Tình đồng nghiệp nặng sâu, xin được nhớ mãi!

        Thế là 15 ngày dự Trại Sáng tác Nha Trang đã trôi qua thật nhanh. Hầu như ai cũng đều có cảm giác này. Cần hài lòng bởi cảm giác như thế về thời gian. Nó chứng tỏ ta đã thực sự sống hết mình cho sáng tạo. Bao dự đồ nghệ thuật cuốn ta theo. Thời gian đi bằng tốc độ của ý nghĩ. Nó còn chứng tỏ ta là một tập thể gắn bó đến mức không thể tách rời. Không ai có thể tách rời. Chỉ có thật lòng thương nhau mới thấy thời gian ở bên  nhau sao trôi quá nhanh đến vậy! Tôi muốn nhấn mạnh tới điều này vì đây là Trại Sáng tác của Hội Văn học Nghệ thuật Các dân tộc thiểu số. 15 anh chị em từ nhiều dân tộc, nhiều vùng miền của đất nước đến đây, sống hoà trong một không khí sáng tạo chung đằm thắm tình cảm đồng nghiệp. Ký ức gợi tôi nhớ tới hai khổ thơ trong bài Đồng nghiệp của Minh Hằng – một thành viên dự Trại đến từ Thái Nguyên. Có lẽ những cảm nghĩ sau phù hợp với tâm tư của nhiều người trong giờ phút kết thúc Trại, sắp sửa phải chia xa: Gặp nhau chẳng  nhiều lời/ Nhớ nhau không ồn ã/ Chỉ một cái nắm tay/ Là hiểu nhau tất cả. Đấy là cái tình, còn đây là sự sáng tạo do nghề nghiệp đòi hỏi: Niềm vui và nổi khổ/ Chúng mình nhận thật nhiều/ Ủ trong bầu tim nóng/ Thành rượu nồng tin yêu. Đồng nghiệp đã là quý. Đồng nghiệp trong một Hội đặc thù gồm tất cả các dân tộc anh em trong cả nước càng quý.  Lại từ nhiều ngành nghệ thuật khác nhau: văn thơ, âm nhạc, mỹ thuật, nhiếp ảnh, lý luận - phê bình… Chúng ta được trực tiếp gặp gỡ, bàn bạc, trao đổi về nghề nghiệp. Và nhất là về Hội của chúng ta. Được lắng nghe nhau nói. Biết bao tâm sự gan ruột. Rất nhiều trách nhiệm với dân tộc mình sinh ra, và miền đất mình gắn bó. Mọi người như giàu có thêm lên vào những ngày ở Trại.

Tôi liên tưởng tới những ý thơ giàu chất nhân văn của nhà thơ Hữu Thỉnh trong bài Hỏi. Nhân vật trữ tình hỏi Đất, hỏi Nước, và hỏi Cỏ, rằng chúng sống với nhau như thế nào? Đất đáp lời: Chúng tôi tôn cao nhau; còn Nước thì tâm sự: Chúng tôi  làm đầy nhau;  Cỏ thì thủ thỉ: Chúng tôi đan vào nhau làm nên những chân trời. Vậy đấy, tất cả 15 văn nghệ sĩ trong Trại có thể “vô tư” mà tự hào, rằng chúng ta là một tập thể thống nhất chan chứa tình người, cho dầu mỗi người một cá tính, một khuynh hướng, một sở trường…, rằng dân tộc nào, vùng miền nào cũng thế, già cũng như trẻ đã thật sự nâng đỡ nhau, làm giàu có nhau trong khát vọng sáng tạo chung vô cùng tận. Như Đất, như Nước, như Cỏ trong ý nguyện của Nhà thơ Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Nói theo cách nói của nhà văn người Mông Mã A Lềnh thì chúng tôi là một dàn đồng ca thống nhất, tuy mỗi người đều giữ lấy giọng điệu riêng không hề trộn lẫn: Hát chung cùng những bạn Khme Hậu Giang, bạn Chăm Thuận Hải, bạn Ba Na, Jalai, Ê đê Đăk Lăk, bạn Kinh Hà Nội, bạn Thái Sơn La, bạn Hà Nhì Lai Châu, bạn Hmông Lào Cai… mỗi người một giọng riêng hòa thành màn đồng ca tinh khiết suối nguồn điệp trùng rừng núi rạng rỡ bình minh óng ánh trăng thu. Nhà văn người Mông ở Lào Cai viết giữa những ngày Hội Văn hóa Các dân tộc Việt Nam diễn ra ở Hà Nội cách đây đã 20 năm mà đến giờ vẫn đúng. Và tôi tin mãi mãi sẽ còn đúng…

Xin phép được dừng thật lâu ở công việc sửa chữa bản thảo tác phẩm văn chương. Vì, các thành viên dự trại phần đông là hội viên chuyên ngành văn thơ. Còn vì trong công việc cụ thể mà giàu ý nghĩa này, mỗi người chúng ta, bất kể ai, thuộc chuyên ngành nào, cũng có thể tự rút ra nhiều bài học nghề nghiệp bổ ích và thấm thía. Và để không rơi vào tản mạn, tôi chỉ xin xoay quanh mối quan hệ đồng nghiệp giữa tôi với nhà thơ gạo cội Lâm Quý. Là một người chuyên viết lý luận phê bình, tôi thầm cảm ơn anh Nguyễn Quang Huynh đến từ Lạng Sơn đã giúp tôi đánh giá thơ Lâm Quý cho xứng tầm với vị trí cuả nhà thơ dân tộc Cao Lan trong lịch sử văn chương hiện đại của Dân tộc và Miền núi chúng ta. Anh Huynh làm công tác quản lý văn nghệ nhiều năm nay, hiểu biết nhiều, giao thiệp rộng. Tôi phát hiện anh còn có khả năng thẩm định thi ca khá là khoáng đạt và tinh tường. Phần nhiều những vần thơ anh thích, nhiều người cũng thích. Anh em quen biết từ nhiều năm nay, giờ gặp lại, anh hồ hởi đọc những vần thơ mới lạ về hình ảnh, về cấu tứ của Lâm Quý và khen một cách thật lòng.

Bấy lâu tôi đọc nhà  thơ dân tộc này chưa nhiều, việc nhìn nhận thơ Lâm Quý, vì vậy, cũng chưa thật sát, đúng. Những ngày ở Trại có dịp đọc và nghĩ kỹ nhiều bài thơ của anh như Những chàng trai của núi, Đêm vùng cao, Em là tiếng hát…, tôi thấy hay một cách lạ lùng. Chúng xứng đáng đứng trong bất cứ tuyển thơ Việt Nam hiện đại nào. Tôi thầm cảm phục trái tim hồn hậu của anh. Đặc biệt là sự biểu lộ trong cách ứng xử đối với nghề nghiệp. Được học hành văn chương một cách bài bản, từng đắm mình trong kho tàng văn chương dân gian độc đáo của dân tộc, lại trải qua gần 40 năm đắm đuối với thơ, Lâm Quý thấu hiểu bao nổi nhọc nhằn của sáng tạo nghệ thuật. Riêng với văn chương, đó là lao động ngôn từ. Anh thật lòng nhờ tôi đọc bản thảo tập Hoa đỏ lửa để chuẩn bị xin giấy phép xuất bản. Không ít bài, tứ, câu, chữ còn lem bùn đất, cần phải sửa chữa, trau chuốt thêm. Lúc đầu, thật tình tôi có phần e ngại. Biết nói gì và nói ra sao? Đã có nhiều chuyện đau lòng, vui ít buồn nhiều, chung quanh việc góp ý này rồi. Tuy nhiên, tiếp xúc lâu với Lâm Quý, mọi băn khoăn dè dặt ở tôi như không cánh mà bay. Nhất là khi được soi mình vào cặp mắt chân tình một cách lạ lùng của anh. Thế là tôi mạnh dạn hẳn lên. Cứ thẳng thắn giãi bày những suy nghĩ của mình trên tình đồng nghiệp, tôn trọng nhau mà không quên khe khắt với nhau. Còn tiếp thu đến đâu, sửa như thế nào là chuyện của người viết. Suy đến cùng, chính họ phải tự chịu trách nhiệm về đứa con tinh thần của mình kia mà! Tôi đã nhận được hiệu quả nghề nghiệp lớn đến không ngờ. Cho anh Lâm Quý. Và cố nhiên, trước hết là cho tôi. Xin đưa ra một vài dẫn dụ cụ thể.

Lâm Quý lấy hai câu thơ phát biểu quan niệm sáng tạo của mình làm Đề từ cho cả tập thơ: Thơ là hoa là rượu là em/ Cũng dịu hương say nồng và khó tính. Tôi tự phân tích, đây là người viết đang trực tiếp phát biểu quan niệm về thơ. Dù được trình bày dưới hình thức văn chương cũng phải cho rành rọt, rõ ràng. Tôi đề nghị anh thêm dấu phẩy ở giữa hai từ dịu hương  say nồng. Tôi còn cảm thấy dùng từ dịu hương ở đây là chưa thật hợp. Đề nghị anh thay bằng từ thơm hương để diễn tả cái hay đa dạng của thơ. Chớ nên độc tôn một loại hương thơ nào. Càng không nên chỉ độc một loại dịu hương. Khi cần, thơ còn phải lo toan, đăng đàn, lớn tiếng nữa. Như con người ấy, có lúc thương lại có lúc giận, có khi ưu tư lại lắm khi sảng khoái. Cuối cùng, may thay, Lâm Quý nghe ra và sửa theo ý của tôi.

Hay như việc sửa bài thơ Nằm bên núi. Anh viết bài thơ đã hơn 10 năm nay. Nguyên dạng của nó như thế này:

Nằm bên núi quờ tay tìm dáng núi

Gặp phải đá mềm, lạ quá đi thôi

Nằm bên núi quờ tay tìm khe suối

Rừng núi rung lên vì có con người

Tôi thấy vóc dáng của con người trong thơ cao quá. Bấy lâu tôi cứ  tự hỏi vì sao người miền núi lại nâng tầm vóc của mình lên cao đến thế. Như ngang tầm vũ trụ vậy! Tôi nghĩ tới ý thơ về nghề của Chế Lan Viên. Sinh thời anh đòi hỏi người viết phải luôn chú ý tới cái tầm của mình. Nhà thơ bảo, chớ có tự ti. Dù anh đi qua trái đất chẳng bao ngày, dù có người bảo ta chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi, chỉ là cây sậy yếu ớt. Nhưng, trước khi dụng bút, ta phải có trách nhiệm, hơn thế phải có quyền hạn, nâng trái đất này lên bằng đôi tay bé bỏng của mình, xoay bên này, xoay bên kia, xem đâu là bùn là máu, đâu là chân đâu là giả. Vậy thì thật ra ta đã lớn vụt dậy, ngang với đất trời, đâu phải là hạt bụi, cây sậy nhỏ nhoi, yếu ớt nữa. Không biện luận cao siêu như nhà thơ lớn Chế Lan Viên, nhiều nhà thơ dân tộc ít người lại thấm nhuần lý luận theo cách riêng của mình. Các cây bút trẻ cũng không đứng ngoài cuộc. Hãy mở tập Mường trong của Bùi Thị Tuyết Mai. Ngay từ trang đầu tiên ta đã bắt gặp ngay tầm vóc ấy:

Tôi sinh ra giữa vũ trụ Mường

Ba tầng bốn thế giới

Xênh xang áo váy

Mọi thứ trở thành bé nhỏ trong tầm nhìn thế đứng ấy. Xin chớ có xem thường! Trở lại với bài thơ 4 câu của Lâm Quý. Tôi có bị khuất phục bởi ý tưởng của thơ anh. Nhưng, ngày ngày ra biển, đứng trước đại dương, nhẩm đi nhẩm lại, tôi thoáng thấy có gì đó trong logic của bài thơ chưa thật ổn. Rồi dần dần mọi thứ mới vỡ ra, nghĩa là sáng ra. Tất cả dồn ở câu cuối: Rừng núi rung lên vì có con người. Rung là không được vì mạnh quá, không hợp với sự tinh tế ở đây. Tôi đề nghị anh thay bằng từ run. Cảm giác ấy sẽ ăn nhập với câu Gặp phải đá mềm, lạ quá đi thôi ở trên. Thế còn động thái quờ tay tìm khe suối ở dưới? Trên đã có núi để tìm dáng, giờ tìm khe thì phải quên núi mà chỉ nên giữ lại rừng! Và để cho nhất quán với phong khí chung, cũng nên thay con người trung tính bằng hơi người xác tính. Câu thơ cuối, tôi đề nghị sửa là: Rừng bỗng run lên vì có hơi người.

Trong lần sửa mới đây, anh hầu như chấp nhận tất cả, trừ chữ núi. Thôi, đó là việc của anh -  chủ nhân của sáng tạo. Mà nghĩ kỹ, việc không hoàn toàn chấp nhận mọi góp ý của người khác lại mang đến một bài học riêng ý nghĩa không hề kém cạnh. Nghĩ về Lâm Quý, tôi thường nhớ tới lối nói đầy thương mến của Nguyễn Quang Huynh: Đúng một tí, Lâm Quý cũng quý. Tôi đề nghị thay: Đúng một tí, nhà thơ họ Lâm đều Quý. Xin được khắc sâu vào trí nhớ và thầm cảm ơn anh nhiều lắm! Anh đã cho chúng tôi một bài học nghề nghiệp quý giá – quý giá mà thấm thía, vì anh đã thực thi nó bằng cả cuộc đời sáng tạo của mình.

                                                   Nha Trang, 6/2006