Xuân Thiều với các nhà văn trẻ

Các nhà phê bình đã viết nhiều về Xuân Thiều với tư cách là nhà văn. Tôi nghĩ, Xuân Thiều còn có con người khác, nếu không được tìm hiểu đến nơi đến chốn, sẽ khó hoàn tất chân dung văn học về ông. Tôi muốn nói, Xuân Thiều còn là một nhà tổ chức sáng tác có nhiều đóng góp trong một công việc đòi hỏi nhiều tâm huyết, ấy là việc phát hiện và bồi dưỡng văn tài trẻ cho văn chương nước nhà.

Nhiều người quen Xuân Thiều đều biết rõ là có một thời gian dài ông đảm đương nhiều chức trách quan trọng ở Văn nghệ Quân đội và Hội Nhà văn trực tiếp liên quan đến các cây bút trẻ. Nhưng nếu chỉ để hoàn thành trách nhiệm không thôi thì chẳng như Xuân Thiều đã làm. Tác phẩm hoặc bản thảo gửi đến, đọc và cho ý kiến (khen, chê và khuyên nhủ...), thế là xong phận sự, chả còn gì áy náy, thậm chí còn có thể hài lòng, thỏa mãn là đằng khác. Xuân Thiều không vậy, mặc dù ông có thể làm vậy mà chả ai có quyền chê trách ông cả. Là nhà văn giàu ý thức nghề nghiệp, có ai không thiết tha được viết. Bao ấn tượng thúc bách, bao món nợ tinh thần lên tiếng đòi phải đền đáp cho xứng đáng. Mà thời gian thì cứ âm thầm trôi đi, lạnh lùng và quái ác...Có điều, dường như còn một món nợ tinh thần khác luôn nhắc nhở ông, khiến lòng ông không thể nguôi ngoai cho được. “Giúp đỡ anh chị em viết trẻ - Xuân Thiều tâm sự - tôi vui lây với những thành quả của họ. Lại có cảm nhận như trả nợ đời. Khi mới tập viết, tôi đã hàm ơn biết bao người đi trước. Không có nhiều lời bảo ban của lớp người đi trước, chắc là đời văn của tôi sẽ ngắn ngủi đi nhiều” (1, tr.159). Những lời gan ruột có thể nói là rất Xuân Thiều này được viết ra vào năm 1994 trong một bài tiểu luận có nhan đề Thành bại một đời văn. Tôi đọc đi đọc lại những ký ức được ông chân tình ghi lại bởi những con chữ có hồn: “Bài thơ đầu tiên được đăng ở tờ Sinh hoạt văn nghệ (tiền thân của tờ Tạp chí Văn nghệ Quân đội) tạm gọi là suôn sẻ, nghĩa là được anh Xuân Thiêm tước bỏ cắt xén một số câu rườm rà. Bức thư anh Xuân Thiêm gửi cho tôi, đại ý bảo rằng: “giống như mùa đông ta mặc áo ấm, chỉ một hai cái là đủ, nếu bó vào năm sáu cái mà xem, ngứa ngáy, khó chịu và cũng không thở được” (1, tr.159). Bài thơ mà Xuân Thiều vừa nói dẫu sao cũng được công bố. Có nhiều bản thảo của Xuân Thiều còn không được in ra, như bút ký Những người ở phía trước mà ông vẫn không quên tấm lòng bao dung, cái nhìn nhân hậu của những người đồng nghiệp đi trước. “Người đọc đầu tiên - Xuân Thiều nhớ lại - là anh Từ Bích Hoàng. Anh Hoàng là người điềm tĩnh, tế nhị, và là người đọc rất tinh. Anh pha nước mời thuốc tôi cẩn thận rồi tủm tỉm cười: “Tôi tin là anh viết rất chân thực, anh Thiều ạ! Nhưng cứ như thế này thì khó dùng quá! Thế này là dội gáo nước lã vào...điển hình “Ba nhất”. Nhất định các cụ “sẽ thổi còi”. Anh thông cảm nhé” (1, tr.166-167).

Cứ lấy mình ra mà ngẫm về người, có phải do vậy mà ông đọc các cây bút trẻ say mê và hết lòng đến thế. Và còn rất thiêng liêng, cứ như ông đang đảm nhận thiên chức nghề nghiệp của mình vậy, một thiên chức không thể thoái thác đã đành, mà còn được làm một cách tự giác, phải hoàn thành cho bằng được. Chả thế ông đã có quyền khước từ việc đọc hai bản thảo dày hàng 500 trang của những tác giả không quen biết từ tận Đồng Nai gửi ra nhờ đọc hộ. Tuy nhiên, Xuân Thiều đã làm việc cẩn trọng “như một biên tập viên thực thụ”, lại còn viết thư trả lời “với những nhận xét tỉ mỉ và gợi ý cho họ sửa chữa” (1, tr.170). Một trong hai tập bản thảo ấy có tên là Cuộn lên của tác giả Đặng Ngọc Nga, giáo viên phục hồi chức năng trẻ khuyết tật trường Lòng tin ở Vĩnh Tân, Vĩnh An. Tôi có biết chị. Sau này, Nhà xuất bản Đồng Nai ấn hành cuốn sách, chị có tặng tôi. Trên bìa 4, thấy in rất trang trọng nhận xét của nhà văn Xuân Thiều: “Tôi hết sức vui mừng vì Ngọc Nga đã trăn trở, khổ đau và có thể nói là khá dũng cảm khi đặt vấn đề nhân sinh đầy thú vị qua tiểu thuyết này”.

Tôi thầm khâm phục ông mà trong lòng vẫn không thôi áy náy. Chắc ông đã bỏ ra nhiều thời gian và công sức lắm đây. Lại ở tuổi ngót 70 rồi. Thường vào tuổi ấy, người ta đã tính chuyện “kiểm kê” tài sản của riêng mình, cái gì đã làm - cái gì chưa, cái gì không thể - cái gì có thể làm được, nếu...nếu như...Rồi sẽ có tiếng thở dài bất chợt được nén lại, kèm theo ý nghĩ vừa tỏ bày sự biện minh vừa tỏ bày nỗi buồn chán: Thôi! “Lực bất tòng tâm”, đành chịu vậy, biết làm sao được! Sự nao lòng của tôi khi nghĩ về tuổi tác và sức khỏe của Xuân Thiều phần nào được khỏa lấp, ấy là lúc tôi được đọc những dòng chân thực sau đây của ông: “...Đọc của tác giả trẻ cũng có nhiều thú vị. Ngoài việc góp ý giúp đỡ anh em, tôi còn cảm thấy mình gần gũi với cuộc sống hơn, hấp thụ cái tươi mới, cái trẻ trung từ bút pháp, văn phong đến cảm xúc nếp nghĩ của những người cầm bút trẻ” (1, tr.170). Thế là đã rõ, ông không chỉ biết “cho” mà còn biết “nhận” nữa. Và cứ theo mạch nghĩ này thì có thể suy ra rằng biết đâu văn nghiệp của Xuân Thiều sẽ khác đi cả về bản sắc lẫn tầm vóc nếu không được lây truyền cái sức sống trẻ trung “tươi mới” kia!

Hóa ra việc tìm hiểu mối quan hệ giữa Xuân Thiều với các nhà văn trẻ không chỉ bổ sung cho những hiểu biết về sự cống hiến của ông mà còn giúp cho việc tìm hiểu ngay chính văn nghiệp của ông. Tôi chợt nghĩ đến truyện ngắn Tiếng đất của Xuân Thiều. Tác phẩm xoay quanh mối quan hệ gắn bó sâu xa rất thiêng liêng giữa hai nhân vật Thống và Đào đại diện cho hai thế hệ kế tiếp nhau. Ảnh hưởng của thế hệ đi trước tiêu biểu là Thống với thế hệ sau tiêu biểu là Đào thật lớn lao và thật rõ rệt. Trên tất cả các mặt: tư tưởng và tình cảm, tâm hồn và hiểu biết. Một lần, Thống nhảy thình thịch trên mặt đất hỏi bọn trẻ xem đất nói gì. Đào thưa: “Đất bảo: học, học, học!”. Thống lao tới ôm choàng lấy Đào kèm theo lời khen: “Em giỏi lắm!”. “Học” trong nhận thức của Đào được hiểu theo nghĩa rộng, vì thế “giỏi” trong lời khen của Thống cũng được mở rộng ý nghĩa như thế. Suốt đời mình, Đào đã nghe theo tiếng nói, đúng hơn là lời nhắc nhủ của Đất, để đến lúc trưởng thành anh có thể giải đáp cho Thắm một cách chắc chắn như dao chém đá rằng: “Đất bảo cuộc đời là một chuỗi dài những câu hỏi cần giải đáp. Điều quan trọng là phải giải đáp đúng. Khi đã tin lời giải đáp hoàn toàn chính xác, con người sẽ tự do và đầy đủ sức mạnh” (Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 3/1994).

Thói thường, để duy trì được mối quan hệ tốt đẹp bao giờ cũng phải tùy thuộc vào cả hai phía. Ta xem phía thế hệ đi trước ở đây là tấm lòng và những hiểu biết của Xuân Thiều ra sao? “Tôi thực sự vui mừng chào đón những tài năng trẻ” (1, tr.255). Tưởng như ông không thể kìm được lòng mình reo lên như thế! Đến cái tên của bài viết cũng rất lạ - Những giọng văn trẻ trung mới mẻ. Đúng là tiếng nói cảm xúc. Đây là cảm xúc đằm thắm và rất đỗi chân thực. Không một chút đãi bôi. Không phãi nói cho hay, nhằm khích lệ người qua đó để tôn vinh mình. Cứ lần theo cách bộc lộ cảm xúc của Xuân Thiều khi đọc các tác phẩm của các nhà văn trẻ thì rõ. Đọc xong Bức thư gửi mẹ Âu Cơ của Y Ban, ông thốt lên: “Thiệt là tuyệt vời!” (1, tr. 225). Còn với một tác giả chưa hề quen biết khác – Phạm Ngọc Tiến? Ông bị cuốn vào truyện Chạy trốn, một tác phẩm theo Xuân Thiều là “hoàn chỉnh và thú vị”. Niềm vui dạt dào đến độ ông nảy ra khao khát được gặp bạn văn để cùng chia sẻ. Ông lập tức cuốc bộ đến Toàn soạn Văn nghệ Quân đội, vớ được Thao Trường liền hỏi:

- Này, Phạm Ngọc Tiến là anh nào thế cậu?

Thao Trường ngớ ra tưởng là có chuyện gì nghiêm trọng đã xảy ra. Nếu không phải thế thì sao vị nhà văn đã bước qua tuổi lục tuần kia (chuyện xảy ra vào năm 91) lại cảm kích đến thế.

- Có việc gì không anh? – Giọng của Thao Trường đượm vẻ lo âu.

- Mình vừa đọc truyện Chạy trốn. Được lắm. Đọc xong cứ đau đời...

Chỉ khi ấy Thao Trường mới vỡ lẽ ra (1, tr.231). Đó cũng là nỗi xúc động của Xuân Thiều khi đọc Người và xe chạy dưới ánh trăng của một tác giả trẻ khác – Hồ Anh Thái, kém ông 30 tuổi, nghĩa là cách ông tới hai thế hệ cầm bút: “Tôi đọc...chăm chú và liền một mạch. Cảm giác khi gấp sách lại là thoải mái, thú vị, như vừa được trò chuyện với một bạn bè tâm đắc” (2, tr.183).

Tôi có may mắn là người gần gũi ông, được ông xem là bạn vong niên có thể giãi bày cả những suy nghĩ thầm kín nữa. Vậy nên, tôi không lấy làm lạ trước lối bộc lộ cảm xúc của Xuân Thiều. Duy cách đánh giá phóng khoáng, không mấy dè sẻn của ông trước các cây bút trẻ thì thú thật không ít lần khiến tôi nghi ngại. Xin hãy cùng đọc những nhận xét của Xuân Thiều đối với truyện Ngựa ô của Lý Lan. Đó là “một truyện ngắn xinh xẻo duyên dáng mà ý tứ không kém phần sâu sắc”. Vậy là đủ, là đúng mực. Nhưng đoạn sau thì có lẽ hơi vượt quá giới hạn cần phải có: “Đọc truyện này làm ta liên tưởng tới Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu hoặc Vĩnh biệt Gônxarư của Aimatốp” (1, tr.236). Đáng nói hơn cả là những đánh giá của Xuân Thiều đối với thơ Phùng Khắc Bắc. Xin được nói ngay, tôi là người luôn tôn trọng thơ Phùng Khắc Bắc. Nhiều bài của thơ anh viết như do một sức mạnh bí ẩn nào dẫn dắt, như có ngọn lửa linh thiêng nào soi sáng nên lạ lùng lắm. Tuy nhiên, có phải Xuân Thiều đã đánh giá quá cao khi gọi Phùng Khắc Bắc là “một tâm hồn thơ lớn tự lãng quên”, khi bảo thơ anh là thơ “chính trị siêu việt” (1, tr.36-41). Tôi nghĩ, có thể quá đau xót trước sự ra đi của Phùng Khắc Bắc nên sự đánh giá thơ anh ở Xuân Thiều và ở nhiều người khác nữa có hơi quá lên chăng?

Rất may, đó chỉ là phần nhỏ, phần cá biệt, không phải là toàn bộ cách suy nghĩ, lối ứng xử của Xuân Thiều đối với các nhà văn trẻ. Đại thể thái độ của ông là đúng mực: hiểu họ, tin họ, biết khích lệ họ. Đặc biệt luôn đòi hỏi cao ở họ. Kết thúc bài viết về tập truyện Thác rừng của Thao Trường, ông không quên yêu cầu: “Hiển nhiên, người đọc có quyền đòi hỏi anh viết hay hơn nhiều nữa, viết tốt hơn nữa” (1, tr.256). Có lần, trong buổi gặp gỡ thân tình với các nhà văn trẻ, một vài cây bút gọi ông là nhà văn lão thành, Xuân Thiều nói vui: “Lão thì đúng là lão rồi, còn thành thì phải xem lại chắc gì đã thành”. Tôi không nghĩ là ông chỉ nói đùa cho vui. Sự khiêm nhường với những người cầm bút nhất là những cây bút trẻ có lẽ không bao giờ thừa cả. Câu nói của những người sành nghề, sành đời như Xuân Thiều không phải là vô tình. Càng không phải là vô cớ.

Tôi muốn kết thúc bài viết của mình bằng việc nhắc lại một kỷ niệm của Xuân Thiều với Lê Chưởng – một người luôn được Xuân Thiều yêu mến và kính trọng. Một lần, Lê Chưởng đọc và hỏi ý kiến nhà văn về một loạt bài thơ do chính vị tướng này sáng tác.

- Thơ anh giàu cảm xúc nhưng hơi thơ nghe phảng phất cái hào khí của cổ thi.

Lê Chưởng cười:

- Thơ mình cổ là phải. Cổ so với cậu, mà cậu rồi cũng sẽ cổ so với bọn nhà thơ trẻ bây giờ. Đó là quy luật. Nhưng cậu có công nhận là “vô cổ bất thành kim” không nào?

Vâng, quả vậy, không có lớp người đi trước thì sao có lớp người đi sau. Nhất là trong lớp nhà văn đi trước lại có những người giàu nhiệt huyết, giàu trách nhiệm như nhà văn Xuân Thiều. Tấm lòng và ý thức của họ như ngọn lửa kia luôn tiếp sức nóng cho các thế hệ đến sau. Và, “chỉ có ngọn lửa là không bao giờ cổ cả”.

 

                                                                 Chú thích:

(1)   Xuân Thiều - Tiếng nói cảm xúc – Nxb Lao động, Hà Nội, 1996.