Từ một khu vực đề tài, nghĩ về cái Tầm của nhà văn

 

      Xin được bắt đầu từ hàng chữ nông nghiệp – nông dân – nông thôn gần đây được nhắc đi nhắc lại nhiều lần như một cấu trúc ngôn từ chặt chẽ. Có người bảo, nào có mới lạ gì đâu, ngàn đời nay người ta đã nghĩ và làm thế rồi. Tôi lại cho rằng, từ Nghị quyết của Đảng Cộng sản, nó lan truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, rồi trở thành một thói quen mới trong tư duy và trong lời nói, phản ánh một tầm nhìn mới, một hướng tiếp cận mới về một nghề hệ trọng – nghề nông, một tầng lớp hệ trọng – nông dân, và một khu vực hệ trọng – nông thôn, trong mối quan hệ giao hòa, gắn bó giữa chúng với nhau. Tôi không muốn nói gọn trong một từ “tam nông”. Rất e ngại sự nhập khẩu từ một nơi nào khác. Để rồi một ai đó tự nhiên bắt chước, từ quan niệm đến cách làm, mà không mảy may hay biết rằng hoàn cảnh nước ta hoàn toàn không giống họ. Khác về điều kiện tự nhiên, nhất là rất khác về truyền thống lịch sử, nền tảng xã hội và bản sắc văn hóa. Để rồi dẫn đến sự khác biệt sâu xa trong nếp cảm, nếp nghĩ của con người. Mà có ai lại không biết, cái sau cùng này mới quyết định tới mọi sự thành bại ở đời. Vậy học hỏi người thì được, hơn nữa là cần, bao nhiêu cũng chưa thể xem là đủ. Nhưng nếu nhắm mắt bắt chước người đến thành máy móc thì dở, rất dở. Cầm chắc là sẽ thất bại. Không sớm thì muộn.

Có điều, thứ tự trước sau của ba thứ nông kia nên ra sao? Hoàn toàn không thống nhất trong thực tế. Nhiều khi trong một diễn ngôn của cùng một người. Cũng có thể hiểu được. Ấy là do mục đích khác nhau trong từng trường hợp cụ thể quy định. Đấy là chưa bàn tới cách nói, cách nghĩ vô tình, chưa ý thức cho thật sâu sắc. Riêng với nghề văn và nhà văn, theo ý của nhà thơ Chủ tịch Hội Nhà văn Hữu Thỉnh, thì nên đặt nông dân ở cuối, sau nông nghiệp, nông thôn, để nhấn mạnh đến mục đích tối hậu của việc giải quyết mọi vấn đề ở đây tất thảy là vì con người. Đấy cũng là một cách hiểu hay. Tôi xin mạnh dạn đề nghị hiểu một cách khác, nên đặt nông dân ở giữa nông nghiệp  nông thôn, cho sáng tỏ cái ý lấy con người làm trung tâm, hơn thế, làm điểm xuất phát. Như vậy là đã bước đầu làm rõ cái nét riêng biệt của nghề nghiệp chúng ta so với những lĩnh vực khác của xã hội. “Văn học là nhân học” (M. Gorky). Thống nhất mà không đồng nhất, theo tôi, là ở chỗ đó chăng!

Nhưng trước khi đi vào vấn đề chính, có lẽ ta nên giải quyết một lần cho dứt khoát cái gọi là chủ nghĩa đề tài trong sáng tạo. Đến giờ, chắc không còn nhà văn nào lại ngây ngô đến mức đặt sự hơn thua, được mất trong nghề văn ở chuyện viết về cái gì? Khâu quyết định cố nhiên ở chỗ viết như thế nào? Coi trọng đến mức độc tôn vài trò của đề tài là con đẻ của quan niệm phản ánh hiện thực thô thiển thống soái một thời. Nó có nguyên do lịch sử có thể lý giải, và ở một mức độ nhất định nên được cảm thông. Tuy nhiên, nó cũng tạo nên những hậu quả trầm trọng mà di hại còn kéo dài cho tới tận giờ, không thể ngày một ngày hai tẩy rửa cho sạch được. Có điều, nhìn ở phía khác, sự thống nhất về đề tài khi không trói buộc sự tìm tòi đa dạng tùy vào sở trường, sở nguyện và sở thích của từng nhà văn lại có một ý nghĩa riêng, không thể nói là không quan trọng, nhất là dưới giác độ một tổ chức chính trị - xã hội – nghề nghiệp như Hội Nhà văn chúng ta. Chí ít nó cũng giúp cho đội ngũ nhà văn cùng nhìn về một hướng – cái hướng xã hội và nhân dân đang cần, trong khi vẫn tôn trọng sự khám phá riêng trên cơ sở tài năng, vốn liếng và bản lĩnh của mỗi người. Nếu được vậy thì cái chung cũng thuận, mà cái đặc thù vẫn không mất, khoảng không dành cho tự do sáng tạo vẫn được đảm bảo. Được thế thì đã thật sự vươn tới trạng thái tinh thần lý tưởng rồi còn gì. Với toàn thể xã hội, hay với mỗi cá nhân con người đều thế cả.

Bây giờ, xin được mạn phép bàn về cái tầm của một nhà văn. Nó phải được bộc lộ qua tác phẩm cụ thể, hiển nhiên là thế. Không thể có nhà văn lớn nếu không có tác phẩm lớn. Mọi cái khác chỉ là thứ yếu, thậm chí có cái, rất nhiều cái là đằng khác, chỉ là thứ vô nghĩa, vô bổ. Đấy là chưa nói tới những cái luôn bào mòn sức sáng tạo, rất có hại đối với nghiệp văn, cần tranh xa thì hơn. Tầm mức của một nhà văn qua tác phẩm, theo tôi, chủ yếu bộc lộ ở cái nhìn, ở sức nghĩ, nhờ sự trau dồi thường xuyên, nghiêm cẩn, đúng hướng vốn liếng tư tưởng và văn hóa. Về điều này, có thể đưa ra nhiều dẫn dụ giàu sức thuyết phục trong đời sống văn chương. Như trường hợp Tôtem sói của Khương Nhung. Đây là tác phẩm đầu tay của một nhà văn trước đó chưa hề có tiếng tăm gì. Dầu còn có những ý kiến đánh giá khác nhau, nhưng rồi ai đọc xong tác phẩm cũng buộc phải suy ngẫm. Và càng suy ngẫm thì lại càng thấm thía bao điều lớn lao về cõi đời, về phận người. Những tác phẩm đạt tới cái ngưỡng đáng mong ước này, ta gọi đơn giản là có chiều sâu. Hơn thua nhau trong hiệu quả thẩm mỹ chính ở điểm này. Không dễ đạt tới chiều sâu nếu không có một nền tảng tư tưởng và văn hóa chắc chắn và bề thế. Lại phải trải qua nhiều thách thức, dằn vặt. Để rồi cái vốn liếng tinh thần quý giá ấy hóa thành máu thịt, hòa vào tâm hồn của người cầm bút. Nó không ngừng sống động, quẫy đạp đòi được thăng hoa. Chủ nhân của nó bị đẩy vào cái thế không còn đường lui. Đấy chính là dấu hiệu bước đầu dễ thấy của mọi thành công trong sáng tạo.

Vậy muốn xử lý tốt khu vực đề tài nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nhà văn cần vươn tới tầm nhìn như thế nào? Tôi nghĩ, trước tiên, ta không nên tách rời ba khái niệm này ra. Chẳng phải vô cớ mà chúng tìm đến với nhau, cùng tồn tại bên nhau. Đến mức, ta sẽ tự thấy bật cập nếu chỉ nghĩ tới bộ phận này mà bỏ rơi hay xem nhẹ bộ phận kia. Có lẽ nên biểu hiện mối quan hệ gắn bó trong ba có một trong một có ba trên bằng cách diễn đạt mới: nông nghiệp - nông dân - nông thôn. Dấu gạch ngang chỉ là một cách biểu hiện. Trên thực tế, nói tới nghề nông là nói ngay tới người làm nghề nông, trong môi trường nông thôn đồng bằng, trung du, miền núi hoặc ngoại ô. Mọi sự đổi thay khởi đầu từ yếu tố nào trong ba yếu tố đó đều tác động ngay tới yếu tố khác, để tạo nên sự chuyển động đồng loạt, nhịp nhàng và mạnh mẽ. Điểm kết nối chúng lại với nhau một cách chặt chẽ, theo tôi, là ở chất văn hóa thẳm sâu và bền bỉ. Chẳng hạn, khi nói tới nền văn minh Miệt vườn Nam Bộ là ta nói tới chất kết dính của châu thổ ngồn ngộn chất phù sa của Cửu Long Giang, với những cánh đồng lúa bất tận cùng những vườn cây trái trĩu quả, nơi có những người dân cần cù, năng nổ mà hào phóng. Tôi đã tìm thấy chất Nam Bộ ròng với những sắc thái và mức độ khác nhau qua những trang văn trang thơ của nhiều thế hệ nhà văn thân thuộc sinh trưởng và lập nghiệp ở nơi đây.

Sau nữa, khi xem xét hệ vấn đề nông nghiệp – nông dân – nông thôn, ta cần đặt  tính địa phương trong quan hệ mật thiết với tính toàn quốc, hơn thế, với tính nhân loại, tính quốc tế. Nước ta, ai cũng biết, vẫn còn là một nước nông nghiệp, đô thị chưa phát triển, nông dân chiếm tới gần ¾ dân số. Đến giờ, vấn đề an ninh lương thực cơ bản đã được giải quyết. Lại còn có gạo để xuất khẩu đứng hàng đầu thế giới. Một thành tích rất đáng tự hào nếu nhớ lại vài chục năm về trước ta thiếu lương thực trầm trọng đến mức nào. Còn trong thời kháng chiến, xa hơn nữa là thời thuộc Pháp thì khỏi phải nói. Vẫn còn văng vẳng đâu đây nguyện ước giản đơn đến nhói lòng của nhà văn phận bạc Vũ Trọng Phụng: “Ôi! Làm người mà được ăn cơm thì sướng quá!”. Vì thế, có lẽ không một nền văn chương nào trên thế giới lại nói tới cái đói thảm hại, cái đói quắt quay nhiều đến vậy, xúc động đến vậy, như văn chương nước ta. Ngoảnh nhìn về quá vãng để  thêm tin tưởng vào công cuộc Đổi mới từ hơn 20 năm nay. Càng có ý nghĩa nếu đặt trong tình cảnh cả  thế giới bị cuốn vào cơn khủng hoảng tài chính, kinh tế chừng nửa năm trở lại đây. Từ đó, những đầu óc bình thường nhất cũng phải bắt đầu tìm tới nền tảng của sự phát triển bền vững từ nông thôn, trong nông nghiệp. Vị thế của những nước dồi dào tiềm năng nông nghiệp như Việt Nam ta vì vậy cũng được tăng lên.

Một điểm nữa  ta cần đặt nông nghiệp – nông dân – nông thôn trong tiến trình lịch sử dài lâu của một vùng đất cũng như của toàn thể dân tộc mà xem xét. Cuộc sống không ngừng trôi chảy. Lĩnh vực nào cũng thế, mà ở đâu cũng thế, ký ức bao giờ cũng là một phần trọng yếu làm nên chính đời sống của ngày hôm nay. Nhà văn nhạy bén hơn, giàu có hơn người đời phần chính là do khả năng lưu giữ và biểu hiện hồi ức sống động này. Tôi hoàn toàn chia sẻ với quan niệm của nhà văn Nguyễn Quang Sáng: “Văn muốn viết cho thật hay thì cần được sinh ra trong tình yêu và nỗi nhớ”. Chẳng hạn, đi giữa Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay, ta làm sao quên được lịch sử khai hoang mở đất, lập ấp, dựng đồn điền trong thời Chúa Nguyễn, Triều Nguyễn suốt mấy trăm năm. Rồi các cuộc đấu tranh chống thù trong giặc ngoài để giành đất và giữ đất hàng thế kỷ sau đó nữa. Biết bao mồ hôi, xương máu của các thế hệ cha ông đã đổ xuống. Ý thức về thời đại sao có thể tách rời ý thức về lịch sử. Một người bình thường đã thế, nhà văn lại càng không thể khác. Có như vậy, mỗi trang văn trang thơ ta viết ra mới thật sự được tiếp một nguồn sống dẻo dai và nóng hổi, cuồn cuộn và dâng trào đến không ngờ…

Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh tới việc duy trì mối quan hệ hài hòa giữa sự phát triển trong nông nghiệp, sự đổi đời của nông dân, sự thay đổi trong nông thôn với việc đảm bảo môi trường thiên nhiên trong sạch và bền vững. Sẽ là không thừa nếu nhắc lại ở đây quan niệm về tính hiện đại toàn vẹn của học giả Alain Touraine. Ông cho rằng tính hiện đại mà phương Tây chủ trương và gần như đã gây ra tầm ảnh hưởng sâu rộng tới toàn cầu vẫn chỉ là tính hiện đại hạn chế, tính hiện đại nửa vời. Theo ông, yêu cầu toàn vẹn của tính hiện đại đòi hỏi kết hợp được tính hợp lý với tính chủ thể, tính hiệu quả  tinh thần tự do. Muốn thế, hàng ngày hàng giờ, toàn nhân loại và mỗi một con người phải kiên quyết chống lại cái mà ông gọi là chủ nghĩa duy lý công cụ. Ví như, ở một phương diện nào đó mà nói, rất cần việc ứng dụng khoa học, kỹ thuật tiên tiến vào nông nghiệp – nông dân – nông thôn, nhưng chớ rơi vào nghịch lý của quá trình Khai sáng là bỏ rơi yếu tố nhân văn trong quan hệ mật thiết với môi trường sống. Nên ghi nhờ lời khuyến cáo của văn hào Mỹ  H. Miller: “Chúng ta có tri thức không thông minh, tiện nghi không an ninh…Đây là thời của sức mạnh, sức mạnh đơn thuần”.

Trước khi ngừng lời, xin được nhắc lại một đoạn thơ tôi rất ưa thích của nhà thơ Bình Nguyên – một người con của nền văn minh sông Hồng. Anh viết về dòng sông Đáy quê tôi vốn giống như trăm ngàn dòng sông thân thuộc khác trên đất nước thân yêu của chúng ta từng chuyên chở bao tâm sự, bao ước vọng gắn với nông nghiệp – nông dân – nông thôn: “Không chảy/ Có nghĩa là không có dòng sông/ Không phẳng/ Có nghĩa là suốt đời phải chảy/ Tan trong biển rồi/ Không phải sông không còn chảy…”. Xin chúc các anh các chị dồi dào nghị lực và khát vọng sáng tạo, như dòng sông Tiền sông Hậu giàu chất phù sa không ngừng trôi chảy đang sôi réo ngoài kia. Cũng như mọi dòng sông trên đời, đích đến của chúng ta bao giờ cũng là đại dương bao la ở phía trước…

    ...........................................................

    (*) Tham luận trình bầy tại Hội thảo Văn học với đề tài Nông nghiệp, nông thôn, nông dân tổ chức tại Thành phố Long Xuyên trong hai ngày 18 & 19 tháng 3 năm 2009.