Khâu mắc nhất vẫn là ở đội ngũ

            Nghị quyết Hội nghị BCH Hội Văn học Nghệ thuật các DTTS Việt Nam lần thứ 4 (Khóa III) nhấn mạnh: “Tiếp tục đẩy mạnh công tác trọng tâm sáng tác, sưu tầm – nghiên cứu, đặc biệt là công tác lý luận phê bình – một khâu còn yếu “ (Văn hóa các dân tộc – Xuân Tân Tỵ, 2001). Đây là phương hướng đúng, thiết thực, nhất là trong quyết tâm đẩy mạnh hoạt động lý luận phê bình nghệ thuật, một lĩnh vực ai cũng biết là cần mà ai cũng thấy là còn yếu. Tại cuộc Hội thảo “Văn học Cao Bằng 10 năm đổi mới” tổ chức vào tháng 2/2001, tác giả Nguyễn Đức Du có một tham luận công phu mang tên Bàn về việc bắt sâu, tưới nước. Trong nhiều điều cần nói, anh tập trung nói về sự im ắng của phê bình, làm cho sáng tạo văn học của Cao Bằng chỉ trong vòng một thập kỷ đã có 40 đầu sách, không ít tác phẩm gây được tiếng vang, đoạt nhiều giải thưởng trong nước mà vẫn như “người đẹp ngủ trong rừng” (Văn nghệ – số 9, 2000). Nhà nghiên cứu Lâm Tiến mới đây cũng thừa nhận: “Còn đối với lý luận phê bình văn học, nghiêm túc mà nói thì các nhà văn dân tộc thiểu số ít có được bài lý luận, phê bình văn học hoàn chỉnh theo đúng nghĩa của nó” (Văn nghệ, số 16, 2000).

Thực trạng yếu kém của lý luận phê bình tất có ảnh hưởng tiêu cực tới sáng tác, cả trước mắt và lâu dài. Muốn tháo gỡ khâu mắc này, theo tôi,  trước hết phải tập trung lo xây dựng và phát triển đội ngũ. Riêng trong lĩnh vực văn chương, người chuyên tâm, lại có nghề có đóng góp hơn cả hiện nay có lẽ là anh Lâm Tiến. Nhiều năm nay, do đòi hỏi của việc giảng dạy ở đại học, nhưng phần chính là do thiên hướng của bản thân, anh đã dồn nhiều tâm trí, thời giờ cho việc tìm hiểu các cây bút DTTS không chỉ của vùng Việt Bắc quê anh mà ở khắp Bắc Trung Nam. Tập Văn học các DTTS Việt Nam hiện đại được nhận Giải thưởng của Hội Nhà Văn 1996 là thành công bước đầu đáng ghi nhận của anh. Có được kết quả đó, trước mọi chuyện vẫn là chuyện tấm lòng. Năm nay, bước vào tuổi 67, nhưng tâm huyết của anh đối với văn học Dân tộc và Miền núi xem ra vẫn không hề suy giảm. Mới đây, anh viết thư nhờ tôi tìm giúp tập Núi và hòn đá lẻ của Lương Định. Tiếc là tôi không thể đáp ứng được, và đến giờ tôi vẫn thấy áy náy về điều này. Anh đã nêu trước tôi một tấm gương, mà phần sáng nhất lại không phải ở nghề nghiệp mà ở nỗi đam mê, ở ý thức trách nhiệm – thiếu những điều này, sẽ không thể hiểu là anh đã lấy đâu ra sức mạnh bên trong để từng ngày, từng ngày một bắt mình phải đọc, phải tích lũy, phải nghiền ngẫm. Tuy nhiên, thành thật mà nói, chất văn ở những bài viết của anh chưa nhiều. Anh nghiêng về tư cách nhà nghiên cứu hơn là nhà phê bình. Ở điểm này, những bài viết dù còn sơ sài, nặng về điểm sách, nhận diện nhà văn của Lò Ngân Sủn có thể nổi trội hơn. Hai tập Hoa văn thổ cẩm của anh luôn được tôi xem là kho tài liệu quý về văn chương các DTTS, giúp cho việc tra cứu nhà văn này nhà văn kia, người đã xác lập tên tuổi cũng như những cây bút đang ngấp nghé vào nghề được dễ dàng hơn. Có trong tập sách là những nhận xét tinh tường, thẳng thắn. Cách viết ở nhiều bài có ma lực riêng, chân chất, chân tình, cụ thể và giàu hình ảnh. Nhưng, nếu xét kỹ, sẽ thấy chúng chưa phải là những bài phê bình đích thực. Ngay tác giả của nó có lẽ cũng ý thức được điều này. Lò Ngân Sủn làm công việc này chủ yếu là do phận sự. Bận bịu nhiều việc hệ trọng mà anh vẫn gắng gỏi làm được như thế phải nói là đáng nể phục lắm. Một cây bút khác thỉnh thoảng cũng tạo được sự chú ý của dư luận là Hoàng Quảng Uyên. Tôi thích một số bài chân dung văn chương hoặc đi tìm những ẩn số văn chương của anh. Văn anh viết hoạt, mạch thoáng, nên dễ đọc dễ lôi cuốn. Có điều, chúng nghiêng về ký sự hơn là phê bình, tính học thuật ít nhiều còn bị những cái ngoài văn chương lấn át. Nên xem anh là nhà báo hơn là cây bút phê bình.

Cũng có thể kể tới một vài tác giả khác như Hoàng Văn An (Lạng Sơn) và Hoàng Việt Quân (Yên Bái). Anh Hoàng Văn An, tiến sỹ ngôn ngữ, hiện là Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật địa phương.  Cuốn Nét đẹp văn hóa trong thơ văn và ngôn ngữ dân tộc của  anh từng được nhận Giải thưởng Hoàng Văn Thụ lần thứ nhất, 1995. Một số bài viết như Chặng đường thơ Xứ Lạng 30 năm, Thơ Xứ Lạng những năm 90, Bước đầu tìm hiểu một số bài thơ viết về Lạng Sơn… công phu, gắng vươn tới tầm bao quát nhất định. Một số bài khác như Những lắng đọng trong tiếng vọng thường ngày, Chất thơ Xứ hoa đào, Bước sáng tạo mới của một nhà văn… lại có những phát hiện, những rung cảm khá tinh tế. Hoàng Việt Quân, biên tập viên tạp chí Văn nghệ Yên Bái, mới cho ra mắt tập tiểu luận Suy nghĩ và ước vọng. Đây là một cố gắng lớn của một cây bút văn xuôi vốn quen thuộc ở Việt Bắc. Tôi thích cách đặt vấn đề và quý ý nguyện của anh trong bài Suy nghĩ và ước vọng. Bài Văn xuôi Yên Bái qua một chặng đường phát triển 1995 - 2000 lại mang sức bao quát khá rộng, giúp cho những ai muốn làm quen với văn chương của một vùng đất giàu tiềm năng này không thể bỏ qua. Ở hai cây bút có tiềm năng này, tôi chỉ chưa hài lòng với tầm khái quát mà thật ra các anh có điều kiện vươn tới. Hình như cả hai chưa có ý thức chiếm lĩnh thực tiễn văn chương của các dân tộc khác, ở những vùng đất khác trên đất nước rộng dài của chúng ta. Tự giới hạn ngòi bút của mình, ý nghĩa của những bài viết tất cũng sẽ bị giới hạn.

Tôi vừa điểm qua, chắc là chưa thể đầy đủ, đội ngũ viết lý luận phê bình Dân tộc - Miền núi mà tôi có hân hạnh được biết. Mỏng và tản quá, chúng ta lo ngại là phải thôi! Vậy cách thức tập hợp đội ngũ sắp tới nên thế nào? Tôi nghĩ, ta cần phát hiện các cây bút lý luận phê bình từ các vùng miền. Ở Việt Bắc có Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên giàu truyền thống. Và cũng rất giàu tiềm lực. Nhiều giảng viên có học hàm, học vị chuyên ngành văn học, thích hợp với hoạt động phê bình. Ta nên có biện pháp khơi nguồn,  cụ thể và thiết thực. Ở Tây Bắc, Trường Cao đẳng Sư phạm mới có quyết định nâng lên thành đại học, đội ngũ cũng thật đáng kể. Tôi đã có dịp gặp các giảng viên ở đây. Họ không thiếu những dự định. Lại cháy bỏng khao khát được cống hiến. Sao những người có trách nhiệm lại có thể vô tâm cho được! Ở Tây Nguyên, ngoài một số tên tuổi khá quen thuộc ở Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Đà lạt,  Đại học Tây Nguyên cũng mới tái lập ngành Ngữ Văn Sư phạm, rồi Khoa Xã hội trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai nữa. Tôi biết nhiều anh chị có kinh nghiệm, có trình độ, có thực tế. Khả năng phê bình của một số người cũng đã được khẳng định ở địa phương… Như nhà văn Chử Anh Đào. Ở Nam Bộ cũng thế. Ban Ngữ Văn Sư phạm, Đại học Cần Thơ tập trung khá đông nhiều giảng viên luôn quan tâm tới văn chương truyền thống của dân tộc Khmer. Vấn đề là ta cần tạo điều kiện cho họ vươn xa vươn cao hơn.

Tôi còn muốn lưu ý tới những cá nhân, do hoàn cảnh khác nhau, đã từ miền núi chuyển công tác về miền xuôi, vẫn có thể có những đóng góp cho công việc của chúng ta. Chẳng hạn, tiến sỹ Văn học Văn Giá (Học viện Báo chí Tuyên truyền) từng có nhiều năm công tác ở Tây Bắc và tiến sỹ Văn học Nguyễn Duy Bắc từng gắn bó với Lạng Sơn trước khi chuyển về Khoa Văn hóa Xã hội chủ nghĩa thuộc Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Tôi biết các bạn ấy không bao giờ quên những tháng ngày đẹp đẽ ở miền núi, và luôn có ý thức phải làm một việc gì đó thật nhiều ý nghĩa lại phù hợp với thiên hướng của mình cho những mảnh đất mình từng sinh sống. Tiến sỹ Thanh Pôn người Khmer quê ở Bạc Liêu, hiện đang công tác ở Viện Khoa học Giáo dục phía Nam, từng sáng tác thơ. Tập Lời thu của đất (1993) đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng người đọc. Tôi nghĩ, là một nhà khoa học, anh có thể dễ dàng từ thơ mà đến với phê bình thơ. Việc nào cũng có cái khó riêng. Nhưng xin hãy thử sức với thiện chí: làm những điều sự nghiệp cần trong điều kiện có thể.

Cuối cùng, xin đừng quên các cán bộ biên tập ở Văn nghệ dân tộc và miền núi, và Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc như Nguyễn Đăng Bảy, Hoàng Tuấn Cư, Nguyễn Thị Chính… , nhất là một số nhà thơ dân tộc ít người được học đến nơi đến chốn về văn chương như Y Phương, Mai Liễu, Dương Thuấn… Hiểu biết về nghề, rồi hành nghề nhiều năm, lại có thơ hay như các anh chắc sẽ không mấy khó khăn để đến với phê bình. Và nếu chuyên chú có thể sẽ tạo nên thành quả, ít nhất cũng đem lại nhiều bài phê bình hữu ích, thỏa mãn phần nào sự trông chờ mòn mỏi của bạn đọc hôm nay. Chắc tôi không đặt hoài vọng vào nơi trống chơn đâu. Tại Trại sáng tác Văn học Nghệ thuật ở Đà Lạt cách đây vài năm, tôi đã có dịp đọc những nhận xét thú vị về thơ Inrasara và thơ Pờ Sảo Mìn của nhà thơ Mai Liễu. Cũng đến hơn một lần tôi bắt gặp tên nhà thơ Dương Thuấn dưới những bài giới thiệu các tập thơ của bạn hữu. Tôi biết trăm thứ việc dồn trên vai các anh. Nhưng xin hãy cùng chung sức xốc vác công việc chung giàu ý nghĩa này. Gái có công chắc chồng chẳng phụ.

Rõ ràng, công việc tập hợp, xây dựng và phát triển đội ngũ lý luận phê bình văn học DTTS quả không đơn giản. Tôi hiểu được nỗi băn khoăn của anh Lâm Tiến: “Người sáng tác có thể ít học mà viết được một tác phẩm hay, còn người làm lý luận phê bình văn học không thể ít học, ít vốn văn hóa mà viết hay được. Bởi vì không nắm chắc lý luận, không có tư duy lý luận sắc sảo thì không thể vận dụng lý luận vào việc giải quyết những vấn đề thực tế do đời sống văn học các DTTS  đặt ra” (Văn nghệ, số 16, 2001). Biết vậy, để bình tâm bắt tay vào công việc, ngay từ giờ, khi chưa quá muộn. Tôi chỉ muốn nói thêm rằng, cái quyết định mọi công việc khi nào cũng nằm trong ý thức thường trực của mỗi người chúng ta.

                                                                                                                           Đà Lạt, 25/4/2001