Công việc sau cùng của Hôm

Mang một tâm trạng nặng nề, tôi bắt tay vào viết những  dòng ghi chép cuối cùng thuật lại tài năng phi thường của người bạn tôi, Sơlốc Hôm.

Xin thú thật là tôi muốn lờ đi cái sự kiện đã lưu lại trong đời tôi một khoảng trống mà tôi không thể lấp nó bằng một cách nào được. Mặc dầu từ ngày ấy đến giờ hai năm đã trôi qua. Thế nhưng, những lá thư cuối cùng của viên đại tá Đjêimxơ Môriarti đã buộc tôi phải cầm bút. Ông ta lưu  giữ ký ức về người em đã quá cố của mình trong các lá thư này. Tôi coi việc trình bày trước công chúng tất cả những sự kiện như chúng đã diễn ra trong thực tế là phận sự của mình. Là người được rõ mọi sự thật, tôi rất vui mừng khi đã đến lúc không có nguyên cớ nào che đậy nổi sự thật đó.

Theo chỗ tôi biết thì chỉ có ba thông tin được lọt vào báo chí: tin ngắn trên “Tập san Zejênhép” (1) vào ngày 6 tháng 5 năm 1891, điện tín của Hãng thông tấn Pâytơr (2) vào ngày 7 tháng 5, cuối cùng và nhiều hơn cả là các bức thư được nhắc đến. Lá thư thứ nhất và thứ  hai sơ lược hết chỗ nói, còn lá thư cuối cùng như bây giờ tôi sẽ chứng minh thì lại bóp méo sự thật đích thực. Trách nhiệm của tôi là báo cho mọi người khắp nơi biết rõ về chuyện gì đã xảy ra giữa giáo sư Môriarti và ngài Sơlốc Hôm.

Có lẽ bạn đọc còn nhớ, ngay sau khi tôi lập gia đình, mối quan hệ rất gần gũi vốn tồn tại giữa tôi với Hôm đã có ít nhiều thay đổi. Tôi bận bịu với công việc y học riêng của mình. Còn anh thì thỉnh thoảng vẫn tiếp tục ghé lại chỗ tôi khi cần người cộng sự cho các cuộc điều tra của bản thân. Tuy nhiên việc đó xảy ra càng ngày càng ít đi. Năm 1890, tôi chỉ viết được ba bản phúc trình về các chuyện trinh thám của anh.

 Khoảng cuối năm 1890 đầu 1891 báo chí loan báo Hôm được chính phủ Pháp mời giúp một việc cực kỳ quan trọng. Qua hai lá thư của anh gửi cho tôi từ Narbôn và Nhimơ, tôi đi đến kết luận: chắc có lẽ việc lưu lại ở Pháp của anh sẽ kéo dài khá lâu. Vì vậy tôi có phần ngạc nhiên khi thấy anh bất ngời xuất hiện ở phòng tôi vào chiều 24 tháng tư. Đập vào mắt tôi là cái vẻ xanh xao, gầy gò hơn mọi khi của anh.

- Đúng, tôi đã làm hao kiệt sức lực của tôi hết mức… – Anh nói để đáp lại cái nhìn của tôi - Vào thời gian gần đây tôi có hơi chật vật… Tôi đóng kín cửa sổ vào nhé?

Căn phòng chỉ soi sáng bằng ngọn đèn bàn tôi thường đọc dưới ánh sáng của nó. Anh thận trọng đi dọc các bức tường trong nhà, đóng mạnh cửa và kỹ lưỡng cài then chặt lại.

- Anh lo ngại điều gì phải không? - Tôi hỏi.

- Đúng, tôi sợ.

- Sợ cái gì?

- Súng hơi.

- Hôm thân mến của tôi, anh muốn nói tới chuyện gì vậy?

- Oát xơn ạ, tôi cảm thấy anh hiểu quá đầy đủ tôi rồi! Anh biết đấy, tôi không phải là kẻ nhát gan. Tuy vậy, coi thường mối nguy hiểm đe dọa bạn mình – đó là xuẩn ngốc hơn là can đảm. Đưa cho tôi bao diêm nào!

Anh bắt đầu hút thuốc và dường như chỉ khói thuốc là có ảnh hưởng tốt tới anh.

- Thứ nhất, tôi cần nhờ chuyến viếng thăm của mình để cáo lỗi anh  - Anh nói – Ngoài ra, tôi buộc phải yêu cầu anh cho phép thực hiện một hành vi khiếm nhã thứ hai là trèo qua bức tường sau của khu vườn nhà anh,vì tôi có ý định ra khỏi nhà bằng chính con đường này.

- Nhưng tất cả chuyện ấy nghĩa là thế nào? – Tôi hỏi.

Anh chìa bàn tay lại gần ngọn đèn. Tôi nhận ra các khớp xương ở hai ngón tay anh có nhiều vệt xước đầm đìa máu.

- Anh thấy đó, đây không hẳn là những  trò nhảm nhí - Anh vừa cười vừa nói – Như thế này có thể mất toàn bộ cánh tay như bỡn. Mà bà Oátxơn đâu? Có ở nhà không?

- Không. Nhà tôi đi thăm người quen.

- À, nghĩa là chỉ độc mình anh ở nhà?

- Hoàn toàn chỉ một mình.

- Nếu vậy tôi sẽ dễ dàng hơn khi có ý mời anh cùng đi ra nước ngoài trong vòng một tuần lễ.

- Tới đâu chứ?

- Tới đâu cũng được. Với tôi đến đâu cũng đều có ý nghĩa hoàn toàn như nhau.

Tất cả chuyện này hiện ra trước mắt tôi như không thể có gì lạ lùng hơn thế. Hôm không có thói quen tiêu xài thời giờ một cách vô ích, và một cái gì đó phảng phắt trên khuôn mặt xanh xao của anh như đang nói về sự căng thẳng dễ xúc động đến tột độ trong            anh. Nhận ra nỗi băn khoăn trong cái nhìn của tôi. Anh chống khuỷ tay lên gối, khép chặt năm đầu ngón tay lại và bắt đầu giải thích cho tôi hiểu tình hình công việc.

- Tôi nghĩ anh không nghe biết gì về giáo sư Môriarti chứ? – Anh hỏi.

- Không.

- Thật tài tình và không thể hiểu nổi. Con người lường gạt cả Luân Đôn bằng cạn bẫy của mình vậy mà không một ai nghe biết gì về hắn cả. Có một điều nào đấy đã nâng hắn lên độ cao không với tới được trong giới tội phạm hình sự. Oátxơn, anh hãy tin là nếu tôi chiến thắng được con người này, nếu tôi giúp xã hội thoát khỏi tay hắn thì đấy sẽ là đỉnh cao trong sự nghiệp của tôi. Tôi coi nghề nghiệp của tôi đã bắt đầu được kết thúc và tôi đã chuẩn bị chuyển sang những công việc bình yên hơn. Oátxơn, nói riêng với anh là có hai công việc cuối cùng đã cho tôi khả năng giúp gia đình quốc vương Xcăngđinavơ và nước Cộng hoà Pháp. Các công việc này đã trao cho tôi những phương tiện để điều hành nếp sống sao cho phù hợp với các thiên hướng của tôi và để làm chỉ hoàn toàn là những  thí nghiệm trong lĩnh vực hoá học. Thế nhưng, tôi chưa thể nghỉ ngơi, chưa thể yên tâm ngồi trên ghế bành của mình được chừng nào con người này, cái tên giáo sư Môriarti ấy, còn đi dạo thoải mái trên khắp phố phường Luân Đôn.

- Hắn ta làm gì vậy?

- Ồ, hắn có một cái lai lịch không bình thường! Hắn xuất thân từ một gia đình tốt và đã nhận được sự giáo dục thật tuyệt vời. Trời phú cho hắn những khả năng toán học phi thường. Khi tròn hai mươi mốt tuổi, hắn đã viết một luận văn về nhị thức Niutơn (3),    khiến tác giả của nó nổi tiếng khắp Châu Âu. Sau đấy, hắn nhận giảng dạy môn toán ở một trong những  trường đại học tổng hợp khu vực chúng ta. Chắc có lẽ một tương lại sán lạn đang chờ đợi hắn. Song hắn có một thiên hướng di truyền hung dữ và bất nhân. Máu của kẻ phạm tội chảy trong dĩ vãng của hắn. Sự tàn bạo trở thành nguy hiểm hơn do trí tuệ khác thường của hắn. Tin đồn đại xấu xa về hắn đã truyền đến trường đại học nơi hắn đang giảng dạy. Cuối cùng, hắn buộc phải ngừng dạy và rời tới Luân Đôn. Ở đây, hắn bắt đầu luyện cho một số thanh niên thi vào bậc sĩ quan. Đấy là những sự thật chung về hắn. Còn bây giờ   anh sẽ nghe xem tôi đã tự mình tìm hiểu cặn kẽ về hắn ra sao nhé!

Oátxơn  ạ, như anh biết đấy, không một ai nắm thế giới những kẻ phạm tội hình sự ở Luân Đôn rõ hơn tôi. Vào thời gian gần đây tôi bắt đầu cảm thấy là trong thế giới ấy có một thế lực tồn tại ngay sau lưng mà tôi chưa được rõ. Lực lượng mạnh mẽ có tổ chức này hoạt động trái quy luật dưới sự che chở của những kẻ cho mượn danh. Nhiều lần, trong những trường hợp đa dạng nhất, cướp giật, giết người hình như là gian trá, tôi cảm thấy sự hiện diện của lực lượng đó. Bằng con đường suy đoán tôi đã tìm ra những  dấu vết của nó, thậm chí ngay trong lúc tội ác còn chưa được phơi bày khi mà tôi không tiến hành điều tra một cách trực tiếp. Vào những năm trở lại đây tôi cố gắng chọc thủng bức màn che phủ nó. Rồi thời gian đã trôi đi, giờ đây tôi đã tìm ra khâu cuối cùng của mạng lưới sau hàng nghìn mánh lới và tôi bắt đầu gỡ nút ra. Khâu cuối cùng và cái nút ấy chính là cựu giáo sư Môriarti – nguyên là một nhà bác học lừng danh.

Hắn là Napôlêông của thế giới tội ác Oátxơn  ạ! Hắn là người tổ chức một nửa tất cả tội ác và gần như toàn bộ tội ác chưa được phanh phui ở thành phố này. Đấy là một tài năng, một nhà triết học, một con người biết tư duy trừu tượng. Hắn có trí tuệ hạng nhất. Hắn ngồi bất động cứ như là con nhện trong trung tâm mạng nhện của mình. Nhưng mạng nhện có hàng nghìn mạng lưới và hắn có thể thu được sự chấn động của từng mạng lưới trong đó. Chính hắn lại ít khi hoạt động. Hắn chỉ thảo ra kế hoạch. Thế nhưng điệp viên của hắn đông đúc và được tổ chức một cách tuyệt vời. Nếu một ai cần đánh cắp tài liệu, cướp giật hoặc giết người thi chỉ cần báo cho tên giáo sư, tội ác sẽ được chuẩn bị và sau đó sẽ        được tiến hành. Có thể tìm kiếm điệp viên. Trong trường hợp đó số tiền thu được luôn để bảo lãnh cho tên điệp viên và để mời kẻ bảo vệ. Có điều, tên chỉ huy chính cắt cử điệp viên này không bao giờ lộ mặt ra – hắn ở bên ngoài mọi sự hoài nghi. Một tổ chức như thế, Oát xơn ạ, tôi đã xác định sự tồn tại của nó bằng con đường lôgíc, và tôi đã hiểu toàn bộ sức lực của mình để phát hiện ra và tiêu diệt nó. Nhưng tên giáo sư khéo léo được ngụy trang và khéo được bảo vệ đến mức mặc dầu tôi đã rất cố gắng vẫn không có khả năng đưa ra     những bằng chứng đủ để kết tội hắn. Anh biết đấy, Oátxơn thân mến ạ, tôi có khả năng làm việc đó, và chỉ sau ba tháng tôi buộc lòng phải thú nhận rằng, tôi đã đối diện với kẻ thù có giá của mình. Nỗi khủng khiếp mà những tội ác của hắn đe doạ tôi hầu như phải nhường chỗ cho sự thán phục trước tài nghệ của hắn. Thế nhưng, cuối cùng hắn bị một sơ xuất nhỏ, hoàn toàn nhỏ thôi, song lẽ ra hắn không thể cho phép mình sơ xuất  như vậy, bởi tôi luôn bám riết  hắn. Tất nhiên, tôi lợi dụng sơ xuất này, và sau khi nắm lấy điểm khởi đầu của nó, tôi bắt  đầu kết lưới quanh Môriarti. Bây giờ tấm lưới hầu như đã được chuẩn bị xong. Chỉ sau ba ngày nữa, nghĩa là thứ hai tuần tới, mọi chuyện sẽ được kết thúc – Tên giáo sư cùng những  thành viên chính của đồng bọn hắn sẽ sa vào tay toà án. Và sau đó, vụ án hình sự lớn nhất thế kỷ chúng ta sẽ  được bắt đầu. Bí mật của hơn bốn mươi tội ác mập mờ sẽ được        làm sáng tỏ, và những kẻ phạm tội sẽ bị trừng phạt? Có điều  chỉ cần vội vàng đi một bước thiếu chính xác là chúng có thể  sẽ tuột khỏi tay chúng ta thậm chí chính vào thời điểm gần kết thúc nhất.

Tất cả sẽ êm đẹp nếu tôi có thể hành động làm sao cho tên giáo sư Môriarti không hay biết về điều đó. Nhưng hắn rất quỷ quyệt. Mỗi phương pháp được tôi thực hiện để lừa hắn vào lưới của mình hắn đã biết và lập tức dừng lại. Nhiều lần hắn toan vùng chạy khỏi mạng lưới tôi giăng ra, và mỗi lần  như thế, tôi lại chặn đường của hắn. Của đáng tội, bạn của  tôi ạ, nếu như sự mô tả chi tiết cuộc đấu tranh thầm lặng này có thể được xuất bản thì nó sẽ chiếm một chỗ đứng riêng của mình trong số những  cuốn sách xúc động và tuyệt diệu nhất của lịch sử truyện trinh thám. Chưa bao giờ tôi nâng mình đến độ cao như thế! Cũng chưa bao giờ tôi chật vật bởi hành động của kẻ thù đến thế! Quả đấm của hắn giáng xuống rất mạnh, nhưng tôi chống đỡ lại còn mạnh hơn. Vào buổi sáng hôm nay tôi đã thực hiện xong  những  bước cuối cùng. Tôi cần ba ngày, chỉ ba ngày để hoàn thành công việc. Tôi đang ngồi trong phòng cân nhắc lại tất cả thì đột nhiên cánh cửa hé mở. Tên giáo sư Môriarti đã đứng trước mặt tôi.

Thần kinh của tôi rất vững, Oátxơn ạ, nhưng phải thú nhận là tôi không thể không rùng mình khi trông thấy trước mặt con người đã chiếm lĩnh tất cả suy nghĩ của tôi. Vẻ ngoài của hắn vẫn như trước đây, rất quen thuộc với tôi. Trán hắn trắng, rộng và dô ra phía trước. Đôi mắt sâu hoắm… Bộ mặt hắn được cạo nhẵn nhụi, xanh xao và khổ hạnh – Có một cái gì đấy rất Môriarti lưu lại trong gương mặt ấy. Vai hắn gù – kết quả của việc thường xuyên ngồi lỳ ở bàn làm vịêc trong nhiều ngày. Đầu hắn dướn về phía trước, chậm chạp, lắc lư từ phía này sang phía khác. Đôi mắt sắc nhọn của hắn cắm phập vào tôi.

- Xương trán ở ông được phát triển không như tôi chờ đợi -  Cuối cùng hắn nói – Đấy là một thói quen nguy hiểm, ông Hôm ạ! Hãy cầm lấy súng ngắn đã được nạp đạn sẵn trong túi của mình ra!

Thực tình, khi hắn bước vào nhà, tôi đã hiểu ngay mối nguy hiểm lớn ra sao đang đe doạ mình. Bởi lẽ khả năng thoát chết duy nhất đối với hắn là buộc lưỡi tôi vĩnh viễn câm lặng. Cho nên, tôi mau lẹ chuyển khẩu súng ngắn từ ngăn bàn vào túi quần, và vào lúc đó tôi nắm khẩu súng qua lớp vải. Sau lời khiển trách nhẹ nhàng của hắn, tôi rút khẩu súng ngắn từ túi ra, lên đạn và đặt trước mặt mình, Môriarti tiếp tục mỉm cười và nheo nheo đôi mắt, song có một cái gì đấy phản chiếu trong mắt hắn buộc tôi yên tâm khi được ngồi kề bên vũ khí của mình.

- Ông rõ ràng không biết tôi? – Hắn nói.

- Ngược lại – Tôi phản đối – Tôi cảm thấy ông không khó khăn gì mà hiểu rằng tôi biết ông. Hãy thề đi !Nếu ông cần nói với tôi một điều gì thì tôi có thể dành cho ông năm phút.

- Tất cả những  gì tôi muốn nói với ông, ông đã đoán được rồi! – Hắn trả lời.

- Trong trường hợp như thế có lẽ ông đã đoán được câu trả lời của tôi.

- Ông tin chắc như thế chứ?

Hắn đút tay vào túi quần, tôi lập tức cầm lấy khẩu súng trên bàn. Nhưng vật hắn rút ra chỉ là một cuốn sổ tay ghi nguệch ngoạc những  ngày tháng gì đó.

- Ông án ngữ đường đi của tôi ngày 4 tháng giêng – Hắn nói – Ngày 23 ông lại gây lo ngại cho tôi. Vào giữa tháng hai, ông quấy nhiễu tôi rất nghiêm trọng. Cuối tháng ba ông phá vỡ hoàn toàn kế hoạch của tôi. Bây giờ, do sự theo dõi không dứt của ông, tôi đã lâm vào tình thế mà sự mất tự do đang thành hiện thực ngay trước mắt tôi. Không thể tiếp tục như thế được!

- Ông có đề nghị gì? - Tôi hỏi.

- Hãy vứt bỏ công việc ấy đi, ông Hôm ạ! – Hắn vừa nói vừa lắc đầu – Quả thật, hãy vứt bỏ nó đi!

- Sau ngày thứ hai! – Tôi trả lời.

- Đủ rồi! Ông Hôm! Ông rất khôn ngoan. Rồi cuối cùng thế nào ông cũng lùng được tôi. Ông cần thoái thác đi. Chính ông đã dẫn dắt công việc đến chỗ không có một kết cục nào khác thế. Tôi đã trải qua nỗi khoan khoái trí tuệ khi dõi theo phương pháp đấu tranh của ông. Hãy tin rằng tôi sẽ rất đau lòng nếu ông buộc tôi phải dùng đến những biện pháp cực kỳ khắc nghiệt… Ông mỉm cười, thưa ông, nhưng tôi xin cam đoan với ông là tôi nói rất thành thực.

- Hiểm nguy – đó là người bạn đường tất yếu của nghề nghiệp tôi – Tôi lưu ý.

- Đây không phải là nỗi hiểm nguy mà là sự huỷ diệt không tránh khỏi – Hắn bác lại – Ông đã cản  bước không phải một người mà là một tổ chức khổng lồ. Đến nỗi, bằng tất cả trí tuệ của mình ông vẫn không thể nhận thức nổi toàn bộ sức mạnh của tổ chức này đâu. Ông cần rút lui, ông Hôm, hoặc là ông sẽ bị xéo nát.

Tôi đứng dậy và nói:

- Tôi e rằng do câu chuyện thú vị giữa chúng ta, tôi không thể bỏ lỡ một việc quan trọng đang mời tôi đến một nơi khác.

Hắn cũng đứng dậy, im lặng nhìn tôi, rồi lắc đầu buồn bã:

- Thôi được! – Cuối cùng hắn nói – Thật đáng tiếc! Nhưng tôi đã làm tất cả những gì tôi có thể làm được. Tôi biết từng nước đi trong trò chơi của ông. Trước ngày thứ hai, ông sẽ bị kiệt sức. Đó là cuộc đọ sức sống mái giữa chúng ta, ông Hôm ạ! Ông hy vọng đặt tôi vào ghế bị can – Tôi nói để ông rõ, sẽ không bao giờ có chuyện đó đâu. Ông hy vọng chiến thắng tôi  – Tôi tuyên bố rằng, ông sẽ không khi nào đạt  được đâu. Nếu ông đủ khả năng tiêu diệt tôi thì tôi cam đoan là chính ông cũng sẽ bị tiêu diệt cùng với tôi.

- Ông tán dương tôi nhiều quá đấy, ông Môriarti ạ! Tôi có thể trả lời ông thế nào bây  giờ? Và do vậy tôi sẽ nói: vì lợi ích của xã hội tôi sung sướng chấp nhận điều thứ hai bởi tôi tin vào điều thứ nhất.

- Tôi không thể hy vọng vào điều đầu tiên mặc dù tôi sẵn lòng hy vọng điều thứ hai.

Sau khi quay cái lưng gù về phía tôi, hắn ngoái cổ lại, nheo mắt và bước ra.

Cuộc gặp gỡ độc nhất vô nhị của tôi với tên giáo sư Môriarti diễn ra như thế đấy. Thật lòng mà nói, nó đã để lại trong tôi một cảm giác thật khó chịu. Phong cách thể hiện chính xác mà tế nhị của hắn buộc tôi phải tin vào lòng chân thực hiếm thấy vốn không thể có ở những tên tôi phạm tầm thường. Đấy không phải là kẻ huênh hoang rỗng tuếch. Hẳn anh sẽ nói với tôi: “Tại sao không nhờ cậy tới cảnh binh?” – Bởi lẽ quả đấm sẽ không do hắn mà do bọn tay chân của hắn thực hiện. Tôi tin như vậy. Tôi đã có nhiều bằng cớ.

- Cuộc tiến công vào anh đã được xúc tiến rồi chăng?

- Oátxơn yêu quý ạ! Tên giáo sư Môriarti không thuộc trong số những người ưa cất công việc vào tủ kín để lâu ngày đâu. Sau khi hắn đi khỏi, khoảng gần mười hai giờ, tôi có việc phải đi đến phố Okxphôrđơ. Lúc đi qua góc đường phố Bêntincơ và phố Uenbêcơ,     tôi nhận ra một chiếc xe song mã có mui lao thẳng vào tôi với một tốc độ kinh hoàng. Tôi chật vật tránh nhanh vào hè phố. Chỉ một tích tắc thôi là tôi đã bị nghiến nát rồi. Chiếc xe rẽ vào góc phố và nhanh chóng biến mất. Bấy giờ tôi quyết định không rời khỏi hè phố nữa. Thế nhưng đến phố Virơ đột nhiên có một viên gạch từ mái một ngôi nhà rớt xuống tan thành những mảnh nhỏ ngay cạnh chân mình. Tôi đi gọi cảnh binh đồng thời xem xét kỹ lưỡng nơi xảy ra sự cố. Những viên gạch và phiến ngói được đặt trên mái nhà chuẩn bị tu sửa. Người ta muốn tôi tin là viên gạch đã rớt xuống là do gió thổi. Dĩ nhiên tôi hiểu rõ sự thể ra sao, nhưng không có bằng chứng cụ thể. Tôi nhảy lên xe có mui và đi đến căn hộ của người em tôi ở Penmêlơ. Cả ngày tôi ở lại đấy. Và từ đó tôi đến thẳng chỗ anh… Trên đường đi, một thằng vô lại nào đấy đã tấn công tôi bằng dùi cui. Tôi đánh hắn khụy ngã và cảnh binh đã bắt hắn. Nhưng tôi dám nói với anh là sẽ không một ai phát hiện ra mối liên hệ giữa tên lưu manh bị tôi đánh gãy tay ngày hôm nay với người thầy giáo toán học hiện đang giải những bài toán cách đây mười dặm đường. Bây giờ chắc anh đoán được tại sao khi tôi đến chỗ anh trước tiên tôi phải cài then cửa lại, rồi sau đó yêu cầu anh cho phép đi ra khỏi nhà không qua cửa chính mà bằng một lối ra khác ít bị chú ý hơn.

Đã nhiều lần tôi ca tụng lòng can đảm của người bạn tôi, tuy nhiên sự liệt kê điềm tĩnh của anh về những sự cố xảy ra không chút vô tình vào cái ngày khủng khiếp ấy đã khiến tôi đặc biệt sửng sốt.

- Tôi mong rằng hôm nay anh sẽ nghỉ lại chỗ tôi? – Tôi hỏi.

- Không, bạn yêu  quý của tôi ạ, tôi có thể là một vị khách nguy hiểm. Tôi đã nghĩ  kỹ về kế hoạch hành động của mình. Rồi mọi chuyện sẽ được kết thúc tốt đẹp thôi! Bây giờ công việc đã bước sang giai đoạn mà sự bắt giữ hắn có thể được tiến hành mà không cần sự có mặt của tôi vào thời điểm kết thúc. Tóm lại, trong vài ngày còn lại trước khi cảnh binh có hành động quyết định, tốt hơn cả đối với tôi là tôi nên rời khỏi Luân Đôn. Tôi sẽ rất vui nếu anh có thể đi ra nước ngoài cùng tôi.

- Hiện giờ tôi không nhiều bệnh nhân – Tôi nói – Mà người đồng nghiệp sống ở cạnh đây chắc sẽ sẵn sàng đồng ý thay thế tôi. Vậy là tôi sẽ vui lòng cùng đi với anh.

- Có thể khởi hành ngay sáng mai được không?

- Được. Nếu anh thấy cần thiết.

- Ồ! Hoàn toàn cần thiết. Bây giờ hãy nghe những  chỉ dẫn của tôi và yêu cầu anh phải tuân thủ thật nghiêm chỉnh. Bởi vì chúng ta cần phải đấu tranh chống lại một tên bịp bợm tài năng nhất, một liên minh những tên tội phạm mạnh mẽ nhất Châu Âu. Vậy đó, hãy nghe đây! Hành lý của bản thân anh đừng đưa đến ga quy định mà cần nhờ một người tin cậy chuyển đến sân ga Victoria. Buổi sáng anh phái gia nhân đi mời xe có mui, nhưng nói người ấy đừng mời cỗ xe thứ nhất và thứ hai - Anh sẽ bị tóm nếu gặp những cỗ xe này. Anh ngồi vào xe Xtrênđơ tới hành lang bán hàng Lâuxerxki.Trong khi đó anh đưa địa chỉ cho người xà ích trên một mảnh giấy và nói rằng trong bất kỳ trường hợp nào cũng đừng quẳng địa chỉ đi. Anh nhớ trả tiền cho người xà ích sớm hơn. Đúng lúc xe dừng lại, anh mau chóng lách tới hành lang bán hàng với tính toán sao cho ở vào ngõ khác của nó vừa đúng 4 giờ 15 phút. Ở đó, ngay cạnh lề đường, anh sẽ trông thấy chiếc xe ngựa không lớn lắm. Điều khiển xe là một người vận áo khoác màu đen cổ viền đỏ. Anh sẽ ngồi vào chiếc xe này đi đến nhà ga vừa vặn thời gian bước vào tàu tốc hành xuất phát ra nước ngoài.

- Tôi cần gặp anh ở đâu?

- Trên sân ga. Người ta sẽ dành cho chúng ta phòng thứ hai của vé hạng nhất.

- Nghĩa là chúng ta sẽ gặp nhau trong toa tàu?

- Đúng vậy!

Tôi hoài công khẩn khoản vật nài Hôm lưu lại nghỉ đêm ở chỗ tôi. Tôi hiểu là anh e ngại gây ra nỗi phiền hà đến ngôi nhà cho anh nương náu. Đó là nguyên do duy nhất xua anh ra khỏi nhà tôi. Sau khi vội vàng chỉ dẫn tôi theo kế hoạch vào ngày hôm sau, anh đứng dậy ra vườn cùng với tôi. Thế rồi anh luồn qua bức tường chạy thẳng tới phố Môrimêrơ, dùng còi gọi xe. Tôi nghe rõ tiếng bánh xe lạch cạch xa dần.

Sáng hôm sau, tôi thực hiện chính xác những chỉ dẫn của Hôm. Xe có mui đã được thuê với tất cả sự đề phòng cần thiết – nó không thể sa vào một cạm bẫy nào cả. Ngay sau bữa điểm tâm, tôi đi đến nơi hẹn. Tới hành lang bán hàng Lâuxerxki, tôi lao vun vút qua với tốc độ có thể có. Tôi nhận ra cỗ xe ngựa chờ tôi như dự định. Lập tức tôi ngồi vào xe. Xà ích là một người có vóc dáng to lớn, chiếc áo khoác thẫm phủ kín người. Ông ta quất ngựa mau chóng đưa tôi đến nhà ga Victoria. Tôi vừa bước xuống xe, ông ta đã quay xe lại, lao nhanh như trước, đến nỗi không ngoảnh lại nhìn về phía tôi.

Tất cả diễn ra thật tốt đẹp. Hành lý của tôi đang chờ trong nhà ga. Tôi dễ dàng tìm ra cupê mà Hôm đã chỉ dẫn, mặc dầu đó là cupê duy nhất có dòng chữ “bận”. Bây giờ chỉ có một điều khiến tôi lo ngại: chỉ còn 7 phút nữa là tàu sẽ khởi hành. Tôi hớt hải tìm kiếm bóng dáng xương xương của người bạn tôi trong đám đông những người ra đi và người đưa tiễn. Vô ích. Không có anh. Tôi mất vài phút vì phải giúp một vị linh mục Thiên chúa giáo người Italia đáng kính khi ông cố gắng bằng vốn liếng tiếng Anh ít ỏi của mình giải thích cho người phu khuân vác hiểu rằng hành lý của ông cần chuyển đến Pari. Sau đó, tôi lại đi vòng quanh sân ga, rồi quay trở lại cupê của mình. Tôi chợt gặp một cụ già người Italia xa   lạ trong cupê. Hoá ra, mặc dầu ông không có vé trong cupê này, phu khuân vác vẫn mời ông ta ngồi vào chỗ tôi. Việc giải thích cho người bạn đường không mời mà đến này hiểu rằng sự đột nhập của anh khiến cho tôi khó chịu quả vô ích vì ông ta sử dụng tiếng Italia còn kém hơn tiếng Anh. Cho nên tôi chỉ nhún vai và tiếp tục nhìn ra ngoài cửa sổ lo ngại chờ đợi bạn mình. Nỗi khiếp sợ bắt đầu xâm chiếm lấy tôi. Sự vắng mặt đột ngột của anh chứng tỏ là đã có một nỗi bất hạnh nào đấy xảy ra với anh vào đêm qua! Tất cả cửa ra vào đã được đóng lại, tiếng còi tàu đã văng vẳng vang lên, thì đột nhiên…

- Oátxơn thân mến! Anh không hạ cố chào tôi lấy một tiếng sao? - Giọng nói của một ai đó vang lên bên cạnh tôi.

Tôi ngoảnh lại, sửng sốt. Vị linh mục luống tuổi giờ đã đứng ngay trước mặt tôi. Trong giây lát, những  nếp khăn biến mất, mũi dịch xuống cằm, môi dưới thôi động đậy về phía trứơc. Mồm ông nói phều phào, đôi mắt ông lờ đờ ánh lên tia lửa như trước, nhưng cái lưng còng còng của ông thì giờ ưỡn thẳng trở lại. Tất cả những điều đó diễn ra trong nháy mắt. Thế rồi Hôm lại biến nhanh như anh vừa xuất hiện.

- Lạy chúa nhân từ! – Tôi kêu lên - Anh làm tôi hoảng hồn lên đây này!

- Chúng ta vẫn còn cần giữ thận trọng đến mức tuyệt đối – Anh thầm thì –Tôi có những  cơ sở để cho rằng chúng đang lần theo dấu vết của chúng ta. Mà lại là chính Môriarti đấy!

Con tàu lắc lư đồng thời với những  tiếng nói ấy của Hôm. Ngoái đầu ra ngoài nhìn lại phía sau, tôi trông thấy một người cao cao đang dữ tợn xô đẩy đám đông vây quanh như muốn chặn con tàu lại. Tuy nhiên, muộn mất rồi – Tốc độ chuyển động của con tàu đã tăng lên, sân ga lùi lại rất nhanh về phía sau.

- Đó, anh thấy rồi đấy! – Hôm cười nói – Nhờ tất cả sự phòng ngừa trước, chúng ta đã vất vả thoát khỏi những người ấy.

Anh đứng lên, cởi áo choàng đen và mũ – những  thứ dùng cho vũ hội hoá trang của anh, và cất vào xắc du lịch.

- Anh đã đọc các báo buổi sáng chưa, Oátxơn?

- Chưa.

- Nghĩa là anh còn chưa biết về những gì đã xảy ra ở phố Bâycơ?

- Ở phố Bâycơ?

- Đêm qua, chúng đột nhập vào căn hộ của chúng ta, nhưng đã không gây thiệt hại gì đáng kể.

- Thật vậy sao Hôm? Điều đó thật không chịu nổi!

- Rõ ràng sau khi tên điệp viên với chiếc dùi cui trong tay bị bắt, chúng đã hoàn toàn để mất dấu vết của tôi. Nói một cách khác, chúng không thể tưởng tượng nổi là tôi lại trở về nhà. Nhưng sau đó, như đã rõ, chúng bắt đầu theo dõi anh – chính điều này đã đẩy Môriarti đến nhà ga Victoria. Anh đã không sơ sót điều gì trên đường tới nhà ga sao?

- Tôi đã thực hiện chính xác mọi điều chỉ dẫn của anh.

- Anh nhận ra cỗ xe ngựa ở chỗ nào?

- Nó chờ tôi.

- Anh có biết người đánh xe ngựa không?

- Không .

- Đấy là em tôi, Maikrốptơ. Trong những  công việc như thế, tốt hơn cả là đừng bộc bạch những  điều bí mật của mình cho người làm thuê. Thế đấy! Còn bây giờ chúng ta cần nghĩ xem nên đối phó như thế nào với Môriarti…

- Chúng ta đi bằng tàu tốc hành mà tàu thuỷ ở đây lại rời bến sau khi chuyến tàu của chúng ta đến nơi, cho nên tôi cảm thấy là hắn không có khả năng đuổi kịp chúng ta được.

- Oátxơn  thân mến! Thế  mà tôi lại muốn nói với anh rằng khi bàn về trí tuệ, cần tiếp cận với con người đó phải đúng bằng kích thước tiếp cận với tôi. Chẳng lẽ anh lại nghĩ rằng nếu tôi ở vào cương vị của kẻ đang lùng bắt thì một vật cản bé xíu như thế lại có thể ngăn trở được tôi hay sao? Còn nếu không phải như thế thì vì lẽ gì anh lại đánh giá hắn thấp thế?

- Nhưng, hắn có thể làm được gì nào?

- Hắn có thể làm được cái tôi đã làm.

- Vậy thì hãy nói cho tôi rõ, anh đã chuẩn bị đối phó như thế  nào?

- Tôi đã đặt tiền cho tàu tốc hành từ trước.

- Nhưng thế nào tàu cũng sẽ đến muộn.

- Không bao giờ. Chuyến tàu của chúng ta sẽ dừng lại ở Kentêrbêrơ. Và ở đó, nó luôn luôn chờ tàu thuỷ ít ra cũng phải 15 phút. Thế là ở một nơi nào đấy, hắn sẽ đuổi kịp chúng ta.

- Có thể cho rằng chúng ta là kẻ phạm tội mà không phải là hắn sao? Hãy ra lệnh bắt hắn đúng lúc hắn đến!

- Điều này sẽ phá vỡ những thành quả của ba tháng trời ròng rã. Chúng ta chụp được con cá lớn còn đàn cá con thì rời khỏi lưới bơi đến những hướng khác nhau. Vào thứ hai này tất cả bọn chúng sẽ sa vào tàu chúng ta. Không, bây giờ mà bắt hắn là một sái sót không thể dung thứ được.

- Vậy ta cần làm gì?

- Chúng ta cần xuống Kentêrbêrơ.

- Rồi sau đó?

- Sau đó chúng ta phải đi qua Nhiukhêven, và từ đây đến Zieppi. Môriarti sẽ lại làm cái mà tôi đã làm: hắn sẽ đến Pari, để mắt tới cái vali của chúng ta và sẽ chờ đợi chúng ta ở phòng bảo quản hành lý chừng hai ngày. Trong khi đó chúng ta sẽ mua hai bao thảm dùng để đựng hành lý (khuyến khích công nghệ bằng cách như vậy !), bán chỗ chúng ta sẽ đi, rồi bình tĩnh qua Luchxămbua và Bazêli hướng đếnThụy sĩ.

Tôi là người đi đường rất từng trải, bởi thế tôi không cho phép mình buồn phiền vì mất hành lý. Tuy vậy, phải thú nhận là tôi không được thoải mái với ý nghĩ cho rằng chúng tôi phải  tránh né, phải lẩn trốn một kẻ phạm tội mà bàn tay của hắn đã nhúng vào không biết bao nhiêu tôi ác nhơ nhuốc. Nhưng cố nhiên, Hôm hiểu tình thế của sự việc tốt hơn tôi. Tại đây, chúng tôi biết chỉ sau một tiếng nữa chuyến tàu đi Nhiukhêven sẽ khởi hành.

Tôi buồn rầu nhìn toa hành lý mang theo tất cả quần áo của tôi đang nhanh chóng mất hút ở phía xa. Ngay lúc đó, Hôm nắm lấy vạt áo tôi chỉ về phía những con đường sắt xa xa.

- Trông kìa, nhanh quá! – Anh nói – Ở đằng xa, một luồng khói trắng mỏng đang bay giữa cánh rừng Kentơ. Chừng một phút sau, trên đường ray cong cong dẫn đến sân ga, một chuyến tàu khác gồm đầu máy và một toa xe xuất hiện. Chúng tôi vừa kịp ẩn mình vào những kiện hàng gì đấy thì con tàu với những tiếng kêu đinh tai nhức óc đã lao vút qua, phả những  luồng hơi nóng thổi vào mặt chúng tôi.

- Qua rồi! – Hôm nói và đưa mắt nhìn theo toa tàu đang lao đi và khẽ lắc lư trên đường ray – Anh thấy đấy, sự sắc sảo của người bạn chúng ta dù sao cũng có giới hạn. Quả là kỳ lạ nếu hắn đã rút ra những kết luận tôi đã rút ra và hắn hành động hoàn toàn phù hợp với chúng ta!

- Hắn sẽ làm gì nếu đuổi kịp chúng ta?

- Không còn nghi ngờ gì nữa, hắn sẽ giết tôi. Mà tôi thì không ngồi chờ hắn ra tay. Bây giờ, tất cả vấn đề là ở chỗ chúng ta ăn sáng tại đây hay đánh liều nhịn đói đến Nhiukhêven.

Đêm hôm ấy, chúng tôi đến Brucxen và ở đó hai ngày. Sang ngày thứ ba, chúng tôi đến Xtraxbuargơ.

Vào sáng thứ hai, Hôm chuyển một bức điện cho Sở Cảnh binh Luân Đôn. Và buổi chiều, lúc chúng tôi đang đi đến khách sạn thì nhận được điện trả lời. Hôm mở bức điện ra, và sau lời nguyền rủa, anh ném nó vào lò sưởi.

- Tôi đã thấy trước điều này rồi mà! – Anh rên rỉ – Đã chạy thoát!

- Môriarti?

- Họ đã bắt được cả lũ trừ hắn. Một mình hắn chuồn mất! Tất nhiên thôi, tôi đi rồi, họ không thắng nổi hắn! Mặc dầu tôi tin rằng chúng sẽ sa vào lưới tất cả. Anh biết không , Oát xơn, tốt hơn cả đối với anh là hãy mau chóng quay trở về nước Anh.

- Tại sao như vậy?

- Bây giờ tôi là người bạn đường nguy hiểm. Con người ấy đã mất tất cả. Nếu như quay về Anh, hắn sẽ chết. Tôi rất hiểu tính cách của hắn. Giờ đây hắn sẽ dồn toàn bộ sức lực của mình vào việc báo thù tôi. Hắn đã nói rõ về điều đó vào phút chia tay ngắn ngủi với      tôi. Tin rằng đấy không phải là lời đe doạ viển vông. Đúng vậy, tôi khuyên anh hãy quay về Luân Đôn, quay về với những bệnh nhân của mình.

Thế nhưng, tôi, một người lính từng trải, một người bạn từng gắn bó lâu năm với Hôm, tất nhiên không thể rời bỏ anh vào giờ phút như vậy được. Chúng tôi ngồi ở tiệm ăn của khách sạn Xtraxbuargơ hơn nửa giờ để tranh luận về điều đó. Đêm hôm ấy, chúng tôi tiếp tục đi đến Jênhép.

Suốt cả tuần, chúng tôi thích thú lượn quanh thung lũng Rôna. Rồi sau khi đi qua Lâycơ, chúng tôi tiếp tục vượt một cái đèo phủ đầy tuyết sâu, qua Interlakên đến thôn Mâyringên. Đó là một cuộc dạo chơi tuyệt trần: ngay trước mắt chúng tôi màu xanh dịu dàng của mùa xuân ở phía trước, màu trắng  trinh bạch của tuyết ở phía trên – thế nhưng, tôi cảm thấy rõ rệt rằng không giây phút nào Hôm quên được mối đe doạ đang treo lơ lửng trên đầu anh. Trong những  xóm leo núi đầy đủ tiện nghi, trên những con đường núi quạnh hiu, ở bất cứ đâu, qua cái nhìn quanh, chăm chú của anh, cái nhìn thăm dò bộ mặt của từng người khách gặp trên đương, tôi nhận ra là anh cả quyết tin vào mối nguy hiểm không tránh khỏi đang theo sau vết chân của chúng tôi.

Tôi nhớ một trường hợp như thế này: chúng tôi đã đi qua Jiemi và đang đi trên bờ sông Đaubenzê trầm mặc, đột nhiên một tảng đá lớn nhô ra từ vách núi ở phía phải đổ sụp xuống. Nó lao xuống dưới đánh ầm một cái, rồi chìm nghỉm dưới lòng hồ phía sau chúng tôi. Hôm nhảy phóc lên chỗ cao và ngoái cổ lại xem xét khắp mọi hướng. Người dẫn đường hoài công cam đoan với anh rằng, vào mùa xuân sự sụp lở của các tảng đá là hiện tượng thường thấy nhất ở miền này. Hôm không trả lời điều gì, chỉ cười cười với tôi. Dáng vẻ của anh như muốn nói anh đã đoán trước được những  sự kiện như thế từ lâu rồi. Thật vô cùng căng thẳng, vậy mà anh không hề đắm mình trong sầu não. Ngược lại, tôi không nhớ là có một khi nào đó lại có thể nhìn thấy anh trong tâm trạng yêu đời đến mức như vậy. Anh thường xuyên nhắc lại rằng, nếu xã hội được cứu thoát từ bàn tay của tên giáo sư Môriarti thì anh sẽ lấy làm sung sướng mà ngưng mọi hoạt động của mình lại.

-Oátxơn  ạ! – Anh nói – Tôi có cảm giác là tôi có quyền nói rằng, cuộc đời của tôi đã trôi đi không hoàn toàn vô ích; và thậm chí nếu con đường đời của tôi đột nhiên cần phải chấm dứt vào ngày hôm nay thì dẫu sao tôi cũng có thể ngoảnh lại nhìn nó với một nỗi sảng khoái trong tâm hồn. Nhờ tôi mà bầu  không khí của Luân Đôn trở nên trong sạch hơn. Tôi đã tham gia vào hàng ngàn công việc không cần thiết, và tôi tin là không bao giờ tôi lạm dụng ảnh hưởng của tôi giúp cho một phe phái sai trái nào. Quả thật, vào thời gian gần đây, việc nghiên cứu những  bí ẩn của thiên nhiên đặt ra trước chúng ta đã cuốn hút tôi hơn là những  vấn đề bề ngoài của sự sắp xếp chưa được hoàn thiện trong xã hội của chúng ta. Oát xơn  ạ! Vào ngày tôi kết thúc thành công con đường công danh của mình bằng việc tóm được hoặc tiêu diệt được tên tội phạm tài năng nhất, nguy hiểm nhất Châu Âu , thì tập hồi ký của anh sẽ đi đến kết thúc.

Bây giờ, tôi sẽ gắng trình bày ngắn gọn mà chính xác một vài điều còn chưa có điều kiện để kể hết. Tôi không dễ dàng dừng lại ở những chi tiết này. Tuy nhiên, tôi coi việc không bỏ sót một chi tiết nào lại là trách nhiệm của mình.

Ngày ba tháng năm, chúng tôi đến thị trấn Mâyringên và dừng chân tại khách sạn

“Anglia” (Vào thời gian ấy Pêtơ Stailơrơ đang cai quản khách sạn). Chủ khách sạn là một người thông minh nói tiếng Anh rất sõi vì ông ta đã phục vụ ăn uống tại khách sạn “Grôxvênôrơ” ở Luân Đôn gần ba năm trời. Suốt buổi chiều ngày bốn tháng năm, nghe theo lời khuyên của ông, chúng tôi cùng đi lên núi định tâm sẽ nghỉ đêm tại làng Rôzenlai. Chủ khách sạn giới thiệu một cách đặc biệt để chúng tôi coi thác Rânkhêkbakhơ. Thác nằm hơi chếch về một bên, chiếm hầu như một nửa dốc. Đó là một nơi thật khủng khiếp. Dòng nước phụt lên giữa những tảng băng tan từ trên núi đổ xuống vực thẳm. Bọt nước tựa như  khói bay ra từ toà nhà đang bốc cháy. Bao quanh hẻm vực nơi dòng thác đổ xuống là những  tảng đá đen nhánh như than. Ở độ sâu không cùng phía dưới, hẻm vực eo hẹp hẳn lại, biến thành một cái giếng nước sôi luôn sủi bọt. Tại đó, nước lúc nào cũng đầy tràn, nó hắt trở lại những  đỉnh núi hình răng cưa hiểm trở. Sự lưu chuyển không dứt của những dòng xanh lục đổ xuống phía dưới với những tiếng ầm ầm liên tục, bức màn dày đặc xao động của bụi nước bay ngược lên trong những cơn gió núi không bao giờ dứt – tất cả những cái đó khiến con người vừa quay cuồng đầu óc vừa đinh tai nhức đầu. Đứng bên rìa nhìn xuống vực sâu thăm thẳm, chúng tôi lắng nghe tiếng ấm ức bí ẩn vọng lại từ phía dưới gợi nhớ tiếng rì rầm xa xăm của đám người đông đúc.

Con đường nhỏ đưa chúng tôi lên cao được xây thành nửa vành bán nguyệt nhằm giúp du khách có thể nhìn rõ dòng thác hơn. Thế nhưng, con đường được chấm dứt bởi vách cứng, do vậy người đi đường buộc phải quay trở lại. Đúng lúc chúng tôi quay lại sắp sửa đi, thì bất ngờ trông thấy chú bé gác cửa đang chạy đến gặp chúng tôi với một lá thư trong tay. Trên phong bì có dấu đóng của khách sạn nơi chúng tôi đang nghỉ lại. Té ra đó là bức thư của chủ khách sạn gửi cho tôi. Ông ta viết rằng, đúng vài phút sau khi chúng tôi đi khỏi, một người đàn bà Anh đang bước vào giai đoạn cuối cùng của bệnh ho lao đã đến khách sạn. Bà ta đã ở  Đavôxơ suốt mùa đông. Còn hiện giờ bà đi đến những  người bạn của mình tại Liujêrnơ, nhưng trên đường đi máu đột nhiên trào ra ở cổ bà ta. Rõ ràng bà đang trong cơn hấp hối. Tuy nhiên sẽ là một nguồn an ủi lớn đối với nếu như được nhìn thấy một bác sĩ người Anh, và nếu tôi đến… Vân vân và vân vân. Trong phần tái bút, người đàn ông tốt bụng Stailơrơ còn viết nếu tôi đồng ý trở về ngay khách sạn, vì người đàn bà khăng khăng chối từ sự giúp đỡ của bác sỹ gác cổng, và ông ta cảm thấy một trách nhiệm nặng nề đang đè lên vai mình.

Tôi không thể không đáp lại lời kêu gọi ấy, không thể không chối từ yêu cầu của người đàn bà đồng hương đang trút hơi thở cuối cùng nơi đất khách quê người. Nhưng đồng thời với điều này, tôi còn sợ để Hôm ở lại một mình. Tuy nhiên, chúng tôi quyết định để chú bé gác cổng trở thành người dẫn đường và người bạn đường của anh, còn tôi sẽ quay lại Mâyringên. Bạn tôi có ý định dừng lại cạnh thác nước một lát nữa, và sau đó nhẩn nha vượt qua những quả đồi tới Roozenglai, nơi chiều tối anh và tôi cần sáp nhập với nhau. Đi được một lúc, tôi ngoảnh đầu nhìn lại: Hôm đang đứng tựa vào một tảng đá, và sau khi lấy tay che mắt anh nhìn xuống đáy của dòng nước đang chảy xiết. Lúc đó tôi không hay biết rằng tôi sẽ vĩnh viễn không còn dịp gặp lại người bạn của tôi nữa.

Xuống phía dưới rồi, tôi còn ngoảnh nhìn lại một lần nữa. Từ đây không còn trông thấy thác nước được nhưng tôi cố ý đưa mắt theo con đường uốn lượn quanh sườn núi dẫn tới đó. Một ai đấy đang bước nhanh theo con đường này. Bóng đen của người ấy nổi rõ trên nền xanh sáng. Tôi không để ý đến anh ta cũng không để ý đến tốc độ đi khác thường của anh ta. Rất vội đến với bệnh nhân của mình, cho nên tôi nhanh chóng quên con người ấy đi.

Chừng một giờ sau, tôi tới khách sạn ở Mâyringên. Ông già Stailôrơ đang đứng trước ngưỡng cửa.

Thế nào? – Tôi vừa chạy đến gần ông vừa hỏi – Tôi hy vọng bệnh tình của bà ta không xấu đi chứ?

Trên mặt ông lộ rõ vẻ ngạc nhiên, đôi lông mày ông nhíu lại. Trái tim tôi như vỡ tung ra.

Nghĩa là ông không biết cái này? – Tôi rút lá thư từ túi ra và hỏi – Không có nữ bệnh nhân người Anh nào ở khách sạn sao?

Ồ, tất nhiên không! - Ông ta kêu lên – Nhưng sao thế này? Lại có dấu của khách sạn tôi trên phong bì?... À, tôi hiểu rồi! Có thể lá thư do người Anh cao cao đến ngay sau khi các ông vừa đi ấy viết. Ông ta nói rằng…

Thế là tôi không thể chờ lời giải thích tiếp theo của người chủ khách sạn. Nỗi hoảng sợ choán khắp người tôi. Tôi chạy ra phố vắng, đến con đường núi mà tôi vừa đi xuống.

Lúc xuống chỉ mất một giờ. Vậy mà để lên được thác nước Râykhênbakhơ tôi phải dùng tới hai giờ, mặc dầu tôi đã chạy với tất cả sức lực của mình. Chiếc gậy dài của Hôm vẫn còn dựng ở cạnh tảng đá, nơi tôi đã để anh ở lại. Nhưng chính Hôm thì không thấy. Tôi đã hoài công để gọi anh. Câu trả lời duy nhất là tiếng dội âm vang nhắc lại giọng tôi từ những vách đá thẳng đứng bao quanh.

Nhìn chiếc gậy mà lòng tôi lạnh toát. Như thế có nghĩa là Hôm đã không rời khỏi Rôzenlai. Anh đã ở lại đây, trên con đường rộng 3 phitơ được bao quanh bởi bức tường dựng đứng từ phía khác. Kẻ thù đã đuổi kịp anh ngay tại đây. Người gác cửa trẻ tuổi cũng không thấy. Rõ ràng anh ta bị Môriarti mua chuộc để mặc cho những kẻ thù kình địch mặt đối mặt với nhau. Và điều gì đã xảy ra sau đó? Ai có thể nói với tôi điều gì đã xảy ra sau đó?

Ráng sức trấn tĩnh lại, tôi ngồi bất động đến hai phút, người tê liệt đi vì lo sợ. Sau đấy, tôi nhớ lại phương pháp của Hôm, và toan vận dụng nó để giải thích tấn bi kịch vừa bùng nổ. Than ôi! Việc này quả thật khó khăn! Vào thời gian trò chuyện, tôi và Hôm chưa đi tới đoạn cuối của dòng chảy, đất ở đây không bao giờ khô cả. Chỉ có loài chim mới lưu lại dấu vết của mình trên đất. Có hai hàng chân in rõ ở phần cuối con đường lùi xa dần từ phía tôi. Không thấy những vết chân ngược trở lại. Cách đoạn cuối của con đường chừng vài bước, đất bị xéo nát và bị đào bới lung tung. Vài giống cây mọc cạnh vách đá bị bật ra và bị vấy bẩn. Tôi đưa mắt nhìn về phía trước và bắt đầu quan sát dòng nước đang chảy xiết. Trời đã chạng vạng tối. Bấy giờ, tôi chỉ có thể nhìn thấy những bức tường bằng đá đen ánh lên vì ẩm ướt. Ở một nơi nào đó xa xa dưới sâu kia là những tia sáng lóng lánh của bụi nước không được sạch lắm. Tôi gào lên, nhưng chỉ có tiếng ầm ào của thác nước tựa như giọng người vang đến tai tôi.

Tuy nhiên, số phận muốn để lời từ biệt cuối cùng của người bạn tôi, người đồng chí của tôi dù thế nào cũng đến được với tôi. Như tôi đã nói, chiếc gậy của Hôm tựa vào vách đá không cao lắm. Và đột nhiên một cái gì sáng lóe lên ở chỗ vách đá nhô ra lơ lửng trên đường. Tôi đưa tay lên che mắt và nhận ra chiếc tẩu thuốc lá bằng bạc bạn tôi luôn mang theo người. Tôi cầm lấy nó thì một vài tờ giấy nhỏ nằm dưới tẩu thuốc vãi ra, rơi xuống đất. Tôi nhặt chúng lên. Đó là ba tờ giấy gửi tôi được xé ra từ sổ tay. Đặc biệt, địa chỉ được viết rõ ràng bằng nét chữ tự tin và gãy gọn tựa như Hôm ngồi viết trong phòng làm việc của mình.

            “Oátxơn yêu quý của tôi! Tôi viết cho anh những dòng này nhờ sự gia ơn của ông Môriarti, người đang chờ tôi để giải quyết dứt khoát những vấn đề có quan hệ tới hai chúng tôi. Ông đã nhanh chóng phác ra cho tôi những cách thức mà nhờ sự hỗ trợ của chúng, ông sẽ thoát khỏi cảnh binh Anh và biết được lộ trình của chúng ta. Cảnh binh chỉ xác nhận ý kiến có giá trị của tôi về những phương pháp trác tuyệt của ông. Tôi hài lòng mà nghĩ rằng, tôi có thể giúp xã hội thoát khỏi những điều bất tiện kế theo có liên quan đến sự tồn tại của ông. Thế nhưng tôi e rằng điều này sẽ đạt được bằng một giá khiến người bạn của tôi buồn phiền, nhất là anh, Oátxơn thân yêu ạ! Tuy nhiên, tôi đã nói với anh rằng, đường đời của tôi đã đạt đến đỉnh cao nhất của nó, và tôi không thể mong mỏi một sự kết thúc nào tốt hơn đối với bản thân. Nhân thể xin nói thêm là thực tình mà nói, tôi không mảy may ngạc nhiên khi biết lá thư từ Mâyringên chỉ là một trò lường gạt, và khi cho phép anh đi khỏi đây, tôi đã dám chắc rằng một cái gì đó tương tự sẽ đến. Hãy báo cho thanh tra viên Pêtêrxôn biết tài liệu cần thiết cho sự tố giác đồng bọn nằm trên bàn của tôi trong ngăn khéo có chữ “M” – phong bì màu xanh với dòng chữ “Môriarti”. Trước khi rời khỏi nước Anh, tôi đã viết tất cả những lệnh cần thiết về tài sản của tôi, và tôi để chúng ở chỗ người em tôi, Maikrốptơ. Xin anh chuyển lời chào thân tình tới bà Oátxơn.

Người bạn hết lòng trung thành với anh.

Sơlốc Hôm”.

Có thể kể đôi lời để đi đến kết thúc như thế này: Việc xem xét nơi xảy ra biến cố do các giám định viên thực hiện đã khẳng định dứt khoát rằng, cuộc giao chiến giữa những kẻ thù không đội trời chung được kết thúc trong những tình cảnh tương tự. Chắc là họ cùng rơi xuống vực khi cho đến phút chót vẫn không chịu rời nhau ra. Mong muốn tìm thấy các tử thi ngay lập tức đã được thừa nhận là vô vọng. Và ngay tại đây, dưới lòng sâu của cái vạc nước sôi réo khủng khiếp này, vĩnh viễn nằm lại xác chết của kẻ thù nguy hiểm nhất và thi thể của người chiến sĩ tài ba nhất, người đã đấu tranh không mệt mỏi cho công lý ở thời đại của mình. Chú bé canh cổng cũng không tìm thấy – tất nhiên đó là một trong những điệp viên nhiều vô kể nằm trong sự điều hành của Môriarti. Còn chính đồng bọn của chúng ra sao? Có lẽ ở Luân Đôn tất cả bọn chúng đã bị bắt quả tang bởi những bằng chứng đầy đủ mà Hôm đã thu thập được. Nhờ những bằng chứng này, toàn bộ tổ chức của chúng đã bị vạch trần, đồng thời bàn tay lạnh lùng của Môriarti, kẻ đứng đầu và kẻ cổ vũ tổ chức này đã nắm giữ nó trong những gọng kìm sắt như thế nào cũng được phanh phui. Có điều, trong quá trình này, cá nhân con người khủng khiếp kia lại hầu như còn chưa được làm sáng tỏ. Và, nếu tôi buộc lòng phơi bày toàn bộ sự thật về mọi hoạt động tội lỗi của hắn ở đây, thì điều đó sẽ khiến cho những kẻ bảo vệ không thành tâm minh oan cho quá khứ của hắn bằng việc công kích con người mà tôi sẽ mãi mãi coi là người cao thượng nhất, anh minh nhất trong tất cả những người lừng danh mà tôi được biết trong đời. 

……………………………………………………………………………………. 

          (1) Một tờ báo Thuỵ Sỹ.

  (2) Một hãng thông tấn lớn ở Anh.

  (3) Một công thức đại số.

 

 

Comments