Vươn tới những đỉnh cao trong sáng tạo

Như một số điạ phương khác, tạp chí văn học nghệ thuật của Lâm Đồng nơi tôi đang sống lấy tên ngọn núi cao nhất vùng làm tên gọi: LangBian. Qua khí thiêng sông núi, chúng ta muốn gửi gắm khát vọng sáng tạo không cùng của chính mình. Đã nhiều lần, tại các diễn đàn văn chương lớn, tôi được nghe những tiếng nói chân tình mà da diết xoay quanh nỗi ao ước: cần sớm có những đỉnh cao trong sáng tạo. Nhà thơ Lò Ngân Sủn chân tình bộc lộ: “Tác phẩm văn học dân tộc miền núi của chúng ta muốn được cả đất nước biết đến, muốn được cả thế giới biết đến để cùng đọc, cùng suy ngẫm, ngưỡng mộ thì phải như các hoa hậu, á hậu” (1-1). Còn vị Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Sơn La - Đinh Ân thì nói một cách ví von: “Làm  thế  nào  để  vượt qua  khói  bếp  nhà sàn ?” (1-2). Có người bảo, đó là đòi hỏi muôn thuở mà cũng chả riêng gì đối với các nhà văn dân tộc thiểu số, đặt vấn đề ấy ra xem chừng vu khoát quá! Tôi thì không nghĩ vậy. Đã đành đây là chuyện của mọi thời, mọi người, nhưng với chúng ta, vào lúc này vẫn là chuyện đáng bàn nhất. Không ai không thấy những đóng góp về nhiều mặt, đi liền với những trưởng thành về nhiều mặt của văn chương các dân tộc thiểu số nước ta từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay. Ta hoàn toàn có quyền tự hào về những gì ta đã làm. Nhưng liệu đánh giá sau của nhà thơ Dương Thuấn đã thật sự thuyết phục mọi người: “Bây giờ ta có hẳn một đội ngũ nhà văn gồm nhiều dân tộc được cả nước biết đến, tác phẩm của họ được phổ biến rộng rãi ở trong nước và cả nước ngoài” (1-3). Có lẽ, cần khe khắt hơn trong việc nhìn nhận những gì đã có, bởi bao giờ nó cũng là tiền đề cho chúng ta đi tiếp, đi nhanh và xa hơn…

Vậy đâu là những khâu mắc nhất cần được tháo gỡ? Tôi chỉ xin đi vào hai điểm mà bản thân cho là chính yếu nhất.

1. VẤN ĐỀ SÁNG TÁC BẰNG TIẾNG  DÂN TỘC

Chuyện hệ trọng này tưởng đã được giải quyết, nhưng trong thực tế vẫn còn được đặt ra, có trường hợp không thể nói là không cấp thiết đến mức nóng bỏng. Xin được đưa ra một ví dụ. Ở ta có hai nhà thơ dân tộc Dao, một già một trẻ, đó là Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn. Họ có hai cách ứng xử gần như khác nhau đối với việc sáng tác bằng tiếng dân tộc. Nhà thơ lão thành Bàn Tài Đoàn bao giờ cũng viết bằng tiếng Nôm - Dao rồi sau đó mới dịch ra tiếng Việt. Nhà thơ Triệu Kim Văn thì quan niệm: “Không phải chỉ có một cách viết bằng tiếng mẹ đẻ, mà vấn đề là viết bằng lối suy nghĩ, bằng tâm hồn, bằng trái tim của dân tộc mình, nói được vấn đề mà dân tộc mình muốn nói” (1-4). Từ đó, anh coi viết  thẳng bằng tiếng Việt phổ thông mà nhà thơ bảo là “đi tắt” làm chính…

Tôi dám chắc không chỉ dân tộc Dao mới nảy sinh chuyện này. Ý nghĩa phổ biến của nó là điều dễ thấy. Vậy nên  giải quyết sao đây? Trước hết, ta mừng vì không một ai băn khoăn là nên có hay không bản sắc dân tộc trong sáng tác. Nỗi băn khoăn chỉ là: làm cách nào để gìn giữ và nâng cao bản sắc dân tộc trong sáng tạo? Ở đây tiếng nói dân tộc là một nhân tố cực kì quan trọng. Văn chương là nghệ thuật ngôn từ. Phương tiện sáng tác bao giờ cũng có vai trò to lớn trong việc thể hiện nội dung, không nên và không được phép xem thường. Trên tinh thần đấy, ta hoàn toàn có cơ sở để quý trọng những bài thơ viết bằng tiếng mẹ đẻ của Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Cầm Biêu, Vương Trung… Một số nhà thơ lớp sau cũng theo gương sáng của các bậc tiền bối như Lò Ngân Sủn, Triệu Lam Châu… Cần khuyến khích hướng đi giàu triển vọng này. Ngay cả khi do những lý do nào đấy nhà thơ, nhà văn dân tộc thiểu số viết bằng tiếng Việt, thì cái vốn tiếng mẹ đẻ quý giá kia vẫn sẽ giúp ích rất nhiều cho người cầm bút. Sáng tạo văn chương là thế, kỳ lạ lắm. Trong đó tình yêu tiếng mẹ đẻ từ máu thịt bao giờ cũng tiếp sức sống cho từng con chữ.

Đó là một mặt của vấn đề, có lẽ dễ thống nhất giữa chúng ta. Mặt khác, tôi nghĩ, yếu tố quyết định làm nên bản sắc dân tộc trong sáng tạo lại là ở cách nhìn, lối cảm, kiểu nghĩ dân tộc. Bài Bóng cây Kơnia luôn gợi cho chúng ta nhiều bài học bổ ích. Thời tôi còn học phổ thông, bài thơ được chú giải là dân ca Hơrê. Giờ thì ai cũng rõ đó là bài thơ của Ngọc Anh - một nhà thơ dân tộc Kinh. Tôi còn biết tới một trường hợp khác - nhà văn Ngọc Phượng. Chị có tập truyện Nàng Hêrat rất là… Khmer. Đến giờ không ít người còn lầm chị là nhà văn người Khmer. Tôi không quên lời kết thúc bài phát biểu tại cuộc gặp mặt các nhà văn dân tộc thiểu số tháng 9 năm 1995: “Phần tôi, bao giờ cũng mong muốn được đứng trong lòng dân tộc này để hòa chung tiếng nói đã là tình cảm thiết thân suốt cuộc đời tôi” (1-5).

Từ đó, tôi có thể chia sẻ với tâm sự ở trên của nhà thơ Triệu Kim Văn. Tuy tôi không cho rằng làm thơ, viết văn bằng tiếng Việt (tiếng Việt chứ không phải tiếng Kinh như một vài người quen gọi) là “đi tắt”. Ở đây có vấn đề quan niệm. Thiệt tình, tôi không thật hiểu một số người cầm bút tại sao lại xem tiếng Việt là một thứ ngoại ngữ. Tiếng Việt xa lạ với họ vậy sao? Tôi xin được dẫn ra ý kiến của nhà thơ Đaghextan Raxun Gamzatov - người rất được các nhà văn dân tộc thiểu số ở ta tôn sùng. Trong lời Tựa tập thơ Những ngôi sao xa, ông bộc bạch: “Tôi - con một dân tộc nhỏ nhưng kiêu hãnh. Về số dân, như người ta vẫn nói, cả dân tộc tôi có thể nằm gọn trong lòng bàn tay. Chỉ có hai mươi lăm nghìn người Ava trên trái đất…Từ rất trẻ, con trai của dân tộc tôi đã phải cầm vũ khí trong tay, ít khi được buông xuống cầm bút. Nhưng tôi may mắn được sinh ra vào lúc người Ava chúng tôi đã có thể yên tâm treo dao găm lên tường, không còn lo kẻ thù bất ngờ kéo đến. Tổ quốc của chúng tôi đã trở thành đất nước Xô Viết vĩ đại. Bố tôi - nhà thơ nhân dân Đaghextan, Gamzat Xađax - đã viết những bài thơ hay nhất về nó. Và cùng với số phận vĩ đại của nó là thơ của tôi, nỗi buồn và niềm vui của tôi” (2). Do vậy, mỗi nhà văn dân tộc thiểu số chúng ta đều có thể học Raxun Gamzatov mà nói rằng: chúng ta có hai dân tộc - dân tộc sinh ra ta và dân tộc Việt Nam yêu  dấu của hết thảy chúng ta. Chớ nên coi tiếng Việt là một thứ ngoại ngữ để rồi ứng xử với nó như một thứ ngoại ngữ xa lạ cho dầu là một thứ ngoại ngữ thiết yếu.

Trong nhiều lý do tôi quý thơ Inrasara - Phú Trạm có lý do này. Lịch sử để lại bao chuyện ngang trái trong quan hệ Kinh - Chăm. Inrasara - Phú Trạm đã tự mình vượt qua bao trở ngại lớn nhỏ để có được cái nhìn sáng sủa mà thực tế và đúng đắn của thời đại mới. Để nhà thơ kiêu hãnh được mang hai tên, như từng viết thơ bằng hai thứ tiếng, cả tiếng Chăm lẫn tiếng Việt. Và còn để những vần thơ vang lên sang sảng trong bản trường ca có tên là Quê hương, như:

Ôi  quê  hương! Quê hương

Hơi thở từ không hư lớn dậy đến vô cùng

Hơi thở trầm sâu tạo hình đất nước

Giữa đêm tối dày mò “đất nước hình tia chớp”

Trong ánh sáng vờ oà, đất nước đậm nổi đường cong xanh                                                         

Châu thổ vàng hai đầu - đòn gánh miền Trung

Bốn ngàn năm mẹ còng lưng không nghỉ

Thơ Lương Định được in hằn bởi một cá tính sáng tạo khá sâu và mạnh. Nhiều vần thơ gây được ấn tượng cho chúng ta hy vọng vào những chặng đường thơ kế theo của anh. Duy sự giao hòa giữa “bài ca riêng” với “bài ca chung” vẫn còn khiến nhiều người e ngại. Thơ anh có xu hướng khoét sâu vào nỗi buồn tha hương. Nhiều câu âm âm một nỗi buồn đau không dứt:

Nửa đời tôi sống con tim

Nửa trong quằn quại nửa tìm yên vui

Nửa đi đất khách quê người

Nửa về tạ lỗi núi đồi mẹ cha

(Một nửa)

Bất giác tôi cứ muốn hỏi anh: lẽ nào cái phần đất nước rộng lớn góp phần làm nên hồn anh và thơ anh lại xa lạ, cách biệt đến vậy? Có thể hiểu đây chỉ là cái cớ giúp anh hướng về lũng núi quê hương. Nhưng có lẽ ở đây anh đã đẩy cái tôi đi quá xa chăng?

2. CẦN VƯỢT THOÁT KHỎI TẦM NHÌN HẠN HẸP

Nhà thơ Vương Anh có lần tâm sự: “Cha tôi dẫu là nhà nho nghèo, là người Mường nho học chút ít, nên người nói rất nghiêm trang… Tôi không trách gia tài người để lại cho con cái chỉ vỏn vẹn một cái siêu đồng, đấu giá bán với vài mươi hào. Tôi ơn người để lại cái câu di chúc: “Hãy học đi để chân biết nhìn!” (1-6). Đúng, lời nhắn gửi ấy của người cha quý hơn mọi thứ trên đời. Nó có giá trị như một sự định hướng lớn. Những ai từng lầm lẫn mới thấm thía cái giá của hướng đi vốn quyết định tới mọi thành đạt trên đường đời và cả đường văn.

Trong số các nhà văn dân tộc thiểu số tôi được gặp và may mắn kết thân có nhiều người khiến tôi cảm phục bởi cái chí lớn cứ như Đăm Xăn hăm hở đi bắt nữ thần mặt trời làm vợ dẫu biết rõ rất nhiều thách thức ở phía trước. Họ luôn ấp ủ những dự đồ sáng tạo táo bạo. Và họ không quản cực nhọc dốc tâm, dốc trí, dốc sức để thực hiện chúng. Họ học tập mọi người cả những nhà văn lớp trước lẫn các bạn văn cùng thời cùng lứa. Họ trau dồi nghề viết không biết mệt mỏi. Họ sẵn lòng xé bỏ hàng tập bản thảo dày cộp khi không thấy hài lòng để lại bắt đầu từ trang giấy trắng phau. Họ chú trọng trang bị lý luận sáng tác coi như một thứ tiềm năng không thể thiếu làm nên sức bật mới. Đọc văn Ma Trường Nguyên tôi biết anh từng nghiền ngẫm thi pháp M. Bakhtin. Giọng điệu đa thanh của tiểu thuyết hiện đại đang thẩm thấu vào nhiều trang văn xuôi của anh cùng bao cây bút khác. Tôi cũng rất mừng khi được biết Lò Ngân Sủn từng gối đầu lên Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp. Thi học cổ điển Trung Hoa rất thâm thúy. Đọc, hiểu, và vận dụng được đâu có dễ. Nhưng trong nghệ thuật nào có con đường thênh thang. Và tôi biết trong những thành công được nhiều người thừa nhận của anh có công sức anh bỏ ra hàng ngày lần từng bước trên vách đá để tìm đến với nhân loại. Lần đầu đọc bài Nàng của Lò Ngân Sủn tôi hoàn toàn bị chinh phục:

Cha mẹ sinh ra nàng

Gọi nàng là người con gái

Nghệ thuật sinh ra nàng

Gọi nàng là thần vệ nữ

Nàng sinh ra lần thứ nhấ t- để chết

Nàng sinh ra lần thứ hai - để sống mãi

Dương Thuấn cũng có nhiền bài thơ mang sức khái quát cao buộc người đọc phải ngẫm nghĩ, như bài Đàn ông đàn bà: Đàn ông/ Như vạt trầm/ Càng cũ lại càng thơm/ Đàn bà/ Như bờ mương/ Lúa gặt rồi rậm cỏ.

Có thể kể ra nhiều, rất nhiều những bài thơ hay có sức rung động và sức lan tỏa như vậy. Các nhà văn, nhà thơ của chúng ta đủ tự tin để chẳng phải ganh đua với ai trừ việc ganh đua với chính mình. Tuy nhiên, tôi còn gặp những cây bút khác chưa hẳn đã hết mặc cảm tự ti. Họ cứ thích yêu cầu người khác chiếu cố đến mình. Trong đánh giá nghệ thuật, không nên và không thể ban ơn. Tạo điều kiện cho nhau, giúp nhau trên tình đồng nghiệp thì được, bao nhiêu cũng không đủ. Mong mỏi sự gia ân của người khác thì chớ nên. Thẩm định nghệ thuật là việc của thời gian và công chúng. Chả ai được quyền ban phát chân lý. Chờ đợi vào điều không thể là không tưởng. Mà lòng tự trọng cũng không cho phép. Tôi nghĩ ta cần sống bằng thực tài của mình. Ai chẳng thích được khen, vấn đề là lời khen ấy ra sao, và vì thế có hữu ích hay không. Ở đời chả thiếu gì kẻ “chết” (“chết” thật sự theo nghĩa đen) bởi những lời bốc thơm không đâu ấy đấy.

Tôi còn muốn nhấn mạnh tới  một khía cạnh khác của vấn đề. Đó là sự bình đẳng. Khi còn phân biệt là còn thiếu bình đẳng. Dạo mới sang Liên Xô vào năm 1981, tôi có để ý tới chuyện này. Trường tôi thực tập lúc ấy có nhiều cán bộ khoa học thuộc các nước cộng hòa vùng Trung Á đến bồi dưỡng. Mỗi tầng chỉ có một phòng xem tivi chung, tối đến thường đông người. Các bạn Nga có thói quen nhường chỗ cho tôi và các thực tập sinh Kazacxtan. Tôi không thấy vui mà thấy ngường ngượng thế nào ấy. Sao các bạn Nga lại quá quan tâm tới chúng tôi như vậy. Hãy xem bọn tôi như các bạn ấy đi, chúng tôi sẽ cảm thấy dễ chịu hơn nhiều… Vì lẽ đó, tôi thích tên tuổi của các nhà văn, nhà thơ dân tộc thiểu số đứng cùng và đứng ngang với những tên tuổi khác ở trong và ngoài nước. Nào, hãy cùng đọc họ. Có sự khác biệt nào đâu về trình độ và khuynh hướng. Một lần mở báo Văn nghệ tôi sung sướng đến trào nước mắt khi đọc chùm thơ của Mai  Liễu. Phải nói, chúng đã làm sang và làm sáng trang thơ. Người ta cứ trở đi trở lại với vấn đề chất lượng của thơ trong thời mở cửa. Thì đây, hãy đọc đi, ngay trên tờ báo quen thuộc của Hội. Hàng trăm bài thơ nhợt nhạt vẫn không thể làm tan đi ấn tượng của tôi về các bài Mùa bông  Bài ca riêng của nhà thơ Mai Liễu.

Đêm giấu tiếng họa mi tìm bạn ở nơi nào?

Tôi cứ nghĩ tới hòn đá hữu ý trong tay nhà thơ chao xuống mặt nước xao động trong lòng người đọc. Không chút vô tình nếu được biết sẽ có nhiều, rất nhiều con sóng lan tỏa sau câu hỏi hữu tình tưởng như dung dị ấy.

Từ lâu, tôi có thói quen xem xét nhà văn qua ý thức nghề nghiệp ở họ. Một trong những biểu hiện của ý thức nghề văn là lòng tin vào vốn liếng sẵn có trong mình. Các nhà văn dân tộc thiểu số có những cái mà các nhà văn người Kinh có nằm mơ cũng không thấy. Đó là chất miền núi trong cảm nhận đời sống. Một nhà thơ đã chỉ ra rất đúng rằng: “Rất thô sơ mà trong trắng, tự nhiên như tiếng lá rừng cây, như tiếng suối chảy. Nó giản đơn mà như hoa nở mùa xuân, lấp lánh như sao trời” (1-7). Tôi còn bắt gặp chất núi rừng thân thuộc và quý giá kia trong một bài thơ của anh Nguyễn Khôi - người Kinh mà gắn bó với đời sống người dân tộc như bất cứ người dân tộc thiểu số nào. Bài thơ bốn câu với tựa đề Trưa rừng ấy:

Trưa rừng ấy cùng em nằm yên ả

Mây trời xanh cây lá cả ngàn xanh

Chỉ có nắng ở trên lưng ngọ nguậy

Con ong vàng ve vẩy mắt long lanh

Không khí trong lành yên ả tựa trong mơ. Không đúng thế sao, nhiều người ao ước mà dễ gì có được!

Nói vậy, không phải đội ngũ các cây bút dân tộc thiểu số chúng ta không còn cái yếu và cái thiếu. Đó chủ yếu là gì vậy? Tôi nhận ra khá rõ điều ấy khi đọc ý kiến tưởng như “sách vở” sau của nhà thơ Triều Ân: “Yêu cầu về nhận thức, về tư tưởng, về tâm hồn của nhà văn thật cao, đó là sự đòi hỏi cần thiết cấp thiết về nghề nghiệp” (1-8). Và đây nữa, suy nghĩ của nhà văn người Êđê H’linh Niê: “Phải chăng điều ấy xuất phát từ cấp độ văn hóa?” (1-9). Hãy cứ đọc, chẳng hạn, văn xuôi của một số các cây bút dân tộc thiểu số thì sẽ thấy sự thể thế nào. Tài liệu ngồn ngộn;  sắc thái dân tộc đậm đà; ngôn ngữ khá giàu có… Vậy tại sao chưa đọng, chưa sâu, chưa cao, chưa lay động như cần phải có? Mọi chuyện có lẽ tùy thuộc ở khả năng xử lý chất liệu theo một ý tưởng nghệ thuật có tầm khái quát mang ý nghĩa triết lý lớn lao. Tôi xin được kể hầu các nhà  văn một mẫu mực - có thể nói như vậy - trong việc thể hiện ý đồ sáng tạo của văn hào Ts. Aitmatôv – người Kiếcghidia. Ông là nhà văn của Núi đồi và thảo nguyên, chuyên viết về con người và cuộc sống ở quê hương ông. Nhưng truyện ngắn Con chó khoang chạy ven bờ biển lại viết về cuộc sống của người Nipkh thuộc miền Đông bắc Xibéria. Chả là ông có một người bạn vốn là nhà văn đầu tiên của dân tộc Nipkh. Có lần người bạn kể cho ông nghe một câu chuyện có thật sau đây: “Khi lên bảy tuổi anh ấy ra biển săn hải cẩu cùng với ba người lớn nữa. Họ lạc trong sương mù dày đặc và mất hết đồ đoàn. Hơn hai ngày họ bị trôi dạt và hết hy vọng thoát nạn. “Thế là hết” - người ông của anh ấy nói và bảo mọi người thôi chèo. Lúc ấy một con chim lớn bay qua và những người trên thuyền chú ý theo dõi hướng bay của nó. Họ chèo theo hướng ấy và chẳng bao lâu đất liền hiện ra”. Câu chuyện thật xảy ra như vậy, nhưng trong truyện của mình, Ts. Aitmatôv chỉ cho con chim bay qua bầu trời sau khi đã xảy ra một loạt bi kịch. Người ông, người bác, cuối cùng là người cha đã lần lượt nhảy xuống biển để dành giọt nước ngọt cuối cùng cho cậu bé. Nếu cuộc sống còn tiếp tục thì cậu bé phải là người sống sót. Giải thích về sự hư cấu của mình, nhà văn nói: “Tôi không viết một truyện mạo hiểm. Tôi muốn mời người đọc suy nghĩ về những quy luật đạo đức của lòng nhân ái, về lương tâm, bổn phận, tóm lại về tất cả những gì làm cho con người có tính người”. Và triết lý của truyện ngắn đã được một nhà phê bình văn chương phát hiện ra: “Con người chỉ sống theo nghĩa cuộc đời họ được tiếp diễn qua cậu bé chừng nào họ sẵn sàng hy sinh chính mình” (3). Mượn ý thơ của Dương Thuấn, tôi muốn nói: tắm nước suối, anh mới là người của làng bản, tắm nước sông, anh trở thành người của quốc gia, và: Đóng con tàu đi ra bể/ Tắm giữa đại dương/ Mới thành người muôn nơi.

Để kết thúc, cho phép tôi được đặt niềm tin tưởng vào sự thành đạt của những nhà văn dân tộc thiểu số và sự thịnh vượng của nền văn chương dân tộc thiểu số trong nền văn chương dân tộc - hiện đại Việt Nam khi bước vào thiên niên kỷ mới.

                                   Đà Lạt, 24/5/1999

   ………………………………………………………………………………………..………

 

(1)     Nhiều tác giả – Tiếng nói các nhà văn dân tộc thiểu số, Nxb Văn hoá Dân tộc, H., 1998.  (1-1) tr.133; (1-2) tr.55; (1-3) tr.167; (1-4) tr.178 và tr.179; (1-5) tr.105; (1-6) tr.40; (1-7) tr.132; (1-8) tr.52; (1-9) tr.86.

(2)     Eđuardax Megielaitix và Raxun Gamzatôp – Con người và những ngôi sao xa, Nxb Lao động, H., 1983, tr. 68 và tr.69.

(3)     Nhiều tác giả – Nhà văn bàn về nghề văn, Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Nam - Đà Nẵng xuất bản, 1983, tr.20 và tr.21.