Chuyện kể về M. IU. Lermôntôv

 

Vào hơn 2 giờ chiều ngày 29 tháng giêng năm 1837, tin về cái chết của Puskin truyền đi khắp Peterburg.

            Đó là một ngày u ám, hoàng hôn sớm buông xuống. Hàng trăm người thuộc “mọi giới và mọi lứa tuổi... phụ nữ, người già, trẻ nhỏ, học sinh, những người bình dân trên người mặc áo lông thô, thậm chí có người quần áo rách rưới” đi về phía căn nhà ở phố Môika cạnh cầu Pevtrexki nơi Puskin từng sống. Đám đông ùn lại trước cửa ra vào. Chiếc quan tài đựng thi hài nhà thơ được đặt sau những ô cửa sổ buông rèm ở lầu một. Lòng đau đớn sâu sắc, mọi người bước vào căn phòng khiêm nhường của Puskin. Nhiều người đã khóc – tất cả đều hiểu rằng một nỗi bất hạnh to lớn không thể nào bù đắp nổi đã xảy ra: Nhà thơ vĩ đại, niềm vinh quang và tự hào của nước Nga đã không còn nữa.

            Và những vần thơ sau đã từ tay người này qua tay người khác truyền đi khắp thành phố:

            Anh chết rồi thi sỹ!

            Sống chết vì danh dự -

            Bị miệng đời thóa mạ vu oan.

Anh ra đi, mang nặng trong tim

Một phát đạn, lòng khát khao rửa hận,

Rũ xuống rồi mái đầu kiêu hãnh! ... (1)
            Qua vài ngày sau, những vần thơ trên đuợc bổ sung thêm 16 câu nữa, bắt đầu thế này:

Còn cá ngươi, lũ con cháu ngạo mạn khinh khi

Của bọn cha ông nổi danh vì những trò đểu giả,

Những mảnh vỡ được gắn bằng gót chân nô lệ

Bằng trò rỡn đùa hạnh phúc của các dòng họ bị chèn ép tang thương! (2)

Tưởng không thể biểu thị tình yêu vô hạn của nhân dân đối với nhà thơ bị giết hại, cũng như lòng căm thù cháy bỏng đối với những kẻ đã giết ông mạnh mẽ hơn thế, thành công hơn thế. Ký dưới những dòng thơ này là một cái tên mới mẻ chưa hề quen thuộc: Lermôntôv. Ít người biết rằng Lermôntôv đã từng viết thơ lên nhạc cụ của đội kỵ binh cận vệ thuộc Trung đoàn Guxarxki, rằng Anh là tác giả của các bài thơ như: Cánh buồm, Kavkaz, Hai người khổng lồ, Bôrôđinô, rằng anh viết trường ca Ác quỷ đã từ lâu rồi, rằng trong quyển vở của anh có một cuốn tiểu thuyết đồ sộ còn dang dở “Vađim” viết về cuộc khởi nghĩa Pugatsôv ... là một nghệ sĩ nghiêm khắc và đòi hỏi cao với bản thân mình, tạm thời Anh hầu như còn chưa công bố tác phẩm nào cả.

Và thế là giờ đây hết thảy mọi người đã đọc thơ anh, những vần thơ trút vào mặt của những kẻ giết hại Puskin vĩ đại một cách thẳng thừng và công phẫn đến như thế. Tất cả mọi người đều nhắc đi nhắc lại tên tuổi  Anh với niềm tự hào, hi vọng và tin tưởng - Ở nước Nga đã xuất hiện một tài năng thi ca mới.

Vì những vần thơ này, Lermôntôv bị bắt và bị lưu đày. Anh đã bắt đầu con đường nhà văn, nhà thơ Nga như thế - Đó là con đường chung của tất cả những nhà văn trung thực yêu tự do thời nước Nga Sa hoàng.

Khi ấy Lermôntôv 22 tuổi.

Mikhain Iurêvich Lermôntôv sinh ngày mồng 3 tháng 10 năm 1814 tạc Maxcơva. Mẹ Lermôntôv, bà Maria Mikhailôvna qua đời lúc chú chưa đầy 3 tuổi. Chú không nhớ người mẹ của mình, nhưng về sau này nhà thơ viết rằng: “Có bài hát khiến tôi khóc; bây giờ tôi không thể nhớ lại được nhưng tôi tin là tôi đã nghe bài hát đó, và chính điều đó đã nảy sinh ra hành động trước đây. Bài hát này người Mẹ đã khuất từng hát cho tôi nghe”. Bà mẹ ưa thích âm nhạc, thường chơi piano, yêu thích thơ và thậm chí chính bà từng sáng tác thơ. Còn một cuốn album giữ lại được sau khi bà mất. Trong cuốn này có rất nhiều bài thơ buồn rầu êm ái do bạn bè và người thân của bà viết ra. Khi người Mẹ qua đời cuốn album thuộc về Lermôntôv và lúc đã trưởng thành chú bắt đầu ghi lại những ý nghĩ của mình cũng như vẽ những bức tranh vào đó.

Cha của nhà thơ, ông Iuri Petrôvich Lermôntôv là đại úy về hưu. Chẳng bao lâu sau khi người vợ qua đời ông buộc lòng phải ra đi và bà ngoại đã thay thế mẹ của chú bé. Bà sống với chú ở tỉnh Penzenxki tại điền trang riêng thuộc Tarkhanư.

Ngôi nhà ở Tarkhanư rộng rãi với một khu vườn lớn. Khu đầm trải dài dưới ngọn núi, còn sau khu đầm lầy này là rừng và đồi. Phía trên của ngôi nhà là căn phòng nền trải bằng nỉ dành riêng cho trẻ nhỏ. Chú bé Lermôntôv ưa lấy phấn vẽ lên khắp tấm nỉ và đã vẽ rất khá. Vừa mới nói bập bẹ chú đã thích lựa chọn những vần thơ. Chú chạy tới chỗ bà và nói: “Pôl - Xtôl”, “Kôska - Akôskơ” (3), rồi chính chú mỉm cười sung sướng.

Bà ngoại đã truyền tất cả tình yêu thương của mình đối với con gái sang cho đứa cháu. Bà lo toan tới việc giáo dục chú, quan tâm tới từng bước trưởng thành của chú. Bà đã mời những ông thầy tuyệt vời nhất tới dạy dỗ chú. Để đứa cháu khỏi buồn, bà còn đưa về nhà vài cậu bé cùng lứa tuổi với Lermôntôv. Bọn trẻ cùng nhau học bài, chơi trận giả, leo núi, đi dạo và thường tranh luận với nhau – trong trường hợp nào chú bé Lermôntôv bao giờ cũng muốn đứng ở hàng đầu. Chú là đứa trẻ hay tự ý và dễ cáu bẳn, nhưng chú lại có trái tim hiền từ và nhạy cảm. Bà ngoại là một nữ điền chủ nên cũng như ở tất cả các gia đình đại chủ khác, tại đây nông nô sống rất khổ sở. Người ta kể lại rằng lúc Lermôntôv còn rất bé “chú đã réo bà ngoại khi bà chửi rủa nông nô và chú đã bỏ đi khi một ai đó bị trừng phạt”. Vào thời gian Lermôntôv trưởng thành, ông đã giải phóng những nông nô thuộc quyền sở hữu riêng theo tài sản của mẹ.

Lúc đã khôn lớn, chú rất thích nghe những câu chuyện kể của gia nhân về thời xa xưa: về Ivan Grôznưi, về Razin, về Pugatsôv, về những tên cướp vùng Vonga. Chú thích hình dung ra minh khi thì là một cahng2 hiệp sĩ can trường, khi thì là một tên cướp ở nơi nào đấy trong những khu rừng rậm.

Misen, mọi người trong gia đình thường gọi cậu bé Lermôntôv như vậy, hay chạy đến vùng thôn quê, chơi với những đứa trẻ nông thôn, nghe những câu chuyện kể của cha chúng về chiến tranh vệ quốc năm 1812. Nhiều người trong số họ cách đó ko lâu đã từng đánh trả lại Napoleon và thường nhớ lại những trận đánh vinh quang của quân du kích Nga, cũng như nhớ lại tai họa của Maxcơva. Chính gia sư của Misen là Kape cũng thích kể về cuộc chiến tranh. Đó là một người cao, hơi gầy, mũi khoằm. Ông từng là trung sĩ thuộc đội cận vệ Napoleon. Ông bị thương, bị bắt làm tù binh rồi vĩnh viễn ở lại Nga. Con người rất có học thức và thông minh ấy yêu thương cậu học trò của mình cũng như những đứa bạn nhỏ tuổi của cậu. Ông chăm chú theo dõi chúng trong giờ học, ông dắt chúng đi dạo chơi.

Chú bé Lermôntôv đau ốm luôn và bà ngoại đã mấy lần đưa chú tới Kavkaz để chữa bệnh. Thời gian đó chưa có đường sắt nên phải đi ngựa. Từ Tarkhanư tới Piechigorxcơ – thời ấy người ta gọi Gôriatrevôđxcơ như vậy – phải đi mất gần một tháng, thường phải dừng lại trên đường nghỉ đêm ở các trạm bưu điện. Những chuyến đi thật vui vẻ và lý thú.

Ở Kavkaz, mọi thứ đều khiến Lermôntôv thích thú: dãy núi cao tuyết phủ của vùng Elbruxơ (4), những con suối cuộn chảy, những đêm tối trời với các vì sao lấp lánh, những bài hát của người miền núi ở các làng vùng cao lân cận đi qua. “Tôi yêu Kavkaz như yêu những bài ca dịu dàng của quê hương tôi” – nhà thơ viết như vậy.

Lermôntôv 11 tuổi thì ở Tarkhanư bắt đầu có tin đồn là vào ngày 14 tháng chạp năm 1825 tại quảng trường Xenatxki ở Peterburg cuộc khởi nghĩa đã bùng nổ.

Người ta kể rằng sĩ quan và binh lính tham gia khởi nghĩa muốn lật đổ Sa hoàng. Sau đấy tin tức về vụ hành hình những người cầm đầu cuộc nổi dậy cũng lan tới. Những chuyện quanh vấn đề đó diễn ra một cách âm thầm. Tên tuổi những người tham gia cuộc khởi nghĩa được nhắc tới một cách dè dặt. những cái tên này trở nên quen thuộc đối với chú bé Lermôntôv. Ở Tarkhanư có nhận được những tạp chí và lịch thư. Trong những lịch thư đó có Sao Bắc đẩu đăng khúc bi ca của Rưlêev Ivan xuxanin. Cố nhiên Lermôntôv đọc khúc bi ca này. Tất cả những tin đồn và chuyện kể đáng lo ngại ấy đã làm rung chuyển trí tưởng tượng của Lermôntôv, và không chỉ riêng Lermôntôv ...

“Tôi không biết chuyện đó đã xảy ra như thế nào, nhưng trong khi hiểu ít và rất mơ hồ tôi vẫn cảm thấy mình không ở phía bạo lực và chiến thắng, nhà tù và xiềng xích. Việc xử tử Pextel và các đồng chí của ông hẳn đã đánh thức giấc ngủ trẻ thơ của tâm hồn tôi” – nhớ lại tuổi ấu thơ của mình, nhà văn Alech xanđr Ivanôvich Gertsen đã nói như vậy; ông chĩ lớn hơn Lermôntôv có hai tuổi.

Ở tuổi 11, 12 Lermôntôv đã đọc rất nhiều sách. Tarkhanư có một thư viện lớn và tốt: tác phẩm của các nhà văn Nga – Lômônôxôv, Karamzin, Giucôvxki; tiểu sử của các bậc vĩ nhân; những tác phẩm hay nhất của văn chương nước ngoài – Đôn Kisốt của Xécvantex, Rôbinxơn Kruxô của Đêphô và nhiều tác phẩm khác.

Người cha ít khi tới thăm con; bà ngoại không ưa ông. Misen không rõ giữa cha và bà ngoại có chuyện gì xảy ra, nhưng chứ đoán rằng mẹ chú là một người bất hạnh và bà ngoại đã khép tội ấy cho cha chú. Cậu bé không hé răng hỏi một ai về điều gì mà chỉ im lặng trải qua nỗi đau khổ nặng nề của mình.

Mùa thu năm 1827, Lermôntôv vừa tròn 13 tuổi. Thế là tuổi ấu thơ đã kết thúc. Bà ngoại quyết định chuyển tới Maxcơva rồi sẽ gửi chú vào học xá quý tộc thuộc trường Đại học tổng hợp Maxcơva. Công việc chuẩn bị bắt đầu. Như thường được tiến hành trong các gia đình địa chủ, người ta sửa soạn cỗ xe ngựa lớn, chỉ định gia nhân đi cùng, sắp xếp đồ dùng vặt vãnh trong nhà rồi đủng đỉnh lên đường. Đi trước là cỗ xe ngựa chở bà ngoại, người cháu và gia sư, sau đó là cỗ xe chở tôi tớ.

Vài ngày sau đoàn người tới vùng ngoại ô. Vượt qua những đường phố ngoại vi vắng lặng, họ đến sông Maxcơva. Qua lại trên sông là những chiếc xuồng máy có nhiều cánh buồm và những lá cờ đủ màu sắc. Trên bờ sông xe ngựa đi lại và con người thì có vẻ tất bật, vội vã. Trên bờ sông bên kia Kremli đứng uy nghi, đẹp đẽ.

Không bao lâu sau chuyến đi tới đây, bà ngoại đã mời tới cho Lermôntôv một giảng viên của học xá quý tộc tên là Zinôviev cùng các giáo viên khác cần thiết cho cậu chuẩn bị trải qua cuộc thi tuyển chọn.

Anh học nhiều và chăm viết thư cho dì ở quê nhà: “Dì yêu quý!... Cháu nghĩ dì sẽ rất sảng khoái nếu biết rằng cháu đang học cú pháp của ngữ pháp Nga, và người ta cho cháu làm luận. Cháu viết điều đó cho dì chẳng phải để khoe khoang đâu mà chỉ bời vì chắc dì sẽ rất vui sướng. Trong môn địa lý cháu học tính toán. Theo quả địa cầu cháu học nhiệt độ, trái đất rồi sự vận động của nó, vân ... vân .... Học lịch sử thời trước giúp cháu rất nhiều.”

Thường sau khi học bài xong anh đi dạo quanh Maxcơva cùng thầy Zinôviev, người am hiểu và yêu thích thủ đô cổ kính của nước Nga. Ông kể cho Lermôntôv nghe về quá khư xưa kia của nó, về cuộc chiến tranh năm 1812, về những người đã chiến đầu vì Maxcơva. Đôi khi theo cầu thang hình trôn ốc, hai người leo lên đỉnh cao nhất của tháp chuông Ivan Đại Đế và từ đây họ đưa mắt nhìn khắp Maxcơva.

“Ai chưa từng ở tầng cao của Ivan Đại Đế, ai chưa một lần đưa mắt nhìn khắp thủ đô của chúng ta, ai chưa bao giờ ngắm nhìn toàn cảnh kỳ vĩ hầu như vô tận ấy, thì nng` đó chưa thể có ý niệm về Maxcơva, bởi lẽ Maxcơva không phải là một thành phố bình thường, mà một ngàn lần khác sự bình thường. Maxcơva không phải là một khối đá đồ sộ lạnh lùng im ắng được sắp đặt với một trật tự cân đối... Không! Nó có linh hồn của mình, có đời sống của mình....” – vài năm sau trong một bài luận học sinh nhan đề Toàn cảnh Maxcơva Lermôntôv đã viết như vậy.

Mọi thứ ở Maxcơva đều làm Lermôntôv vui sướng, đều gợi lên tình cảm tự hào về tổ quốc mình, về nhân dân mình.

Maxcơva, Maxcơva! ...Ta như đứa con yêu mẹ

Tình yêu của một người Nga – mạnh mẽ, cuồng nhiệt và dịu dàng

Ta yêu vẻ hào hoa thiêng liêng của tóc bạc Người

Và Kremli kia hình răng cưa bình thản.

Mùa thu năm 1828 Lermôntôv bắt đầu theo học lớp đệ tứ của học xá qúy tộc. Đó là một trong những trường học tốt nhất ở Maxcơva. Bà ngoại không muốn rời Misen nên anh được xếp vào loại học sinh bán nội trú, chiều chiều lại trở về nhà.

Trong học xá quý tộc có nhà tháng Chạp Kakhôvxki và nhiều người tham gia cuộc khởi nghĩa tháng Chạp khác theo học. Tại đây người ta vẫn còn nhớ tới họ. Bí mật đối với giới lãnh đạo học sinh người ta chép lại những vần thơ bị cấm lưu hành của Puskin., Rưrêev cùng nhiều nhà thơ tháng Chạp khác. Bởi vì nhiều người củng lứa tuổi với họ ở khắp nước Nga đang ao ước kế tục sự nghiệp của những nhà tháng Chạp.

Tại học xá, văn chương được học nhiều và nghiêm túc. Thầy giáo văn chương hay là thầy giáo nghệ thuật ngôn từ như thời ấy người ta vẫn gọi, thầy Xemen Egôrôvich Raitr – nhà thơ và nhà dịch thuật có tiếng, thứ bảy nào cũng tập hợp những học sinh quan tâm tới văn chương lại. Họ cùng đọc và bàn luận về các tác phẩm của những nhà văn khác nhau. Các chú bé trình bày ý nghĩ của mình, tranh luận và thử cầm bút viết văn. Thời ấy hầu như bất cứ trường học nào cũng cho ra đời những tạp chí chép tay. Chúng được ra đời ngay cả trong học xá quý tộc. Lermôntôv cộng tác với những tạp chí này và chẳng bao lâu anh đã trở thành một nhà thơ được mọi người thừa nhận ở học xá quý tộc.

Sáng tác thơ ca không cản trở Lermôntôv học tập – Anh thuộc trong số những học sinh xuất sắc. Cứ dựa vào những cuốn vỡ nháp của anh cũng thấy rõ anh đã đọc nhiều ra sao và đã học nghiêm túc như thế nào. Trong các cuốn vở này có nhiều cột dài các từ Latinh, Pháp và Đức, có những bản dịch từ tiếng nước ngoài, có các bản tóm lược lịch sử phổ thông cũng như các bài tập toán học.

Hễ bắt tay vào việc nào là Lermôntôv đều dốc lòng làm đến nơi đến chồn. Anh luôn biểu lộ lòng kiên trì và quyết tâm hiếm có. Anh đánh cờ giỏi, vẽ, nặn tượng, chơi piano và violon. Anh hiểu văn chương tới mức tuyệt vời, và yêu Puskin hơn bất kỳ nhà thơ Nga nào khác.

Hàng năm sau các kỳ thi tốt nghiệp, tại học xá Maxcơva thường tổ chức ngày hội trọng thể. Ở đó học sinh đọc thơ, chơi piano và đấu kiếm. Lermôntôv tham gia các buổi biểu diễn này: khi thì chơi violon, khi lại đọc thơ.

Nhiều năm sau đó thầy Zinôviev vẫn còn nhớ cậu bé Lermôntôv vóc dáng không to nhưng chắc nịch, vầng trán rộng, cởi mở, cái nhìn nghiêm khắc, sâu sắc, đã xúc động ngâm bài thơ “Biển cả” của Vaxili Anđrêvich Giukôvxki:

Biển lặng êm, biển xanh màu da trời

Ta đứng, bị cám dỗ bởi sự vô cùng tận của em

Em sống động, em nhịp nhàng hơi thở

Chứa chấp nỗi suy tư lo âu và phấp phỏng tình yêu.

Khi Lermôntôv còn học ở học xá và sau đó ở trường Tổng hợp, mùa hè nào bà ngoại cũng cùng anh ra ngoại ô Maxcơva tới Xeređnikôvơ – điền trang của người anh trai bà đã khuất Đmitri Alekxâyevich Xtôlưpin.

Tại Xeređnikôvơ, Lermôntôv sống và làm việc đặc biệt thoải mái. Thường có nhiều thanh niên ở Xeređnikôvơ từ đầu xuân đến cuối thu. Họ sống vui nhộn, vô tư, ít nhiều cảm thông với nhau. Họ hay tổ chức các cuộc dạo chơi xa, bơi thuyền, leo núi, đọc thơ và hát. Lermôntôv luôn đi đầu trong các trò chơi ấy.

Cũng như ở Tarkanư, ở Xeređnikôvơ có một thư viện tốt. Trong căn phòng lớn thoáng mát những cuốn sách đóng bằng bìa da cứng xếp trên giá cao. Vẫn như mọi khi, Lermôntôv đọc rất nhiều. Đêm khuya, anh thích đi dạo một mình trên bờ ao, trong công viên, ưa rẽ vào nghĩa trang thôn quê hoặc ngồi cạnh cửa sổ phòng mình viết và nghĩ về thơ.

Tối rồi, tất cả đều yên ngủ.

Chỉ có tiếng vo vo của chú bọ dừa đêm

Thỉnh thoảng bay qua thung lũng.

Chú sâu con từ dưới cỏ nổi lên

Nó xa lạ với những nghĩ suy và xúc động của ta.

Từ rất sớm, Lermôntôv đã bắt đầu ghi lại những ý nghĩ của mình, những vần thơ và những dự đồ về nhiều tác phẩm khác nhau. Anh ưa đóng vở bằng những thứ giấy bền và tốt, lấy giấy màu làm bìa, trang trí tờ bìa phụ. Vào thời ấy, nhiều chàng trai và cô gái yêu thích văn chương đều có những quyển vở như vậy. Đôi khi, đấy là những cuốn album sặc sỡ, mép vàng, bìa cứng làm bằng thứ da dê thuộc quý giá; đôi khi, đấy lại là những cuốn vở giản dị, những cuốn sổ tay trong đó ghi lại những câu thơ và những tác phẩm đặc biệt ưa thích. Nhưng nhiều hơn cả là các câu danh ngôn, các ý nghĩ của mình và của người khác, những sự kei65n xảy ra trong đời sống. Những cuốn album như thế đã trở thành những người bạn đời thân thương quý giá. Theo các cuốn vở album này có thể nhận xét người đó lên như thế nào, phát triển ra sao, anh ta coi cái gì là quan trọng đối với cuộc sống của mình.

Có cả thảy 16 cuốn vở như vậy của Lermôntôv còn lại tới ngày nay song có lẽ chúng nhiều hơn thế. Tuy vậy, các cuốn vở ấy noi với chúng ta rất nhiều. Chẳng hạn, cuốn thứ 15 của Lermôntôv, bìa tự làm màu xanh lơ. Các bài thơ trong đó được đánh số lại, tên một vài bài bài thơ được tô điểm bằng vinhet, trên trang đầu có hàng chữ Những vẫn thơ vụn vặt – Maxcơva, 1829. Các bài thơ này viết về điều gi? Về sứ mệnh cao cả của nhà thơ, về tổ quốc, về tình bạn, về cảm hứng và về chính Lermôntôv:

Tôi sinh ra với tâm hồn cháy bỏng

Tôi ưa thích sống cùng bè bạn.

Trong cuốn cở có bài thơ Những lời than vãn của người Thổ Nhĩ Kỳ với những dòng thơ sau:

Với mọi người cuộc sống sớm nặng nề,

Vui ở đời là đời quở đời chê,

Kiếp người sống tháng ngày rên siết

Vì nô lệ và xích xiềng trói buộc! ...

Miền đất kia... Anh bạn tôi ơi!

Chính đấy là... Tổ quốc của tôi! (5)

Rỏ ràng khi ấy Lermôntôv đã hiểu cuộc sống trên đất nước Nga nặng nề ra sao, nhưng do không thể nói thẳng về điều đó nên anh chuyển sang nói về đất Thổ Nhỉ Kỳ. Vào thời đó các nhá văn thường nói bóng gió để ám chỉ. Tất cả những ai biết cách hiểu và muốn hiểu đều hiểu được họ. Có lẽ trong trường hợp này Lermôntôv nhớ đến bài thơ Gửi kẻ lệ thuộc của Rưlêev. Để đánh lừa cơ quan kiểm duyệt, Rưlêev viết là bài thơ phỏng theo một nhà thơ La Mã.

Còn đây là cuốn vở tiếp theo, không thật lớn và không có bìa.

Trên đất nước, con người quá ư ngột ngạt

Trái tim nặng nề và tâm hồn buồn chán.

Lermôntôv lại viết về nước Nga, và cứ theo các bài thơ trong cuốn sổ thì biết rõ anh đã trưởng thành như thế nào và cặp mắt của anh đã từng trải ra sao. Giờ đây anh nói không phải về riêng bản thân mà về tất cả những người cùng lứa tuổi của mình, về thế hệ mình, thế hệ sống một cuộc sống ảm đạm trên đất nước Nga như “Mặt trời mùa đông nơi chân trời xám xịt”.

Những tư tưởng bị cấm đoán về tự do, về ý chí, về số phận của nước Nga càng hay trở đi trở lại trong đầu thì nỗi u buồn và sự bất mãn càng sâu sắc. Không phải chỉ riêng anh mà nhiều học sinh trong học xá cũng chịu ảnh hưởng bởi tinh thần tự chủ và khát vọng tự do. Seph Gianđarmôv Benkenđôrph báo cho Nicôlai I biết rằng trong số các thanh niên ở học xá trường Đại học Tổng hợp Maxcơva “chúng tôi bắt gặp nhiều kẻ thấm nhuần các lý tưởng tự do, khát khao cách mạng, tin tưởng vào khả năng thiết lập quyền lực của chế độ lập hiến ở Nga”.

Một lần vào giờ giải lao 20 phút trong lúc học sinh đang chơi đùa ở hành lang bỗng có một viên tướng bước vào học xá. Mọi người đều chú ý tới ông ta. Khi ấy không có thầy giáo nào trong đám học sinh cả. Vị tướng mở toang cửa một lớp học nơi các học sinh ngồi nguyên tại chỗ. “Xin kính chào bệ hạ!” – đột nhiên giọng nói oang oang của một học sinh vang lên: trước đây cậu ta học ở trường Lixê, từng gặp Sa hoàng nên giờ nhận ra ngài. Cả thầy và trò đều chạy ùa cả lại. Sa hoàng trở nên dữ tợn ra lệnh mọi người tập trung tại lễ đường và như một học sinh nhớ lại thì ngài “đã trút bỏ cơn giận của mình bằng một vẻ đe dọa mà bọn tôi hoàn toàn không thể tưởng tượng nổi”.

Mùa xuân năm 1830 có lệnh biến học xá thành trường trung học bình thường. Thời ấy, lối xử phạt đánh đòn được áp dụng trong các trường trung học: học trò bị quất bằng roi, véo tai và đánh bằng thước kẻ. Bà ngoại không thể mang ý nghĩ là một ai đó sẽ đụng đến cháu bà. Lermôntôv rời khỏi học xá, chuẩn bị vào trường Đại học Tổng hợp.

Ngày 1 tháng chín năm 1830, cậu thanh niên 16 tuổi Lermôntôv trở thành sinh viên trường Đại học Tổng hợp Maxcơva. Vào những năm đó, trường Tổng hợp Maxcơva thành trung tâm tập hợp các thanh niên tiến tiến. Những người trẻ tuổi từ mọi miền của nước Nga đến học tại Maxcơva. “Khi chuẩn bị lên đường đi xa, thanh niên mang theo mình một vài thứ để đảm bảo học tập trong bốn năm trời. Thường là những thứ này chỉ vừa đủ đi đường và chi dùng cho năm học đầu tiên. Tuy nhiên người thanh niên mang theo mình một trái tim trẻ trung và nồng nhiệt, một khát vọng sống và hiểu biết không cùng” – một sinh viên cũ của trường Đại học Tổng hợp Maxcơva đã viết như vây. Trong số sinh viên của trường Đại học Tổng hợp những năm này có Belinxki, Gertxen, Orarev, Gônsarôv và những người trẻ tuổi khác. Nhiều người trong số họ từng chứng kiến sự trấn áp mạnh mẽ của địa chủ đối với nông dân, họ bắt đầu hiểu cái gì đang ngăn trở Tổ quốc không có sự tự do và hạnh phúc, họ không thể chịu nổi một sự thật là những người Nga tốt nhất – những nhà tháng Chạp – bị hành quyết, bị lưu đày và phải ngồi tù.

Lermôntôv cũng không chịu nổi điều đó. Trong Người bạn của tự do, anh đã dàng cả trái tim mình cho những nhà tháng Chạp. Anh tin rằng họ:

Trong xứ lưu đày xa xôi vắng vẻ

Họ không thôi nghĩ suy

Rồi tự do sẽ được đánh thức lại thế nào...

Chính phủ Sa hoàng kinh sợ cuộc khởi nghĩa của những nhà tháng Chạp nên đã đàn áp một cách khốc liệt bất cứ sự biểu thị nào của tư tưởng tự do. Các giáo sư tiên tiến qua những bài giảng của mình có thể giáo dục sinh viên lòng căm thù chế độ Sa hoàng, chế độ nông nô chuyên chế - các giáo sư đó không được phép dạy ở trường Tổng hợp. Còn sinh viên thì bị cảnh binh giám sát rất khắc khe. Do vậy sinh viên đã bí mật tổ chức từng nhóm nhỏ, tập hợp tại ký túc xá sinh viên nơi Belinxki sống hoặc ở chỗ Gerixem, nhà văn và nhà cách mạng tương lai. Tại đây, họ ước mơ về hạnh phúc của nhân dân, họ trao đổi về những vấn đề chính trị - xã hội , họ tranh luận về văn chương, về nghệ thuật. Nhiều thành viên của nhóm này hay nhóm khác không hề quen biết nhau, nhưng tất cả bọn họ – hầu như cùng lứa tuổi – đều sống trong một thời đại, đều được cuộc khởi nghĩa của những nhà tháng Chạp thức tỉnh. Họ đã nhìn thấy những cuộc xử tử, những vụ săn lùng. Họ đều được hun nóng bởi những tình cảm và ý nghĩ chung. Tất cả những người đó đều cổ xúy lòng căm ghét bất cứ hình thức bạo lực nào, bất cứ sự chuyên quyền nào. Các sinh viên thuộc những nhóm này đều biểu lộ lòng thành kính đối với tên tuổi của Puskin, bởi vậy trong học xá quý tộc những bài thơ bị cấm đoán của ông được chuyển từ tay người này sang tay người khác, chẳng hạn bài Tự do, Gửi Tsađaev, bức thư Gửi tới Xibin. Và họ đọc Ônheghin của ông.

Lermôntôv không ở trong nhóm của Belinxki và Genrtxen – anh có nhóm của mình, có bạn bè của mình. Họ cùng đi tới nhà hát, cùng dạo chơi và thường tụ tập ở chỗ Lermôntôv trên Malưi Môltranovka trong một căn nhà gỗ nhỏ có tầng nóc. Người sinh viên Lermôntôv sống ở tầng nóc còn phía dưới là bà ngoại. Để tới chỗ Lermôntôv phải qua tầng ngoài, nhà bếp, phòng nữ gia nô rồi lần theo cầu thang hẹp có tay vịn. Căn phòng thấp với những ô cửa sổ nhỏ, cò giường gỗ, bàn viết và tủ sách. Trong số sách đó cố nhiên có Người tù Kavkaz, Giếng phun Baxtrixaraixki, Những người Tsưgan của Puskin, tuyển tập Sao Bắc đẩu, các tạp chí và sách bằng tiếng nước ngoài.... Trên bàn có bình mực, bút lông ngỗng và vở viết. Đôi khi bạn bè ngồi đến quá nửa đêm, nói chuyện về cuộc sống trên đất Nga, về văn chương và về Puskin. Họ đọc các tạp chí mới, và nghe thơ của Lermôntôv.

Luôn có một cái gì chín muồi và sôi sục

Trong trí tuệ tôi

Khát vọng và nỗi buồn

Luôn làm bất an lồng ngực.

Nhưng cái gì vậy nhỉ?

Cuộc sống sao quá ngắn ngủi

Tôi lo không kịp thực hiện nó thôi

Vậy mà chính anh lại chưa hiểu là mình đã kịp làm nhiều đến mức nào và không ít việc trong số những việc anh đã làm được tuyệt diệu ra sao. Trong các cuốn sổ tay, các cuốn vở thời sinh viên của anh rải rác có những ý nghĩ về Tổ quốc về cuộc sống thật táo bạo và sâu sắc, có các dự định về những công việc trong tương lai thật rộng lớn, có những bài thơ tuyệt vời biết bao! Thời gian ấy gần ba trăm bài thơ, 15 bản trường ca, ba vở kịch được anh viết ra, trong đó trường ca Ác quỷ được viết đi viết lại vài lần. Trường ca này là tác phẩm thiết tha nhất đối với Lermôntôv: Ông viết nó từ tuổi 15 cho đến lúc qua đời, thay đổi đi thay đổi lại nhiều lần chẳng khác Puskin viết Evghenhi Ônheghin và Gôgôn viết Những linh hồn chết trong vòng nhiều năm như thế.

Lermôntôv đã không thể tốt nghiệp Đại học Tổng hợp. Mùa xuân năm 1832 anh bị đưa ra khỏi trường đại học – Ban lãnh đạo không ưa sinh viên Lermôntôv, không ưa tinh thần phiến loạn, ý tưởng tự do và ngôn từ sắc nhọn của anh.

Lermôntôv quyết định vào học trường Tổng hợp Peterburg. Rời Maxcơva, Lermôntôv hoàn toàn không muốn. Anh rất yêu Maxcơva. Nhiều kỷ niệm vui có buồn có của tuổi ấu thơ và tuổi thành niên đã gắn anh với nó. Bạn bè của anh ở lại đây, và ngay cả Varenka Lôpukhina thân thương, người đã chiếm được trái tim của anh cũng ở lại đây. Đến cuối năm 1832, Lermôntôv cùng với bà ngoại đã ở Peterburg.

Thành phố với sương mù và mưa rỉ rích

Ôi, mới buồn làm sao!

Anh viết như vậy. Anh rơi vào tâm trạng bất an. Và tâm trạng này được biểu lộ trong bài thơ Cánh buồm:

Buồm trắng dần xa mờ lẻ chiếc

Trùng khơi mặt biển lạt màu sương!

Buồm hướng tìm chi nơi đất khách?

Có gì bỏ lại chốn quê hương?

 

Sóng cồn gió rít, thuyền lướt tới

Và cột buồm trèo trẹo vặn mình

Chao ôi, buồm đâu tìm hạnh phúc

Cũng đâu lìa hạnh phúc tha phướng!

 

Dưới buồm làn nước xanh như ngọc

Trên buồm vàng nắng nhuộm từng không...

Nhưng buồm day dứt đòi bảo tố

Dường trong bão tố có bình yên. (6)

Lermôntôv không được nhận vào trường Đại học Tổng hợp Peterburg. Hai năm theo học tại Maxcơva của anh bị đứt đoạn chỉ vì một nguyên do: nhiều sinh viên bị đuổi khỏi trường Đại học Tổng hợp Maxcơva sẽ không được các trường Đại học Tổng hợp khác ở Nga nhận vào học.

Lermôntôv buộc phải vào học tại trường đào tạo sỹ quan cận vệ và kỵ binh dành riêng cho con cái các nhà quý tộc. Phần đông học sinh là thanh niên, họ coi mình hơn hản những người khác chỉ bởi lẽ cha mẹ họ là những nhà quý tộc. Họ không quan tâm đến điều gì khác ngoài con đường công danh, các cuộc duyệt binh và quân hàm của bản thân. Phương pháp huấn luyện ngu xuẩn, khắc nghiệt thống trị trong trường.

“Vào thời gian đó – một bạn cùng học với Lermôntôv ở trường kể lại – chúng tôi không được phépđọc các quyển sách có nội dung văn chương đích thực, mặc dầu không phải bao giờ chúng tôi cũng thực hiện điều đó.” Trong số các học sinh không bao giờ thực hiện mệnh lệnh này tất nhiên có Lermôntôv.

Chiều chiều, sau giờ học anh thường lẻn đến một lớp học bỏ trống nào đó không cho các bạn cùng học biết, và tại đây anh ngồi một mình cho đến khuya trong tĩnh lặng tự do suy nghĩ, đọc sách và làm việc. Anh đã viết tiểu thuyết về cuộc khởi nghĩa Pugatsov khi đó.

Thời ấy người ta cấm viết về phong trào Pugatsov. Cố nhiên Lermôntôv hiểu điều gì sẽ đe dọa anh nếu Ban chỉ huy hay biết về cuốn tiểu thuyết. Nhưng dẫu sao anh cũng đã bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết lớn dành cho đề tài này.

Từ khi còn nhỏ tuổi, Lermôntôv đã nhìn thấy cuộc sống của những người nông nôở Tarkhanư và Xeređnikov. Từ bà vú nuôi Lukepia từng sống lâu đời ở điền trang bà ngoại cũng như từ những người gia nô, anh thường nghe biết về cuộc sống đó nặng nề đến mức nào. Anh đã thấy những ngôi nhà ám khói đen đủi nơi những đứa trẻ thôn quê – bạn cùng đùa nghịch với anh – sống chen chúc. Anh nghe những chuey65n kể về Pugatsov không phải một lần – các cụ già từng chứng kiến cuộc khởi nghĩa Pugatsov vẫn còn sống. Họ kể Pugatsov đã đi khắp thành phố và nông thôn ra sao, bọn địa chủ đã lẩn trốn ông trong rừng và hang động như thế nào, rồi nữa, ông đã trừng phạt chúng ra sao. Cũng có thể họ nói cả về vụ hành hình Pugatsov, về việc họ dẫn ông tới nơi giam giữ và nhiều người bảo vệ ông đã thực hiện những mánh khóe và mưu chước bí mật để giải thoát ông.... Ở trường học sinh võ bị tất cả nhiều hồi ức bùng lên với sức mạnh mãnh liệt. Những năm tháng ấy đã giúp anh hiểu hơn sự thật lịch sử, hiểu vì lẽ gì mà Razin, Pugatsov đã hiến cuộc đời mình, vì điều gì mà những nhà tháng Chạp tranh đấu. Anh đã học được lòng căm thù đối với chế độ nô lệ. Vào năm 1830 trong bài thơ Lời tiên tri anh viết:

Năm đen tối trên đất Nga, sẽ tới

Đó là khi cương miện tất sẽ rơi

Lòng tôn vua xưng dân chúng quên rồi

Thây, màu sẽ làm mồi cho bao kẻ (7)

“Năm đen tối” – bọn quý tộc gọi năm khởi nghĩa Pugatsov như thế – cuốn hút sự chứ ý của Lermôntôv nhất là vào thời kỳ nông dân khắp nước Nga xao động, các cuộc khởi nghĩa nông dân bùng lên ở nhiều nơi  khi có tin đồn về nghĩa quân mới của Pugatsov. Tin đồn này mang theo nỗi khiếp đảm và lo sợ tới những nhà địa chủ giàu có, cháy lên niềm hy vọng, nỗi vui sướng trong trái tim những người bị giam giữ trong vòng nô lệ, bị khinh bỉ và đày đạo một cách bất công, những người mơ ước về tự do và cuộc sống công bằng.

Tiểu thuyết Vađim của Lermôntôv viết dưới hình thức văn xuôi. Nhân vật của cuốn tiểu thuyết là Vađim, gù lưng, một người luôn kiêu hãnh, thích trả thù và sống cô độc. Vào thời gian xảy ra cuộc khởi nghĩa Pugatsov anh ta cầm đầu những người nông nô. Anh muốn bào thù cho cha, một địa chủ không thật giàu có bị người láng giềng, một địa chủ giàu có tên là Palitsưn làm nhục.

Một lần trong lúc đi săn, con chó của cha Vađim tỏ ra khôn ngoan hơn con chó của Palitsưn. Cha Vađim cười nhạo hắn. Mối thù hằn gay gắt giữa hai địa chủ bắt đầu từ giờ phút đó. Palitsưn bày ra trò kiện tụng và đã thắng cuộc. Hắn làm cho cha Vađim bị khánh kiệt. Vài năm sau khi ông ta chết, Vađim rơi vào cảnh khốn cùng đói kém. Truyện vừa còn kể về nhiều điều khác nữa: Vađim đi tìm chị gái do hiền lành mà được sống ở nhà tên địa chủ Palitsưn ra sao. Cuộc sống của những tên chúa đất này bị phanh phui, hoàn cảnh cuộc khởi nghĩa, những chiếc hang bí mật nơi bọn địa chủ sợ lẩn trốn được chỉ ra. Tuy nhiên Vađim không chỉ trả thù cho cha, không chỉ nghĩ về nỗi sỉ nhục riêng của bản thân. Toàn bộ truyện vừa thấm đậm tinh thần phản kháng sâu sắc chống lại sự chuyên quyền và chế độ nô lệ. Mặc dầu tác phẩm viết vào thời trẻ - tiểu thuyết chưa kết thúc, còn nhiều khiếm khuyết, thường mâu thuẫn và lặp lại, nhưng trong đó đã xuất hiện mầm mống của một nghệ sĩ bậc thầy, một nhà viết văn xuôi tuyệt vời trong tương lai.

Tiểu thuyết Vađim còn chưa được kết thúc. Nó được in lần đầu khi Lermôntôv đã qua đời nhiều năm.

Lúc 20 tuổi, Lermôntôv tốt nghiệp trường võ bị, được phong sĩ quan kỵ binh trong đội cận vệ ngự lâm của trung đoàn Guxarxki. Trung đoàn đóng tại Hoàng thôn, còn Lermôntôv sống với bà ngoại ở Peterburg, đi đến trung đoàn để luyện tập, duyệt binh và trực. Cuộc đời rực rỡ của người sĩ quan cận vệ mở ra trước mắt anh.

Thế nhưng đó không phải là cuộc sống trong mơ ước của Lermôntôv. Cũng như thuở thanh niên trước đây, anh đã ước mơ về chiến công và tranh đấu, đã viết rất nhiều. Chẳng bao lâu sau đó, Lermôntôv đã bước chân vào quỹ đạo của thế giới thượng lưu, đã tham dự các vũ hội và các vũ hội hóa trang - ở đâu anh cũng là một vị khách giàu khát vọng. Bà ngoại sung sướng trước những thành công của đứa cháu, còn anh thì nói trong thử gửi cho người bạn mình M. A Lôpukhina thế này: “Bề ngoài tương lai của tôi có vẻ huy hoàng, nhưng thật ra đã bắt đầu đi xuống và trống rỗng. Tôi cần bạn hiểu cho là càng ngày tôi càng tin rằng tôi sẽ không bao giờ đạt được kết quả nào cả; với tất cả những khát vọng tuyệt đẹp và những bước đi lầm lạc của tôi trên đường đời.”

Năm 1837 đã tới. Ngay từ đầu năm, Lermôntôv đã viết bài thơ Bôrôđinô, anh viết bài thơ nhân lễ kỷ niệm 25 năm trận đánh lớn Bôrôđinô.

Trong bài thơ này, người cựu chiến binh Nga kể cho người lính trẻ nghe trận đánh Bôrôđinô. Ông mô tả đêm trước trận đánh, diễn biến của nó. Ông kể về tâm trạng của những người lính Nga trước cuộc giao tranh, về tình yêu nồng nàn của nhân dân Nga đối với Tổ quốc, tình yêu này đã và vẫn luôn luôn giúp họ bảo vệ nền độc lập của mình, đánh trả lại kẻ thù.

Hơn một trăm năm đã trôi qua kể từ khi bài thơ ra đời, nhưng cho đến giờ đây chúng ta đọc nó vẫn với tình cảm tự hào về dân tộc mình. Vào những ngày bọn Hitle xâm lược Maxcơva – thủ đô vĩ đại của chúng ta – trên nhiều tờ báo chiến trường, trên những tờ truyền đơn kêu gọi chiến đấu, trong các bài hát nhiều lần những dòng thơ trích từ Borôđinô được nhắc lại:

“Sau lưng há không phải Maxcơva?

Thì anh em hãy chết trước thành đô

Như những người anh em xưa đã chết!

Và chúng tôi thề liều thân chẳng tiếc,

Và trung thành giữ trọn lời thề,

Tiến trận Bôrôđinô. (8)

Đây là tác phẩm đầu tiên Lermôntôv muốn giới thiệu với Puskin, bài thơ được đăng trên tạp chí Người cùng thời của ông. Nhưng Puskin đã không còn nữa – tháng giêng năm 1837 Puskin đã bị giết.

Tin về cái chết của nhà thơ vĩ đại đã gây chấn động Lermôntôv. Trong cơn đau xót và tuyệt vọng, anh đã viết bài thơ Cái chết của nhà thơ. Anh đã thẳng thắn và dũng cảm biểu hiện trong bài thơ tình cảm và suy nghĩ của hàng triệu người.

Puskin bị giết. Ai là kẻ giết ông? Đó là Đantex, một người ngoại quốc tới Maxcơva “để săn lùng hạnh phúc và cấp bậc”, con người mang trái tim trống rỗng chưa khi nào bị bắt quả tang là kẻ đã giết nhà thơ vĩ đại nhất nước Nga. những kẻ phạm tội chính của vụ giết người cùng với Đantex là những tên thuộc tầng lớp thượng lưu, bọn quý tộc giàu có, “những đám người khát máu đứng cạnh ngai vàng, những tên đao phủ của tự do, thiên tài và vinh quang”. Cùng với Sa hoàng, bọn này căm thù và truy lùng Puskin. Chúng sợ những vần thơ tố cáo của ông và chúng muốn ông chết. Lermôntôv đã nguyền rủa bọn người này, nỗi khing bỉ và lòng căm giận hừng hực của những dòng thơ ông hướng thằng váo chúng.

Cùng người bạn Xviatôxlav Raevxki, Lermôntôv đã sao bài thơ ra làm nhiều bản và bài thơ lập tức được lan truyền bằng các bản sao này. Tất cả những ai yêu quý Puskin đều đọc bài thơ với trái tim đau xót: “Bài thơ về cái chết của nhà thơ Puskin trên những bản chép tay đã bí mật thấm sâu vào ngay chúng tôi cũng như ở những nơi khác. Nó khiến chúng tôi xúc động sâu sắc. Với lòng nhiệt tình vô hạn, chúng tôi đã đọc và ngâm nga nó trong những phút giải lao giữa các giờ học... Chúng tôi bị lay động, đâu đâu cũng với lòng căm phẫn sâu xa, tất cả tâm hồn tràn ngập cảm hứng anh hùng – có lẽ chúng tôi chuẩn bị làm một việc gì hữu ích. Sức mạnh của những vần thơ Lermôntôv nâng chúng tôi lên như đám cháy bùng lên từ những vần thơ này lan rộng ra. Chưa hẳn có khi nào trên đất Nga lại xuất hiện những vần thơ gây được ấn tượng mãnh liệt ở khắp mọi nơi như thế” – Một sinh viên thời ấy, nhà nghiên cứu nghệ thuật tương lai Vlađimir Vaxilevich Xtaxôv nhớ lại.

Những vần thơ của Lermôntôv bị Sa hoàng chuyển đi với dòng chư “Lời kêu gọi tiến hành Cách mạng”.

Lermôntôv và Raevxki bị bắt. Như những sĩ quan khác, Lermôntôv ngồi ở một căn phòng trên gác thượng tại ngôi nhà của Bộ tham mưu. Lình gác bước dọc hành lang sau cửa ra vào, bên ngoài bão tuyết gầm rít. Không có gì để viết: Có lệnh cấm đem bút chì và giấy viết cho Lermôntôv. Khi đó anh yêu cầu người phục vụ mang đồ ăn của gia đình tới cho anh hãy gói bánh mì bằng giấy đen, và thế là trên những mẫu giấy vàng với rượu vang, bồ hóng, lò sưởi và diêm, anh đã viết được một bài thơ ngắn:

Bạn là ai

            Người láng giềng rầu rĩ của tôi

Tôi yêu bạn

Như người bạn của thưở thanh xuân

Như người đồng chí buồn rầu

Cho dù ta mãi bị chia lìa

Bởi trò chơi hiểm sâu của số phận

Giờ là bức tường còn sau là tầng bí mật.

Anh hướng tới bạn đồng ngục cạnh phòng mình để viết. Anh cảm thấy họ cùng chung một số phận, ý nghĩ và tình cảm của họ cũng giống anh. Ngoài bài Láng giềng này ra, tại đây Lermôntôv còn viết bài Tù nhân  Khi cánh đồng lúa vàng nổi sóng.

25 tháng 2 năm 1837 lại có lệnh tiếp: “Đoàn cận vệ ngự lâm của trung đoàn kỵ binh Guxarxki chuyển Lermôntôv về trung đoàn Nigiegôrốt với cấp bậc tương đương” còn viên thư ký tỉnh Raevxki “do việc tuyên truyền những vần thơ này... phải chuyển đến phục vụ tại tỉnh Ôlônhetsơ theo đề nghị của viên tỉnh trưởng ở đây”. Khi hay biết về số phận của Raevxki, Lermôntôv rất buồn. “Bạn Raevxki thân thương! – Anh viết thư trả lời Raevxki – Bạn không thể tưởng tượng nổi lá thư của bạn đã làm tôi vui sướng đến mức nào đâu. Nỗi bất hạnh của bạn luôn đè nặng lên lương tâm tôi, ý nghĩ về việc bạn đang phải đau khổ vì tôi luôn hành hạ tôi...”

Hình như mệnh lệnh trên còn là khoan dung đối với Lermôntôv. Nhưng trung đoàn Nigiegôrốt hiện đóng tại Kavkaz nơi đang xảy ra chiến sự. Người ta chuyển Lermôntôv tới vùng lửa đạn với hy vọng sẽ vĩnh viễn thoát khỏi nhà thơ nổi loạn. Nhưng Lermôntôv biết cách xử sự như cần phải xử sự. Không phải ngãu nhiên trong bài thơ Con dao găm viết muộn hơn anh đã nói:

Đúng, tôi sẽ không thay đổi, tôi hồn tôi sẽ vẫn cứng cỏi

Như bạn, như bạn, người bạn cứng rắn của tôi.

Nhiều ngày trên đường đi Lermôntôv tận mắt nhìn thấy những dảy núi Kavkaz tuyết phủ, rồi sau đó anh đi dạo quanh các làng bản, tối đến ngồi tại nhà người dân cùng cao nào đó, hoặc vai đeo súng, ăn vận theo kiểu Tsekexka đi lên những dãy núi cao thì anh cảm thấy mình hầu như là một người hạnh phúc. “Nỗi buồn tiêu tan, tim xao động, ngực đập tốt” – anh viết cho Xviatôxlav Raevxki.

Lermôntôv vẽ nhiều, viết bằng thuốc màu, tạo ra nhiều phác họa và những bức tranh phản ánh khe núi Đariali với lâu đài Tamara, nhiều cảnh hoang tàn trên bờ sông Aragva, vùng ngoại vi Tiphlixơ (Tbilixi), bức Chân dung tự họa vẽ Lermôntôv trong kiểu ăn vận Tserkexka với áo buốc ca khoác trên vai.

Tại Kavkaz thời ấy có các nhà tháng Chạp bị lưu đày sinh sống. Nicolai I “khoan dung” thay việc đẩy họ đi Xibir bằng việc phục vụ quân đội tại “Xibir ấm áp” – như khi ấy những nhà tháng Chạp gọi Kavkaz.

“Lermôntôv thường ghé thăm chúng tôi – một trong số những nhà tháng Chạp bị đày ở đây nhớ lại – Ông nói nhiều và thú vị cho chúng tôi nghe về các vấn đề khác nhau theo thế giới quan chính trị - xã hội của riêng mình”. Anh đặc biệt yêu thích nhà thơ – nhà tháng Chạp Alecxanđr Ivanôvich Ôđôevxki, tác giả bài thơ nổi tiếng viết phản ứng việc lưu đày Puskin tới Xibir. Ôđôevxki bị đày 12 năm, sau đó chuyển tới Kavkaz và chết ở đây.

Tôi biết rõ về anh

Trên những quả núi phương Đông

Chúng tôi cùng phiêu bạt với anh

Cùng chia sẽ thân tình

Nỗi buồn đau của cuộc đời xua đuổi.

Lermôntôv sau đó có viết trong bài thơ Những kỷ niệm của A. I. Ôđôevxki như vậy.

Vào thời lãng du ấy, Lermôntôv quan sát đời sống của người dân miền núi, ghi lại các bài hát, những truyền thuyết và truyện truyền khảu dân gian. Tại Tiphlixơ, anh làm quen với các nhà thơ Gruzia Nicôlai Baratasvin, Grigôri Ôrbelian, Alecxanđr Tsavtsavađz, với nhà bác học, nhà thơ Azerbaiđgian Mirzơ Phalati Akhuđôv. Akhuđôv hiểu tốt tiếng Nga. Qua ông, Lermôntôv học tiếng Azerbaiđgian. Cả khi Lermôntôv dịch truyện cổ Asic – Kerib thì Akhuđôv cũng đã giúp anh. Lermôntôv không thay đổi chi tiết nào trong câu chuyện này – nhà thơ chỉ kể lại bằng tiếng Nga một cách tuyệt vời , và có thể Akhuđôv đã đọc cho anh nghe bản trường ca nổi tiếng của mình khi Puskin qua đời: “Phải chăng ngươi, kẻ lạc loài, không nghe biết gì về Puskin, về người đứng đầu các nhà thơ (9)? Và về điều này nữa của Puskin: Lời ngợi ca vang dội gấp trăm lần từ khắp nơi trên mặt đất sau những bài ca nhí nhảnh hiện giờ của ông!... Dường như chim rời tổ ấm, tâm hồn của ông bay đi – và tất cả, già cũng như trẻ, liên kết với nhau bởi nỗi đau xót. Trong sự oán trách và lòng xót thương, nước Nga kêu lên theo ông: Bị giết bởi bàn tay độc ác của tên cướp hòa bình.”

Các nhà thơ Nga và Azerbaiđgian đã nói về Puskin bằng những lời khác nhau, nhưng tình yêu và nỗi xót đau sâu sắc thì như nhau, và điều này đặc biệt đã xích họ lại gần nhau.

Có thể trước khi bị lưu đày lúc còn sống ở Peterburg, Lermôntôv đã bắt tay vào viết Bài ca về Sa hoàng Ivan Vaxilevich, người trẻ tuổi chống lại sự chuyên chế, người lái buôn Kalasnicôv dũng mãnh. Tại Kavkaz anh tiếp tục viết Bài ca của kẻ bị lưu đày Lermôntôv. Khi đó Valixi Anđrêevich Giukôxki, người rất thích Bài ca bắt đầu chạy chọt giấy phép xuất bản và đã thành công.

Hình như Lermôntôv không sáng tác Bài ca mà nhà thơ chỉ viết lại bài hát Nga cổ xưa với lời lẽ của người kể chuyện cổ tích nào đó. Nhân vật của Bài ca là Xtêpan Kaslanikôv mạnh mẽ và tự hào; để bảo vệ lương tâm và nhân phẩm cùa mình ông đã giết tên sĩ quan Sa hoàng. Vì điều đó Sa hoàng đã xử tử ông. Kaslanikôv điềm tĩnh bước lên máy chém như thách thức Sa hoàng: Ông hiểu và cùng với ông, người đọc hiểu rằng lẽ phải đứng về phía ông. Hình tượng những con người quả cảm và dũng mãnh trong truyền thuyết xa xưa của vùng Kavkaz cũng như trong các bài dân ca, các truyện cổ và tráng sĩ Nga luôn cuốn hút Lermôntôv. Những bức tranh về đời sống Maxcơva được phản ánh một cách tuyệt vời trong Bài ca: Bữa yến tiệc ở chỗ Sa hoàng Grônznhi, cảnh sống của các gia đình thương gia ngày ấy, vụ ẩu đả trên sông Maxcơva, việc hành hình Kalasnikôv...

Tháng giêng năm 1838, Lermôntôv từ nơi lưu đày trở về Peterburg, tháng hai nhà thơ lên đường đến trung đoàn Guxarxki ở Nôvgôrôđ nơi anh phải phục vụ. Theo yêu cầu của bà ngoại đến tháng tư anh lại chuyển sang phục vụ tại đội cận vệ ngư lâm của trung đoàn Guxarxki đóng ở Hoàng thôn.

Vào thời gian ấy Bài ca được in trong “Những khoảng phụ cấp văn chương” dành cho “người tàn tật Nga” nhưng cùng với tên của tác giả dưới bài thơ là chữ ký: “-V”. “Chúng tôi không biết tên của người sáng tác Bài ca... – Belinxki viết – Tuy nhiên nếu đây là thử nghiệm đầu tiên của cây bút trẻ thì chúng tôi không sợ bị coi là những kẻ dự đoán giả dối khi cho rằng nền văn chương của chúng ta có một tài năng mạnh mẽ và độc đáo”.

Thời gian này ngoài Bài ca Lermôntôv còn viết vài trường ca và vở kịch, tiếp tục sáng tác tiểu thuyết Vađim, bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết mới Nhân vật của thời đại chúng ta, sửa lại lần thứ nam và thứ sáu Ác quỷ, viết hơn ba trăm bài thơ. Tuy nhiên số thơ có lẽ còn lớn hơn rất nhiều – một số chính Lermôntôv làm thất lạc, số khác có lẽ nằm trong cuốn album nào đấy mà cho tới giờ vẫn chưa tìm ra, số còn lại có lẽ bị mất trong lúc chuyển thư tín đi. Vào thời ấy người ta chuyển thư tín bằng ngựa, đường xá thì tồi tệ. Những giao thông viên chuyển thư tín luô phải gặp những mối nguy hiểm khác nhau: Phải chống trả những người miền núi thỉnh thoảng tấn công trên đường, phải lội qua sông, qua những dòng nước chảy xiết. Thường thường để thoát thân, những người đưa thư ném thư tín đi. Nhiều bài thơ được sáng tác ở Kavkaz vào thời kỳ lưu đày đầu tiên, sau khi sửa chữa. Lermôntôv đã ghi vào vở chuyển cho bè bạn ở Peterburg, những bài thơ ấy bị thất lạc như thế.

Lermôntôv thường cương quyết cự tuyệt việc in các bài thơ của mình. Năm 1835 một người bạn đã chuyển bản trường ca Khađgi Abrek tới một tạp chí, và ở đó người ta in tác phẩm này. Khi ấy Lermôntôv tỏ ra rất không hài lòng.

Dẫu sao, Ác quỷ của Lermôntôv, các bài thơ Những lời than vãn của người Thổ Nhĩ Kỳ, Cái chết của nhà thơ cùng nhiều tác phẩm khác của anh đã nổi tiếng ở nhiều nơi. Chép lại chúng là những học sinh trường trung học, học viên trương dự bị, những nông nô biết chữ, nhà văn, sĩ quan và những người sống ở trong tỉnh. Các bài thơ của Lermôntôv được sao đi chép lại ngang với những bài thơ bị cấm lưu hành của Rưlêev, Puskin, với vở hài kịch Khổ vì trí tuệ của Gribôeđôv, Chuyến đi từ Peterburg đến Maxcơva của Rađiev. Những tác phẩm đặc biệt được ưa thích người ta chép lại không chỉ để cho bản thân mà còn dành cho những người ruột thịt và bạn hữu. Chẳng hạn, Alếchxây Vaxilevich Kôlisôv đã viết cho Belinxki rằng ông ta chép lại Ác quỷ cho Belinxki.

Hầu như gia đình nào cũng đều có các cuốn sổ chép thơ và văn xuôi. Thời ấy sách xuất bản không nhiều, chỉ những bài thơ được phép lưu hành mới được đăng trong các hợp tuyển và tuyển tập. Vì vậy những người ưa thích văn chương phải tự mình tập hợp tuyển tập chép tay riêng cho mình. Đôi khi những tuyển tập như thế có đến nghìn trang, cho nên nhiều người bắt tay vào việc thu thập văn chương ngay từ tuổi ấu thơ. Khi đọc hồi ức của những người khác nhau về thời kỳ xa xăm này, chúng ra sẽ biết những cuốn sách trọn vẹn ngày nay in hàng triệu bản đã được chép lại với tình yêu và lòng kiên trì đến mức nào,

Đầu năm 1839 trên tạp chí Bút ký về Tổ quốc bắt đầu xuất hiện một số thơ của Lermôntôv: Suy tưởng, Thi sĩ, Đừng tin vào mình và vài bài khác. Vào thời gian đó Belinxki đã chuyển tới Peterburg và bắt đầu phụ trách mảng phê bình của tạp chí này. Tập hợp quanh tạp chí là các nhà văn như Gertsen, Ôgarev, Kôltsôv, Lermôntôv, và muộn hơn chút ít là Nekraxov, Turgenev. Hầunhư trong số mới nào của Bút ký về Tổ quốc đều xuất hiện một hoặc một vài bài thơ của Lermôntôv, trích đoạn Nhân vật của thời đại chúng ta, những bài báo lớn của Belinxki.

“Tôi nhớ chúng tôi đã bổ nhào tới cuốn sách mới của tờ tạp chí cới lòng say mê và háo hức đến mức nào – Xtaxôv khi đó còn đang học nhớ lại – Đó là lúc người ta mang tới chỗ chúng tôi khi trang sách còn chưa ráo mực. Họ thường bán vào giữa trưa sau lúc chúng tôi ăn xong. Ở đó chúng tôi gần như giành nhau cuốn sách, chúng tôi mua lại ở người khác cái quyền đọc nó sớm hơn mọi người. Rồi tất cả những ngày sau đó chúng tôi chỉ có chuyện ban bạc, tranh luận, giải thích về Belinxki và Lermôntôv”.

Đối với Lermôntôv đó là những năm tháng mà quan hệ giữa anh với chính phủ Sa hoàng càng ngày càng gay gắt. Nơi đây, những kẻ trợ giúp chủ yếu cho Sa hoàng Nicôlai I là Bá tước Benkenđôrph, kẻ suốt đời săn lùng Puskin, là trưởng phòng số ba – cảnh sát bí mật của Sa hoàng – tướng Đubelt, là bộ trưởng Bộ giáo dục Bá tước Uvarôv, kẻ vì lòng căm thù văn chương Nga đã nói: “Cuối cùng tôi muốn rồi văn chương Nga sẽ chấm dứt sự tồn tại của mình, và khi ấy ít nhất tôi cũng sẽ yên lòng mà ngủ ngon”, bọn người này không mệt mỏi trong việc để mắt tới mọi thứ, tới mọi người. Chỉ sự biểu hiện không hài lòng nhỏ nhất đối với chính quyền củng có thể bị tống giam, bị lưu đày.

Ở nước Nga, cuộc sống của những người trung thực mong muốn làm việc vì lợi ích của Tổ quốc càng ngày càng trở nên khó khăn hơn. Vậy làm gì bây giờ? Đó là câu hỏi mà hàng ngàn, hàng ngàn người trẻ tuổi tự đặt ra cho bản thân. Đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi này, nhiều người đã bị dằn vặt trong trạng thái bất hành động, họ mất lòng tin vào những ước mơ thời trai trẻ của mình, về nền tự do của Tổ quốc, về hạnh phúc của nhân dân, và họ thành người “thừa”, vô dụng.

Tôi đau lòng nhìn vào thế hệ

Mà tương lai trống rỗng tối đen

Mớ kiến thức nghi ngờ lại chất nặng thêm

Thế hệ ta sẽ già trong nhàn tản

Ta đã đủ đầy khi mới vào cuộc sống

Những lỗi lầm, óc thông minh quá muộn của cha ông

Cuộc sống dày vò như đường băng vô định

Như bữa tiệc trên bàn khách lạ

Với thiện ác đều thờ ơ nhục nhã

Đường công danh ta đã sớm quy hàng

Ta đơn hèn ô nhục trước nguy nan

Ta – nô lệ đáng khinh bên quyền lực (10)

Lermôntôv viết như thế trong bài thơ Suy tưởng khi hướng tới những người đương thời, trách cứ họ bởi tình trạng bất hành động, bởi sự nhụt chí một cách hèn hạ. Chính anh không biết sống và không muốn sống yên ổn; như Puskin, anh khao khát hoạt động, khao khát tranh đấu; anh cảm thấy rõ rệt trách nhiệm nhà tơ của mình trước Tổ quốc, trước nhân dân. Anh biết rằng vũ khí đầu tranh duy nhất của anh là thi ca, rằng anh không có quyền im lặng. Đôi khi bạn bè cảm thấy mọi chuyện đến với anh thật dễ dàng và nhanh chóng. Họ từng chứng kiến vào những giây phút cảm hứng trên những mẫu giấy anh đã viết các bài thơ như Nhừng đám mây đen, Bài hát ru con Côdắc.

Người ta kể rằng, có lần ở Kavkaz anh dừng lại tại một căn nhà của một người đàn bà Côdăc giản dị đang đặt đứa trẻ ngủ và hát bài dân ca buồn bã về cuộc sống đang chờ đợi người con trong tương lai, một cuộc sống hoàn toàn lo âu và nguy hiểm. Lermôntôv đứng nghe hồi lâu và Bài hát ru con Côdắc đã nảy sinh ngay tại đó. Người ta cũng nói rằng bản trường ca Mtsưri cũng được viết ra nhanh chóng thoải mái như thế. Nhưng khi được viết gần như liền một mạch như vậy, bản trường ca này trước khi được sáng tác đã sống nhiều năm trong tâm hồn nhà thơ. Anh đã đặt vào đó những tình cảm tha thiết nhất, những tư tưởng rõ rệt nhất mà nhiều lần anh đã trải qua và suy ngẫm. Trong tác phẩm anh có kể về một chú bé người miền núi bị bắt làm tù binh và bị đưa tới tu viện. Vốn lớn lên trong tự do, vào thời gian dài chú không sao quen được vối thân phận từ túng và chú bị khổ sở bởi nỗi buồn, bởi những ước mơ về xứ sở quê hương.

Một lần vào một đêm thu, chú rời khỏi tu viện:

Đã từ lâu tôi định sẵn trong tôi

Phải nhìn lại những cánh đồng xa tắp

Xem mặt đất có chăng tươi đẹp

Xem chúng ta sinh ra ở đời này

Để được sống tự do hay bị tù đày (11)

Mtsưri sống trong cảnh tự do được vài ngày. Chú nhìn thấy bầu trời xanh thẳm, những cánh đồng diễm lệ, những dảy núi vùng Kavkaz tuyết phủ quanh năm. Chú nhớ tới ngôi nhà của cha và làng quê mình. Chú dũng cảm đánh nhau với con báo và đã chiến thắng nó. Tuy bị thương, con vật vẫn không muốn quy hàng chừng nào hcưa bị ngất đi. Các tu sĩ tìm thấy chú lại phải sống ở một nơi chán ngấy. Mtsưri chết. Trước lúc chết chú kể cho vị thầy tu già nghe những câu chuyện về mình, về cuộc sống và những ước mơ của bản thân:

Tôi chỉ biết với nỗi niềm suy tưởng

Chỉ biết một niềm say – nung nấu sục sôi

Một niềm say quằn quại sống trong tôi

Luôn đốt cháy, làm tâm hồn day dứt (12)

Khát vọng nồng nhiệt ấy hướng tới sự tự do, tới cuộc đấu tranh từng sống trong tâm hồn mỗi người lương thiện tha thiết với tự do. Những suy nghĩ, tâm trạng và ước mơ của Mtsưri chính là những suy nghĩ, tâm trạng và ước mơ của mọi người tiên phong trong thời đại đó. Bởi vậy, nhiều người này đã say sưa đọc bản trường ca đến mức ấy và bản trường ca đã gây xúc động trong lòng họ đến mức ấy.

Nhiều năm sau khi bản trường ca được viết ra, nhà toán học Nga danh tiếng Xôphia Kôvalevxkaia còn nhớ lại rằng khi đọc Mtsưri trong nhiều ngày liền, bà như người mất trí vừa đi đi lại lại vừa đọc thì thầm những dòng thơ rút ra từ tác phẩm. Khi ấy bà mới 15 tuổi, nhưng bà đã bắt đầu hiểu tư tưởng sâu xa của bản trường ca. Cuộc sống ở nước Nga Sa hoàng với những nhà tù và bọn hiến binh với bọn nhu nhược và phản bội với những kẻ không biêt đến hạnh phúc của tình yêu Tổ quốc, không coi trọng vinh quang của Tổ quốc, cuộc sống như thế đã trói buộc bà, đã trói buộc hàng nghìn chàng trai và cô gái Nga, đã trói buộc chính Lermôntôv.

Về loại người đó – về kẻ phản bội Tổ quốc – thì ngay thời gian anh viết “Mtsưri” Anh đã hoàn thành một bản trường ca khác Kẻ đào ngũ. Trong bản trường ca anh kể một truyền thuyết miền núi về Garun nhu nhược, kẻ đã bỏ chạy khõi chiến trường”

Garun chạy nhanh hơn hươu núi

Nhanh hơn thỏ lẩn trốn đại bàng;

Hắn hoảng hồn rời bỏ bãi chiến trường

Nơi dòng máu Tsekexơ tuôn chảy;

Cha và hai anh hắn đã bỏ mình nơi ấy,

Đã hi sinh vì danh dự, tự do;

Đầu họ nằm lăn lóc dưới chân thù

Trog cát bụi máu vẫn còn đang chảy,

Đang gào kêu tiếng gọi báo thù.

Nghĩa vụ quên rồi quên cả nhuốc nhơ,

Garun vứt súng gươm trong lửa trận

Và giờ đây hắn dăng chạy trốn!

Garun trở về nhà một mình, theo phong tục của vùng núi Kavkaz, hắn phải báo thù cho cái chết của cha và các anh mình. Hắn dẵ không làm việc đó; trong nỗi hoảng sợ hắn đã bỏ chạy khỏi chiến trường. Hắn không có quyền hưởng sự âu yếm của cô gái, tình bạn của các chiến hữu, và cả tình yêu thương của người mẹ.

Thôi câm đi! Tên tà giáo gian ngoan

Mày không thể hi sinh tròn danh dự

Thì bước đi, một thân tìm chốn ngụ

Ta chẳng đem điều ô nhục nhuốc nhơ

Lầm vẩn tuổi già, tên đào ngũ nhuốc nhơ

Không, không phải con ta – mày là tên hèn, tên nô lệ! (13)

Bà mẹ đã nói với hắn như vậy.

Khi mất đi tất cả, Garun đã tự kết thúc cuộc đời mình – không còn chỗ dành cho hắn tên qiê cha đất tổ.

Lermôntôv thường nghĩ suy trước những vấn đề lớn lao – về tự do, về tình yêu Tổ quốc, về lòng quả cảm và lương tâm trong quan hệ với bản thân và với mọi người như vậy đấy.

Anh viết nhiều nhưng chưa bao giờ thực sự hài lòng về bản thân. Anh hay hủy thơ mình đi không đọc cho một ai nghe cả. Anh hoài nghi chính mình và không phải bao giờ anh cũng tin rằng rồi thơ mình sẽ được in ra. Anh lắng nghe ý kiến phê bình của bạn bè một cách thoải mái và theo như người ta kể lại thì không bao giờ với tư cách là tác giả anh lại tự ái một cách giả tạo.

Mỗi bài thơ mới của Lermôntôv đều khiến Belinxki sảng khoái. Một lần sau khi đọc xong Vào những phút khó sống Belinxki thốt lên: “Thật tuyệt vời làm sao! Thế mà anh ấy – Lermôntôv – còn hỏi có nên sử dụng hay không kia đấy!”

Lermôntôv càng ngày càng nổi tiếng: người ta nói về anh, người ta gắng làm quen với anh. Thế nhưng anh biết rõ rằng trong giới thượng lưu có người ưa thích anh lại có không ít kẻ thù của anh. Sống giữa giới quý tộc trống rỗng, anh buồn rầu và chán ngán, trách nhiệm của một sĩ quan cận vệ đè nặng lên anh. Anh bắt đầu ngày càng ít tiếp xúc với tầng lớp trên, ngày càng kiên tâm khẳng định rằng anh muốn từ chức để hiến thân hoàn toàn cho văn chương.

Anh có những người quen mới. Anh bắt đầu tới thăm nhà Ekaterina Anđrêevna Karamzina – vợ góa nhà văn Karamzin, ở chỗ nhà văn Vlađimir Pheđôrôvich và Alêcxanđra ôxipôvna Xmirnôvaia, nơi anh gặp Vaxili Anđrêevich, Alêcxanđr Ivanovich Turgenev, người đã tiễn đưa Puskin đến nơian nghỉ cuối cùng. Tất cả những bạn bè này của Puskin đều ưa thích và đánh giá cao nhà thơ trẻ.

Khi đó Lermôntôv đặc biệt gần gũi với nhóm trẻ tuổi. Nhóm này gồm 16 người – họ gọi nhóm mình như thế: “Nhóm 16 người”.

Tối tối sau vũ hội hoặc ở rạo hát các thành viên của nhóm tụ tập lại. Họ nói về mọi vấn đề: về nhà hát, về quá khứ và tương lai của nước Nga, về những nhà tháng Chạp, về các tác phẩm văn chương mới ra đời. họ nói một cách thẳng thắn, bàn luận một cách kiên quyết và gay gắt về mọi chuyện. Tiếng đồn đại về nhóm này chẳng bao lâu đã lan ra khắp thành phố đã đến tai giới lãnh đạo từng đe dọa “hủy hoại ổ đó”.

Lermôntôv không giấu giếm mối quan hệ của mình đối với giới quý tộc và đối với chính phủ. Những vần thơ tố cáo thẳng thừng của anh đã trở nên nguy hiểm đối với chính quyền. Chống lại anh là tất cả bọn người hèn hạ tồi tệ từng lưu đày và hành hình những nhà tháng Chạp, từng giết Puskin. Chúng lại quan tâm đến việc là làm sao để dọn nốt nhà thơ bất an này. Vũ xích mích giữa anh và con trai vị Công sứ Pháp được lén lút sắp đặt. Hắn đã thách thức Lermôntôv đấu súng. Kẻ thù của Lermôntôv hy vọng rằng trong cuộc đấu súng đó hoặc anh sẽ bị giết hoặc có thể anh sẽ bị kết án là đã giết người Pháp nọ. Cuộc đấu súng được sắp xếp vào tháng 2 năm 1840 nhưng nó đã kết thúc không đổ máu. Lermôntôv bị bắt và bị giam ở Ôrđônanx – Gauz, tên gọi nhà tù sỉ quan Peterburg.

Vixxariôn Grigôrievich Belinxki đã tới thăm anh tại đây. Lần đầu tiên sau thời gian quen biết nhau họ nói chuyện lâu và thân tình về văn chương, về Puskin và về bản thân Lermôntôv. Nhớ lại cuộc gặp gỡ, Belinxki viết: “Cách đây không lâu tôi có ở chỗ anh ấy tại nơi giam cầm, và lần đầu tiên tôi nói chuyện với anh ấy một cách chân tình. Một tâm hồn mạnh mẽ và sâu sắc biết bao! Quan điểm nghệ thuật của anh ấy thật chính xác, thị hiếu về cái đẹp thật sâu sắc và thật sự giản dị. Ôi, đây sẽ là nhà thơ Nga cao như đỉnh tháp Ivan Veliki! Một tư chất tuyệt vời!”

Thágng 4 năm 1840, Lermôntôv chuẩn bị cho cuộc lưu đày thứ hai ở Kavkaz.

Buổi tối cuối cùng trước khi lên đường bạn bè tập trung đề chia tay anh. Hết thảy mọi người đều xúc động và buồn rầu. Lermôntôv đứng cạnh cửa sổ nhìn bầu trời mùa xuân của của Peterburg và đọc bài thơ mới của mình Những đám mây đen – Rất có thể bài thơ vừa được viết ra.

Hỡi mây trời , đám hành hương vĩnh cửu!

Qua thảo nguyên xanh thẳm, núi nạm cườm

Các ngươi hay, như ta, kẻ đày ải

Từ Bắc phương thương mến xuống trời Nam

 

Ai đuổi mây: Phải chăng là số mệnh?

Hay nỗi ghen thầm kín? Hận điên cuồng?

Hay tội lỗi là ngươi lận đận?

Hay bạn bè đã giá họa vu oan?

 

Không, chẳng qua các ngươi chán đất nghèo.

Đâu biết say mê, đâu tường đau khổ

Muôn thuở lạnh lùng, tự do muôn thuở,

Tổ quốc không, ai đày ải các ngươi (14)

Anh đã so sánh số phận của mình, một nhà thơ bị xua đuổi với những vị khách lãng du vĩnh viễn – những đám mây đen.

Từ lâu rồi lúc còn là một cậu thanh niên 16 tuổi, khi nghĩ đến Puskin, Lermôntôv đã viết bài thơ trong đó có khổ này:

Chúng ta bị xua đuổi

Khỏi đất nước thân thương

Bị chèn ép ở khắp nơi

Như tự do thân thiết;

Anh sớm được thiên nhiên ban tặng

Tư tưởng và tâm hồn cao thượng;

Anh nhận ra cái ác

Và trước cái ác

Vầng trán kiêu hãnh của anh

Không cúi xuống bao giờ

Là một người mãnh liệt, nồng nhiệt, tâm hồn luôn mở rộng đón nhận tất cả cái đẹp, lòng tràn ngập những dự đồ sáng tạo, anh chấp nhận cảnh lưu đày với phẩm giá của mình. Cũng như Puskin, anh tự hào trước việc mình bị xua đuổi. “Cần có lòng kiêu hãnh vô hạn để ngẩng cao đầu khi tay chân bị xích chặt” – Gertsen đã viết về anh như thế.

Đầu tháng 5, Lermôntôv lên đường tới Kavkaz. Trên đường đi anh có dừng lại ít ngày. Mồng chín tháng năm anh có mặt trong bữa cơm thánh ở chỗ Nicôlai Vaxilievich Gôgôl. Gôgôl sống tại cánh đồng thánh nữ cạnh nhà sử học Pôgôđin. Trong khu vườn lớn trên con đường rợp bóng cây gia rộng rãi, bàn đại lễ được bày ra. Nhiều khách nữa đã tề tựu. Trong những vị khách này có diễn viên Mikhain Xememôvich Sepkin, nhà thơ Epghênhi Abranôvich Baratưnxki, bạn của Puskin Petr Anđrê – Evich Biazenixki, và những nhà văn, nhiều nhà bác học danh tiếng khác. Khách ngồi vào bàn khi Lermôntôv xuất hiện ở cuối con đường. Anh vận bộ p\quân phục của trung đoàn Tengiuxki – màu xanh lá cây với cổ áo màu đỏ. Mọi người chào anh vui vẻ và ồn ào. SAu bữa ăn người ta lên tiếng yêu cầu anh đọc một cái gì đó trong số tác phẩm của mình. Anh đọc trích đoạn bản trường ca mới Mtsưri và đã được tất cả tán thưởng. Sang ngày hôm sau, Gôgôl và Lermôntôv lại gặp nhau. Họ trò chuyện tới hai giờ sáng. Đó là cuộc gặp gỡ lần thứ hai cũng là cuộc gặp gỡ lần cuối cùng của hai nhà văn Nga vĩ đại.

Tại Xtavrôpôl nơi Lermôntôv phải đến, anh bị biệt phái tới đội quân đang đánh trả những người miền núi. Trong số các sĩ quan ở đây anh có những người bạn – đó là em trai Puskin, Lev Xergâyvich và những người khác, đồng thời anh có cả những kẻ khiến anh khó chịu – đó là những sĩ quan cận vệ, những kẻ thuộc tầng lớp thượng lưu tham gia các trận đánh chỉ vì quân hàm và những tấm huân chương.

Lermôntôv là một người bạn trung thành, tình bạn với anh là một thứ tình cãm thiêng liêng. Bạn bè chân chính đánh giá cao anh vì lẽ đó. Họ tin vào tâm hồn cao thượng của nhà thơ, vào trái tim giàu yêu thương của anh, cho dù đôi khi họ cũng có giận anh bởi một biệt danh đích đáng nào đó, bởi ngôn ngữ sắc nhọn và tính hay đùa nghịch của anh.

Lermôntôv ở lại đội quân này suốt mùa hè và mùa thu. Trong các cuộc đụng độ quyết liệt cũng như trong các cuộc hành quân gian khổ anh đã khiến tất cả mọi người kể cả những kỵ sĩ dày dạn phải kinh ngạc vì lòng can đảm và sự hiên ngang của mình. Binh lính yêu quý anh – với họ anh cư xử thật giản dị, anh cho rằng cần phải chia sẽ cùng họ tất cả những khó khăn của cuộc đời chinh chiến.

Trận đánh trên sông Valevich (nghĩa là “Sông chết”) là một trong những trận đánh ác liệt nhất. Về trận đánh này Lermôntôv đã kể trong bài thơ cùng tên.

Giản dị, chân thật và chính xác, bài thơ kể về sự chuần bị trận đánh, về sự tấn công của toàn đội lên phía trước, về trận giao tranh cuối cùng và về ngay chíh cuộc chiến đấu.

Cuộc chiến đấu kéo dài

Suốt hai giờ trong dòng nước chảy

Như thú rừng

Họ bị vằm nát thật thương tâm

Trong lặng im

Nước ngập tận ngực người

Trận đánh kết thúc. Bạn bè, đồng chí ngã xuống. Tất cả đều im ắng.

Cánh rừng cạnh bên

Phủ trong sương mù

Xanh trong khói súng

Còn ở nơi đây

Những dãy núi nhấp nhô phía xa

Mãi mãi kéo dài, bình tâm, kiêu hãnh

Và đỉnh nhọn Kazbêch lung linh

Với nỗi buồn thẳm sâu đằm thắm

Tôi nghĩ: Hỡi con người tội nghiệp

Ngươi muốn gì!...

Dưới bầu trời rạng rỡ

Đủ trú chân cho hết thảy mọi người

Sao riêng mình ngươi

Luôn thù hằn vô ích

Để làm gì?

Trong trận này cũng như trong các trận khác Lermôntôv đều tỏ ra xuất sắc. Ba lần anh được đề nghị tặng huân chương, nhưng Nicôlai I không phê chuẩn một đề nghị nào cả.

Trong khi Lermôntôv đang chiến đấu ở Kavkaz thì tác phẩm văn xuôi lớn đầu tiên của anh Nhân vật của thời đại chúng ta được lan truyền khắp nước Nga. Lermôntôv bắt tay vào viết tác phẩm này năm 1837, anh thai nghén nó trong thời kỳ lưu đày đầu tiên khi còn ở khu an dưỡng nước khoáng nóng, đi khắp các làng Côdắc vùng Kavkaz, ở thành phố nhỏ ven biển Taman nơi suýt nữa anh bị bọn buôn lậu giết, và khi anh lưu lại Grudia.

Trừng phần riêng biệt của truyện vừa này – Bela, Người tin vào định mệnh, Taman – được xuất bản từ năm 1839 đến đầu năm 1840 trên tạp chí “Bút ký về Tổ quốc”, và giờ đây thêm hai phần – Công tước tiểu thư Meri, Macxim Macximưtr được in ra với tên gọi chung Nhân vật của thời đại chúng ta. Nhân vật này là ai vậy? Đó là Pesôrin – sĩ quan cận vệ bị chuyển từ Peterburg tới trung đoàn Kavkaz. Là một người thông minh, amnh5 mẽ, kiêu hãnh, anh ta không thể tìm thấy sự thích ứng cho các sức mạnh của mình vào thời kỳ ngưng trệ bắt đầu sau cuộc khởi nghĩa của những nhà tháng Chạp. Anh cãm thấy mình là một kẻ cô độc không thể hiểu nổi. Anh tiêu phí cuộc đời mình trong những công việc vặt vãnh chính vào lcú anh cảm thấy mình sinh ra là để hiến thân cho một mục đích cao cả đặc biệt nào đó. Tuy nhiên, anh không biết nhận ra mục đích này như nhiều nhà văn người Nga ưu tú đã nhận ra.

Bên cạnh nhân vật chính Pesôrin, Lermôntôv còn mô tả một người Nga trung thực, tốt bụng phục vụ ở Kavkaz – sĩ quan Macxim Macximưtr, cô gái đẹp kiêu kỳ Bela – cô gái một quận vương miền núi – và tiểu thư quý tộc, nữ công tước Meri, họ là những cô gái một lòng một dạ yêu thương Pesôrin. Trong cuốn tiểu thuyết chúng ta còn bắt gặp nhiều người khác, những người Lermôntôv đã gặp trong thời gian lãng du của mình khắp Kavkaz. Anh hiểu biết sâu sắc và đánh giá đúng đắn tất cả những người này. Đồng thời anh hiểu rõ phong tục tập quán của dân miền núi, mô tả một cách tuyệt vời thiên nhiên Kavkaz mà ngay từ tuổi ấu thơ anh đã từng yêu thích.

Belinxki viết về cuốn tiểu thuyết: “Chúng tôi không ca ngợi cuốn sách nhỏ này, những lời ngợi ca đối với nó cũng vô nghĩa như sự vô hại của những lời chửi rủa. Không một ai, không một điều gì ngăn cản được bước đi và sự tiếp nhận của nó chừng nào bản cuối cùng cảu tác phẩm chưa đến tay người đọc... Điều đó sẽ tiếp tục cho đến khi người Nga vẫn nói bằng tiếng Nga”.

Chính chúng ta được biết cả nước Nga đã đọc và yêu quý thiên tiểu thuyết này của Lermôntôv như thế nào rồi. “Khi ấy tôi 16 tuổi – con gái của Puskin nhớ lại – tôi đã say sưa đọc Nhân vật của thời đại chúng ta với niềm thích thú của tuổi trẻ, và thế là tôi đã hỏi mọi người về Lermôntôv, về những chi tiết trong vụ đấu súng và trong cuộc đời của ông.” Gôgôl, Tsekhôv, Tôlxtôi, Gorki đều đánh giá cao áng văn xuôi này của Lermôntôv. “Chúng ta còn chưa có ai viết được thứ văn xuôi chải chuốt và chính xác đến như vậy” – Gôgôl nói. Muộn hơn sau đấy, Tsekhốp đã nhiều lần nhắc lại rằng ông chưa biết “thứ ngôn ngữ nào tuyệt vời hơn ngôn ngữ của Lermôntôv”. Còn Tôlxtôi thì nói: “Biết bao sức mạnh ẩn chứa trong con người ấy! Ông sẽ có thể làm được những gì nữa! Ông khởi đầu và ngay tức khắc đã có uy quyền đến thế!”

Mùa thu 1840 lúc Lermôntôv còn đang chiến đấu ở Sesna thì ở Peterburg tập Thơ M. Lermôntôv đã ra mắt bạn đọc. Chuẩn bị in tập thơ này, Lermôntôv đã chọn lựa 26 bài trong số vài trăm bài. Anh cũng đưa vào tập sách hai bản trường ca Bài ca về Sa hoàng Ivan Vaxilevich, người trẻ tuổi chống lại sự chuyên chế, người lái buô ndũng Kalasnicôv dũng mãnh  Mtsưri. Tuyển tập không lớn nhưng nó đã thực sự củng cố thêm vinh quang của nhà thơ lớn.

Đầu năm 1841, bà ngoại khi ấy đã già và yếu cậy cục được cho cháu quyết định trở về Peterburg để gặp bà. Lermôntôv hi vọng sẽ được ở lại Peterburg, xuất ngũ và hiến thân cho văn chương. Chưa bao giờ anh cảm thấy dồi dào sức sáng tạo như chuyến đi này. Belinxki có dịp gặp anh khi đó nói rằng có nhiều ý đồ sáng tạo văn chương nảy ra trong đầu Lermôntôv, anh ao ước viết ba cuốn tiểu thuyết về ba thời kỳ trong đời sống xã hội Nga: Thời đại Ekaterina II, Alecxanđr I và thời kỳ hiện đại.

Trên tạp chí “Bút ký về Tổ quốc” lần lượt xuất hiện những bài thơ của Lermôntôv. Bài thơ Tổ quốc được in trong số tháng 4. Dường như anh đặt toàn bộ sức mạnh của tình yêu đất nước nồng nàn của mình vào đó. Trên đất nước ấy, trong các vùng thôn quê ảm đạm, dưới những má inhà lợp rạ của nông thôn, nhân dân thân yêu đang sống, đang bị đày đọa trong cảnh mất tự do.

Lermôntôv ở tại Peterburg được hơn hai tháng – anh được lệnh phải rời thủ đô trong vòng 48 giờ.

Lúc ra đi anh ném vào mặt kẻ thù của mình, bọn thượng lưu quý tộc “Vần thơ đanh thép được rưới đẫm nỗi đắng cay và lòng công phẫn”:

Xin từ biệt nước Nga

Chưa được tẩy sạch

Đất nước của nông nô của các ông chủ

Xin từ biệt những bộ quân phục màu xanh

Và nhân dân trung thành

Có thể sau bức tường Kavkaz

Tôi sẽ phải ẩn mình

Từ con mắt soi mói khắp nơi

Từ lỗ tai ngóng nghe khắp chốn

Của những tên đại thần.

Anh cảm thấy lòng trĩu nặng và tràn đầy lo âu. Từ biệt bạn bè, anh có nói về cái chết đang tới gần. Một người bạn, nhà văn Vlađimir Phôđôrôvich Ôđôevxki có tặng anh cuốn sổ tay bìa da cứng, trên trang đầu nhà văn viết: “Cuốn sổ cũ yêu quý này của tôi trao cho nhà thơ Lermôntôv với mong muốn là chính tay bạn sẽ hoàn lại cho tôi khi viết tới trang cuối cùng của nó”.

Ngay trên đường đi, Lermôntôv đã viết cho bạn mình X. N. Karamzina: “Tôi không rõ điều đó có còn được duy trì nữa hay không, nhưng trong thời gian đi đường con quỷ thi ca đã chiếm lĩnh tôi... Tôi đã viết đầy nửa cuốn sổ Ođôevxki tặng tôi và có lẽ nó mang tới hạnh phúc cho tôi”.

Trong cuốn sổ tay của anh còn lưu lại những bài thơ buồn rầu và lo ngại cuối cùng: Lá sầu, Ghềnh đá, Tôi ra đường một mình...

Đường xa cất bước một mình tôi;

Đá lát tỏ mờ qua sương phủ

Đêm lặng. Ruộng đồng im dõi Chúa

Và sao trời tình tự cùng sao.

 

Trời cao trang trọng và diệu kỳ

Biếc xanh say mộng đất đê mê...

Sao tôi đâu đớn, sao day dứt?

Tôi đợi chờ chi? Thương tiếc chi?

 

Nhưng không thiếp giấc ngủ dưới mồ...

Tôi muốn soa ngàn năm thiếp đi

Mà trong ngực sức đời âm ỉ

Nhịp phập phồng hơi thở thầm thì.

 

Và ngày đêm bên tai thủ thỉ

Giọng ngọt ngào cùng tôi tình tự

Cây sồi năm tháng mãi xanh tươi

Lao xao cành ngã xuống đầu tôi. (15)

Bản thân Lermôntôv đã không thể hoàn lại cuốn sổ tay ấy – cũng như Puskin, anh đã bị giết trong một cuộc đấu súng.

Thách Lermôntôv đấu súng là bạn học cũ của anh tại trường võ bị tên là Martưnôv, đó là một kẻ trống rỗng và ti tiện. Đã phát hiện được những kẻ gắng nhen lên trong hắn ngọn lửa hằn thù chống lại Lermôntôv. Chúng đã làm cho hắn tưởng rằng Lermôntôv đã chế nhạo hắn một cách độc ác. Bọn người này biết rằng cái chết của nhà thơ sẽ có lợi cho chính phủ Sa hoàng, và rồi cái chết ấy xảy ra mà chúng không hề bị trừng phạt.

Cuộc đấu súng được sắp đặt không xa Piatigôrxk dưới chân núi Masuc. Đã xế chiều. Đám mây giông đen lơ lửng trên núi. Những người làm chứng cho hai địch thủ thỏa thuận ám hiệu. Lermôntôv trầm tĩnh đứng yên sau khi đã nâng nòng súng ngắn lê – anh không muốn bắn. Martưnôv tiến đến gần rào chắn, ngắm hồi lâu rồi bắn. Lermôntôv đã ngã xuống.

Chuyện đó xảy ra vào ngày 17 tháng 7 năm 1841.

 

 

Chú giải:

(1)   Rút từ “M. IU. Lermôntôp – Thơ” NXB Văn học – Hà Nội – 1978.

(2)   Rút từ “M. IU. Lermôntôp – Thơ” (SĐD).

(3)   Nghĩa là “Nền nhà – Bàn”, “Con mèo – Cửa sổ nhỏ”.

(4)   Elbruxơ: vùng cao nhất Kavkaz.

(5)   Rút từ “M. IU. Lermôntôp – Thơ” (SĐD).

(6)   Rút từ “M. IU. Lermôntôp – Thơ” (SĐD).

(7)   Rút từ “M. IU. Lermôntôp – Thơ” (SĐD).

(8)   Rút từ “M. IU. Lermôntôp – Thơ” (SĐD).

(9)   Nguyên văn: “Về nóc tròn của đại giáo đường các nhà thơ”.

(10)   Rút từ “M. IU. Lermôntôp – Thơ” (SĐD).

(11)   Rút từ “M. IU. Lermôntôp – Thơ” (SĐD).

(12)    Rút từ “M. IU. Lermôntôp – Thơ” (SĐD).

(13)    Rút từ “M. IU. Lermôntôp – Thơ” (SĐD).

(14)    Rút từ “M. IU. Lermôntôp – Thơ” (SĐD).

(15)   Rút từ “M. IU. Lermôntôp – Thơ” (SĐD).

 

Comments