Thơ trẻ ư? Còn lắm ngại ngần

Thơ trẻ tôi nói đây không phải là thơ của giới trẻ nói chung, mà là thơ trẻ trung, thơ tân kỳ. Chỗ xuất phát là ở tư duy thơ: mới mẻ hay mòn sáo, là ở tâm thế người làm thơ: bứt phá hay yên vị. Trong nghệ thuật, không ai không muốn quý cái mới mẻ đi liền với những bứt phá. Nhưng để quý thật sự, theo kinh nghiệm của riêng tôi, phải học, mà cũng phải học thật sự.

Không cứ người trẻ mới có thơ trẻ. Song thơ trẻ phần nhiều do người trẻ tuổi viết ra. Xem qua nhìn lại, số người này thì nhiều, cái tên đáng nhớ lại ít, có thể tính đếm trên đầu ngón tay. Mà xem ra ngày càng thưa vắng quá! Vì sao vậy? Ưu thế của tuổi trẻ là rất nhạy cảm, nhạy bén. Họ không chịu nổi mọi sự gò bó, trói buộc. Đó là một tiền đề quan trọng cho mọi sự khám phá. Để biến tiền đề thành khả năng, họ cần khắc phục một nhược điểm cố hữu của tuổi trẻ là dễ nản chí nản lòng. Hăm hở bước tới với bao dự định tốt đẹp, khi bất chợt gặp trở ngại họ lại dễ mỏi gối chùn chân. Thế rồi đâm ra hoài nghi – hoài nghi người và hoài nghi mình, hoài nghi tất cả. Không khéo đó lại là dấu hiệu tàn phai của một tài năng đang hé nụ! Thái độ quan tâm, khích lệ tích cực kịp thời của người đi trước bao giờ cũng là cần thiết. Thế nhưng, ta đã làm gì? Tôi có hỏi một bạn làm thơ đi dự Hội nghị những người viết văn trẻ mới từ Hà Nội trở về câu hỏi ấy. Anh chân tình bảo: có làm, làm nhiều là đằng khác, nhưng thiếu hiệu quả. Lại là vấn đề muôn thuở: hiệu quả. Dễ tưởng thiếu hiệu quả là do cách làm. Tôi nghĩ không hẳn là vậy. Chủ yếu là do cách nghĩ.

Nên bắt đầu từ chính những nhà văn đã trưởng thành chúng ta. Nhiều, rất nhiều tâm huyết dành cho thế hệ cầm bút trẻ, ai cũng nhận thấy. Nhưng dường như tâm lý hoài nghi sáng tác trẻ vẫn còn ẩn hiện đâu đó trong đầu óc của không ít người. Và thế là nảy sinh ra e ngại, phòng ngừa – e ngại trước cái mới và phòng ngừa nguy cơ chệch hướng. Thôi quý vị hãy cảm thông cho xin một chữ bình an. Tôi nghĩ, trong chính trị rất cần chữ an. Dân có yên thì nước mới thịnh. Sự ổn định về chính trị của Việt Nam trong thế giới nhiều bất ổn hiện nay đang là ước ao của bao người.Trong nghệ thuật, có lẽ ngược lại, an lại đồng nghĩa với nguy. An kéo dài là đại nguy. Nhìn sang các nước láng giềng mà lòng cứ không yên. Ở Trung Quốc, vào thời đổi mới, thơ mông lung xuất hiện đã gây nhiều tranh cãi. Cho tới năm 1982, Hội Nhà văn Trung Quốc trao tặng thưởng cho hai tập thơ mông lung  Con thuyền hai cột buồm của Thư Đình và Nốt nhạc màu xanh của Phó Thiên Lâm thì nó mới có chỗ đứng trên thi đàn (Xem Văn nghệ, 25/2000). Tiếc là tôi chưa có dịp đọc hai tác giả trên, mới chỉ được tìm hiểu sơ qua thơ của Cố Thành – một trong những tên tuổi nổi bật của xu hướng thơ mông lung. Rất nhiều điều có thể chia sẻ cùng ông. Tôi ưa quan niệm thơ là giọt mưa long lanh trên cây lý tưởng của ông. Cũng rất ưa ý nghĩ sau của ông: Tôi ngây thơ như lá non, bé nhỏ và vui vẻ như các sinh vật phù du. Bài Xa và gần của ông nhanh chóng nhập vào trí nhớ của tôi:

Em

            lúc nhìn anh

            lúc nhìn mây

Anh cảm thấy

Lúc em nhìn anh rất xa

Lúc em nhìn mây rất gần

(Xem Văn học nước ngoài, 5/1996)

Đằng sau vẻ mơ hồ là nhấp nhô, dập dồn ý tứ, vỗ liên hồi vào trí tưởng tượng của người đọc.

Đấy là Trung Quốc, một nước mới chạm chân vào thời khoáng đạt. Nhìn ra xa hơn, ở Âu Mỹ, lòng tôi đôi lúc cứ nôn nao. Xin không lấy thực tế ở những nền thơ sôi động như Pháp, Anh, Mỹ, chỉ dừng lại ở nước Áo. Khoảng năm 1954, Nhóm Wien được hình thành với sự tham gia của nhiều nhà văn trẻ tuổi, hăng hái thể nghiệm và tìm tòi cái mới, và được xem là một hiện tượng mới trong sự phát triển của văn chương Áo. Bài thơ sau của G.Riihm- một trong những chủ tướng của nhóm này, cứ ám ảnh tôi hoài:

Yên lặng

Có ai tìm tôi

Yên lặng

Ai tìm tôi

Yên lặng

Tìm tôi

Yên lặng

Tôi

Yên lặng

(Xem Văn học nước ngoài, 5/2001)

Mối quan hệ  của ngôn ngữ thông thường bị gỡ bỏ mà ngữ nghĩa vẫn được bảo tồn. Ý nghĩa của thơ ngân vang đến không cùng, trong khi số chữ lại được dồn nén, giảm thiểu đến mức tối đa. Thơ lạ mà hay, rất hay.

Trở lại với thơ trẻ của ta. Nhiều người lấy cái chưa tới, chưa đạt của các cây bút trẻ nhằm biện minh cho thái độ tiêu cực của mình. Tôi thừa nhận là dòng thơ trẻ hiện hữu, thường là thầm lặng, chừng mươi năm trở lại đây, chưa sản sinh ra được những giá trị văn chương độc sáng. Thể nghiệm thơ mới chỉ là những cố gắng đơn độc của một số ít người. Sáng tạo vốn dĩ  là cô đơn, với họ càng cô đơn hơn. Hình như họ chưa đủ lực tạo ra sự kinh ngạc của phê bình, điều mà P.Neruda coi là chứng chỉ đầu tiên  của thành công. Mà nếu xét kĩ thì giới phê bình chưa hẳn đã hoàn toàn vô can. Sự dửng dưng, lạnh nhạt của phê bình trước cái mới còn phiêu diêu là có thật vàphần nào tỏ rõ sự bất cập, mà cũng có thể nói là sự bất lực của phê bình. Có thể tán đồng, có thể không, nhưng cũng nên có tiếng nói. Chỉ phê thôi cũng được. Cốt là cái tâm phải sáng và nhãn quan nghệ thuật phải sắc.

Nhớ đến tấm gương của nhà phê bình Biêlinxki trong quan hệ với nhà thơ trẻ Nhêkraxôv. Tập thơ đầu tay Những ước mơ và những âm thanh của Nhêkraxôv vừa ra đời đã được báo chí chính thống đương thời đánh giá là một tư tưởng tuyệt đẹp do một tài năng kỳ diệu viết ra. Với thái độ nghiêm khắc, Biêlinxki chỉ xem tác phẩm là những lời thơ chung chung…, sức rung cảm yếu kém. Thật bất ngờ, làm Nhêkraxôv choáng váng. Tuy nhiên, khi tĩnh tâm trở lại, nhà thơ trẻ đã đi đến một quyết định can đảm là tới các hiệu sách vét toàn bộ tập thơ của mình đem về nhà đốt. Không lâu sau, Nhêkraxôv đã trở thành một trong những nhà thơ lớn của nước Nga. Khi biết tin Biêlinxki qua đời, ông đã òa khóc và nói: Anh ấy là người thầy đã giáo dục cho tôi phẩm chất làm người, anh là người đã chú ý, yêu mến và chỉ đường vạch lối cho tôi trong giai đoạn khó khăn nhất của đời mình… Biêlinxki đã cứu thoát tôi (Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, 11/2001).

            Với dòng thơ trẻ hiện giờ, rất cần thật nhiều những con mắt, những tấm lòng Biêlinxki trong giới phê bình. Một khi không khí sáng tạo còn chưa thật thuận thì những người cầm bút trẻ rất cần nương tựa vào sức mạnh của chính mình. Ai đây trong số họ có thể lớn tiếng nói như I.Kant: Có thể tôi sai lầm trong phương pháp nhận thức… Song tôi lại nghĩ rằng mình sẽ tiếp tục nó bằng tất cả mọi cách, bởi vì dầu tôi có sai lầm thì sai lầm ấy của tôi sẽ bổ ích cho những người khác (Nhà văn bàn về nghề văn, tr.139). Chẳng người cầm bút nào muốn thất bại. Nhưng trong sự thất bại kiểu này không phải mọi thứ đều hoàn toàn vô nghĩa cả. Mà lạ quá, sao chúng ta, những nhà văn đã thành đạt, lại chỉ xem mình là những chứng nhân?