần đã phụ thuộc vào chính điều này. Nếu có mùi bông nhài, chứng tỏ tác giả của bức thư là đàn bà, và đến lúc này vợ chồng Xtepltôn đã cuốn hút sự chú ý của tôi. Vậy là tôi hiểu quả có con chó tồn tại và đoán ra ai là thủ phạm từ khi chưa đến Đêvônsirơ.

Cần phải theo dõi Xtepltôn. Nhưng nếu tôi theo dõi hắn mà lại ở cùng với anh thì hắn sẽ đề phòng ngay lập tức. Buộc phải lừa dối tất cả mọi người trong đó có anh. Tôi nói là tôi ở lại Luân Đôn nhưng chính tôi lại xuất hiện ngay sau anh. Những thiếu thốn mà tôi đã trải qua hoàn toàn không đến nỗi như anh cảm thấy đâu. Thật ra tôi sống ở Kumbi-Trêxi, còn hang đá ở khu đầm lầy chỉ được dùng đến khi cần phải ở gần nơi hành động hơn. Kartraitơ đến Đêvônsirơ cùng tôi. Khi đi lại khắp nơi với dáng dấp của một chú bé thôn quê, Kartraitơ đã giúp tôi rất nhiều. Ngoài ra, chú còn cung cấp đồ ăn và quần áo sạch cho tôi, theo dõi anh khi tôi bận để mắt tới Xtepltôn. Thế là như anh thấy đó,  tất cả mọi manh mối đã nằm trong tay tôi.

Anh đã biết là các bản phúc trình của anh được mau chóng chuyển từ phố Bâykơ đến Kumbi-Trêxi. Tôi thu nhận được rất nhiều điều từ chúng, đặc biệt là từ bản phúc trình thông báo những sự việc đích thực duy nhất trong tiểu sử của Xtepltôn. Sau chuyện đó, tôi không khó khăn gì trong việc xác định cá nhân họ, và tôi đã hiểu mình đang có công việc với ai. Tuy nhiên, cuộc điều tra đã trở nên phức tạp bởi một điểm phụ – đó là sự vượt ngục của tên tù khổ sai và mối liên hệ giữa hắn với vợ chồng Berimôrơ. Nhưng anh đã gỡ nút này ra mặc dầu chính tôi cũng đã đi tới các kết luận như thế trên cơ sở những quan sát của bản thân.

Tới khi anh tìm thấy tôi trong hang đá trên khu đầm lầy thì bức tranh của tội ác đã trở nên hoàn toàn sáng tỏ. Tuy vậy, đem vụ án này ra toà án hội thẩm vẫn còn quá sớm. Thậm chí vụ mưu hại không thành công của Xtepltôn đối với ngài Genri được kết thúc bằng cái chết của tên tù bất hạnh vẫn không đem lại những bằng chứng trực tiếp. Còn một lối thoát duy nhất: dùng ngài Genri làm con mồi để bắt quả tang được hắn ngay tại nơi gây tội ác. Nam tước phải đi một mình và làm như không được ai bảo vệ cả. Chúng ta đã làm như thế bằng cái giá của sự chấn động nặng nề mà người bạn của chúng ta phải trải qua, và bởi vậy chúng ta không chỉ kết thúc cuộc điều tra mà còn đẩy Xtepltôn đến cái chết. Bắt người khách hàng của mình chịu cơn thử thách như vậy tất nhiên tôi hoàn toàn đáng quở trách trong việc điều khiển kém cỏi công việc của mình. Nhưng ai mà biết trước được cảnh tượng hiện ra trước mắt chúng ta lại sửng sốt và khủng khiếp đến thế! Ai có thể nhìn thấy trước là đêm đó lại có sương mù và con chó từ trong sương mù lao thẳng về phía chúng ta. Chúng ta đã đạt được mục đích của mình bằng một giá quá đắt, nhưng cả hai bác sĩ – chuyên gia bệnh tâm thần và bác sĩ Môrtimêrơ đều cam đoan với tôi rằng không bao nữa ngài Genri sẽ bình phục. Chuyến du lịch sẽ giúp người bạn của chúng ta vừa củng cố hệ thần kinh bị suy yếu vừa điều trị vết thương của con tim. Bởi vì ngài phải chịu nỗi thất vọng vì cô Xtepltôn, người mà ngài đã ấp ủ những tình cảm chân thực và sâu sắc nhường ấy! Chuyện đó hành hạ ngài hơn tất cả.

Bây giờ tôi chỉ còn kể về vai trò của cô ta trong câu chuyện ảm đạm này ra sao. Tôi tin chắc là Xtepltôn hoàn toàn bắt cô tuân phục mình. Điều này giải thích ra sao? Cô ta yêu hắn hay sợ hắn – hay vừa yêu vừa sợ? Bởi các tình cảm này hoàn toàn có thể hoà đồng với nhau. Dẫu sao hắn cũng hành động một cách chắc chắn. Cô Xtepltôn đồng ý nhận mình là em gái của hắn, nhưng cô ta đã khăng khăng cự tuyệt việc trở thành người trực tiếp tòng phạm với kẻ giết người. Hắn buộc phải tin rằng quyền lực của hắn đối với cô ta không phải là vô hạn. Cô đã nhiều lần toan phòng ngừa trước cho ngài Genri về mối nguy hiểm đang đe doạ ông, nhưng cô làm điều đó như vậy để không phải đánh lừa chồng. Xtepltôn hình như có thể ghen tuông. Khi nam tước bắt đầu biểu lộ tình cảm trìu mến đối với người đàn bà mình yêu dấu thì Xtepltôn không kìm hãm nỗi lòng mình được, mặc dù điều này là một bộ phận trong kế hoạch của hắn. Trong cơn giận dư, hắn đã bộc lộ toàn bộ bản tính mà trước đó được che đậy một cách chu đáo. Tuy nhiên hắn vẫn tiếp tục khích lệ sự săn đón của ngài Genri khi cân nhắc là con người đó sẽ là vị khách thường xuyên ở Mêripít-Khaiuxơ và rồi sớm hay muộn cũng rơi vào bẫy của hắn. Nhưng vào giờ phút quyết định nhất thì cô ta đã nổi loạn. Cô đã nghe biết về cái chết của tên tù khổ sai vượt ngục, biết rằng vào tối hôm ngài Genri đến trưa ăn thì người ta đã đưa con chó tới nhà chứa củi ở ngoài sân. Cuộc cãi vã dữ dội xảy ra liền sau đó. Cô Xtepltôn gọi chồng là kẻ giết người và lần đầu tiên cô nghe thấy từ miệng hắn là cô có tình địch. Lòng chung thuỷ trước đây nhường cho lòng căm ghét. Xtepltôn hiểu rằng người vợ sẽ tố giác hắn và thế là hắn trói cô lại để cô không thể báo trước cho ngài Genri. Mọi toán tính của hắn căn cứ trên cơ sở: sau khi biết về cái chết của nam tước, trong địa phận người ta sẽ nhớ tới lời nguyền của dòng họ Baxkêrvili. Thế là hắn sẽ lại đoạt được sự phục tùng của người vợ và sẽ bắt cô im lặng. Xtepltôn đã tính lầm. Số phận của hắn đã được định đoạt không có sự can thiệp của chúng ta. Người đàn  bà có dòng máu Tây Ban Nha chảy trong huyết quản mình sẽ không tha thứ cho tội phản trắc của hắn…

Đấy là tất cả câu chuyện, Oátxơn thân mến ạ. Nếu anh cần bản tường trình chi tiết về vụ án này trong số hàng loạt vụ án đã qua thì tôi sẽ nhờ cậy vào những ghi chép của mình vậy. Nhưng dường như tôi đã không bỏ qua điểm cơ bản nào thì phải.

- Lẽ nào Xtepltôn không hy vọng là ngài Genri cũng chết vì sợ hãi khi trông thấy con ngáo ộp đó?

- Con chó rất hung dữ, thêm vào đó hắn để cho nó bị đói. Nếu ngài Genri không chết ngay tại chỗ thì dù sao tình cảnh khủng khiếp như thế cũng có thể làm tệ liệt sức lực của ông, và rồi ông sẽ không chống trọi lại nổi.

- Đúng vậy, bây giờ chỉ còn lại một câu hỏi. Nếu Xtepltôn chứng minh được quyền sở hữu của mình đối với lâu đài Baxkêrvili, nghĩa là hắn thành công trong việc giải thích rằng hắn là người thừa kế tài sản đã mang danh một cái tên của người khác ở gần thái ấp thì sao? Lẽ nào điều đó không gợi ra những mối ngờ vực?

- Tôi chưa chắc có thể trả lời được câu hỏi này – Anh đã đòi hỏi quá nhiều điều ở tôi đấy. Môi trường hoạt động của tôi là quá khứ và hiện tại. Con người dự định làm gì trong tương lại, điều đó tôi không thể dám chắc được. Theo lời của cô Xtepltôn thì người chồng của cô đã nhiều lần nghĩ về chuyện đó. Hắn có thể tìm thấy ba lối thoát. Một là, rời đến Nam Mỹ thiết lập mối quan hệ với lãnh sự quán Anh ở đó rồi từ đấy yêu cầu nhận tài sản mà không trở về Anh Quốc. Hai là, thực hiện tất cả những điều đó ở Luân Đôn sau khi đã thay đổi mình đến mức không thể nhận ra được. Ba là, dựng lên một người giả mạo là kẻ thừa kế sau khi cung cấp cho người này mọi tài liệu cần thiết với sự thoả thuận một phần thu nhập nhất định nào đó. Nếu nhận xét kỹ Xtepltôn, chúng ta có thể không hoài nghi một trong ba lối thoát có thể được thực hiện.

Còn bây giờ, bạn yêu quý, chúng ta sẽ hướng ý nghĩ tới những gì thoải mái hơn vậy. Mấy tuần lễ lao động cực nhọc như thế cho chúng ta cái quyền được hưởng một tối tự do. Tôi đã thuê một lô opêra rồi. Anh có nghe nói về Rêkơ trong vở “Gugênôxtri” không? Thế đấy, hãy làm ơn sửa soạn trong vòng nửa tiếng đồng hồ thôi. Lúc đó trên đường đi chúng ta rẽ vào Marsinơ rồi sẽ ung dung ăn trưa ở đó.

 

 

Comments