Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nữ sỹ Tương Phố

Ngày 25/11/2000, tại thành phố Đà Lạt trong lành, mộng mơ và yên tĩnh, một cuộc tọa đàm khoa học nhân tròn 100 năm sinh của nữ sĩ Tương Phố đã được Hội Văn học Nghệ thuật và Sở Văn hóa Thông tinh Lâm Đồng phối hợp với Khao Ngữ văn trường Đại học Đà Lạt tổ chức. Chả là, chính nơi đây, nữ sĩ từng vang danh một thời trong những năm 20 của thế kỷ này đã trút hơi thở cuối cùng. Ngọn đồi bà yên nghỉ từ lâu đã mang tên Tương Sơn.

Nơi đây an nghỉ một con người

“Giọt lệ thu” rưng rưng một thời

                             (thơ Phan Hữu Giản)

Tới dự buổi tọa đàm khoa học có đồng chí Phan Hữu Giản, Ủy viên Thường vụ, Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy Lâm Đồng, đồng chí Khuất Minh Phương, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Lâm Đồng, đại diện các ban nghành trong tỉnh, các phong viên báo đài Trung ương và địa phương, cùng gâng 100 đại biểu là các nhà khoa học, các văn nghệ sĩ và những người yêu thích văn chương xa gần. Đặc biệt, có sự hiện diện của bà quả phụ Nguyễn Thị Thọ, vừa ở Mỹ về, cùng hai con trai là anh Thái Dương Minh và anh Thái Bình Dương- cháu nội cố nữ sĩ Tương Phố. Các ông Giám đốc Sở Văn hóa Thống tin, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật và Chủ nhệm Khoa Ngữ văn trường Đại học Đà Lạt chủ trì cuộc tọa đàm.

Phó Giáo sư – Tiến sĩ Lê Chí Dũng, một trong những chuyên gia hàng đầu của giai đoạn văn chương này đã đọc báo cáo đề dẫn. Sau đó, cử tọa lần lượt nghe các ý kiến về thơ Tương Phố của Thạc sĩ Phạm Quốc Ca, ông Vũ Thuộc và ông Lê Quang Kết, các ý kiến về tác phẩm “ Giọt lệ thu” trong lich sử văn chương dân tộc của tiến sĩ Phạm Quang Trung, Thạc sĩ Nguyễn Đình Hảo và ông Thiện Tâm (Tp.Hồ Chí Minh). Cuộc tọa đàm khoa học đã tập trung làm sáng tỏ nhiều điều quan trọng trong cái nhìn rộng và sâu hơn về một hiện tượng văn chương cho đến nay còn ít được giới văn học quan tâm nghiên cứu.

Về tiểu sử của nữ sĩ Tương Phố, hiện nay còn một vài chi tiết chưa thống nhất. Theo “Từ điển văn học”, tập 2 (Nhà xuất bản Khao học Xã hội, Hà Nội, 1984) thì Tương Phố sinh năm 1896 (chưa rõ năm mất) tại đồn Đầm, tỉnh Bắc Giang, nguyên quán ở xã Bối Khê, tổng Cẩm Khê, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (trang 491). Còn theo cuốn “Nữ văn sĩ Việt Nam nửa đầu thế kỉ 20” do PGS – TS Mai Hương tuyển chọn, biên soạn và Nxb Phụ nữ ấn hành năm 1997 thì Tương Phố sinh năm 1896 tại Đồn Dầm (?), Bắc Giang, quê gốc như tài liệu trên. Bà mất năm 1978 tại Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Cả hai tài liệu trên đều có những điều chưa chính xác. Thật ra Tương Phố tên thật là Đỗ Thị Đàm, sinh ngày 14/7/1900 tại Thất Khê, tỉnh Lạng Sơn, nguyên quán ở xã Bối Khê, tổng Cẩm Khê, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên và mất ngày 8/11/1973 tại Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Ngay từ nhỏ, Tương Phố đã thụ hưởng ở cha những áng thơ văn đẹp và buồn trong văn chương trung đại của Trung Quốc và Việt Nam. Năm 1915 Tương Phố lấy chồng tên là Thái Văn Du – một chàng trai vừa có vốn cựu học và tân học ở kinh đô Huế, và đôi vợ chồng trẻ thường cùng nhau đàm đạo về văn thơ. Sau đó, chồng bà đi du học ở Pháp. Trong những năm 1918 – 1920 học ở trường nữ Sư phạm Hà Nội, Tương Phố có dịp làm phong phú thêm vốn văn chương Đông – Tây của mình. Em gái của bà là Đỗ Trang Nữ, bút hiệu Long Khê, chính là người đã viết bài thơ “Rau sắng chùa Hương” gửi Tản Đà. Xa quê, xa chồng, rồi chồng qua đời… những nỗi buồn thực của Tương Phố hòa kết với nỗi buồn của thời đại và những nỗi buồn trong văn chương. Từ đó, nhiều bài thơ và nhiều áng văn xuôi đậm đà chất thơ đã tuôn chảy dưới ngòi bút của bà. Tiêu biểu và giữ vị trí trung tâm trong sáng tác của Tương Phố trong thời kì này là tác phẩm “Giọt lệ thu” (được bà viết ở sông Thương năm 1923 và lần đầu tiên được in trên “Nam phong tạp chí” năm 1928). Ngoài ra, có thể kể đến “Một giấc mộng” (truyện, 1928), “Mối thương tâm của người bạn gái” (văn xuôi, 1928). “Bức thư rơi” (văn xuôi, 1929), “Tặng bạn chán đời” (1929), “Tái tiếu sầu ngâm” (thơ lục bát, 1930), “Khúc thu hận” (thơ song thất lục bát, 1931), “ Đời đáng chán” (thơ song thất lục bát, 1932)… Những tác phẩm này cùng các bài thơ được Tương Phố viết từ năm 1915 đến 1949 và những sáng tác khác của bà sau này tập hợp lại thành ba tập: “Giọt lệ thu” (1952), “Mưa gió sông tương”, và (Trúc mai” (thơ cho thiếu nhi).

Quả thật tình yêu của Đỗ Thị Đàm – Thai Văn Du, tấm lòng của người mẹ dành cho đứa con mồ côi cha, tản cư, chị em ly biệt, cha mất…đã để lại dấu ấn sâu đậm trong sáng tác của Tương Phố. Phần đông bạn đọc nghĩ rằng bà là tác giả của những vần thơ đầy nước mắt, như:

Tấn tuồng tạo hóa vui chua chát,

Quán trọ phù sinh khách lỡ làng.

Dồn cuộc trăm năm còn rọt lệ

Thấm lan giấy mực mấy muôn hàng.

(Đề cảnh)

Ít người biết bà còn viết những dòng chữ rắn rỏi sau:

Ai người chiến sĩ của lòng ta,

Dẹp hẳn can qua cứu nước nhà

Binh pháp Tôn, Ngô cười xếp lại

Mai đào chẳng để ố sơn hà?

                                        (Ai ?...)

Cũng như vậy, đa số bạn đọc nghĩ Tương Phố là nhà thơ của nỗi buồn riêng trong buổi giao thời cũ mới những năm 20 đầu thế kỷ mà không ngờ bà còn viết sách dành cho nhi đồng.

Tuy nhiên, nói Tương Phố là ta nghĩ ngay tới “Giọt lệ thu”. Đây là tác phẩm tiêu biểu nhất, tập trung thể hiện những đóng góp của bà trên lĩnh vực văn chương. Còn nhớ, trên “Phụ nữ tân văn”, số 131, ngày 26/5/1932, Nguyễn Thị Manh Manh – người luôn nhiệt thành cổ vũ cho phong trào “Nữ lưu và văn học” đã không kìm được sự sùng bái của mình khi nhắc tới “Giọt lệ thu”:... “Thiệt là tình thâm, giọng thiết, phi ngọn bút đàn bà không lấy đâu được lời văn thống thiết như thế, và nếu không phải đàn bà về hạng cao đẳng thì cũng lấy đâu được cái tình cảm nặng nề như kia”. Không phải cô cớ mà vào thời ấy và mãi nhiều năm sau, người ta còn nhắc tới tiếng khóc vợ của Đông Hồ trong “Linh Phượng ký” và tiếng khóc chồng của Tương Phố trong “Giọt lệ thu”.

Vì sao “Giọt lệ thu” lại có tiếng vang xa và lâu trong lòng bạn đọc thuộc nhiều thế hệ, nhiều tầng lớp như vậy? Có thể quy vào 3 nguyên do chính sau:

Một là, mặc dầu là nỗi lòng riêng tây (tình yêu khi gần chồng, nỗi buồn khi xa chồng, nỗi đau khi đột ngột mất chồng...), “Giọt lệ thu” đã tìm được sự đồng điệu của nỗi buồn đau mang tính thời đại.

Hai là, “Giọt lệ thu” là nỗi lòng chân tình và bi thiết của cái tôi cá thể, cá nhân.

Ba là, văn của “Giọt lệ thu” dù còn mang dấu ấn khá sâu nặng của văn biền ngẫu, nhưng phải nói là đã khá uyển chuyển và khá mới mẻ.

Như vậy, vai trò của nữ sĩ Tương Phố trong văn chương dân tộc chủ yếu gắn với tác phẩm “Giọt lệ thu” – một trong những dấu ấn khó phai mờ trong lịch sử văn chương ở thập niên thứ ba của thế kỷ 20 như là tiếng kêu réo rắt, bi thiết của cá nhân con người hòa trong không khí buồn đau chung của thời đại, góp phần báo hiệu “Một thời đại mới trong thi ca” dân tộc – thời đại của thơ mới lãng mạn với những tên tuổi sáng chói như: Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư...

Nhiều ý kiến tập trung bàn về tư tưởng yêu nước, ý thức thời cuộc trong văn thơ Tương Phố. Theo nữ sĩ Mộng Tuyết trong “Núi mộng gương Hồ” thì câu “Giọt lệ năm canh ngầm khóc nước” đã chứng tỏ “ngoài Giọt lệ thu, Tương Phố hãy còn nhiều giọt lệ đáng cho chúng ta ngưỡng mộ” như “khóc cho nước non, cho thời thế, cho nhân tâm, cho đạo lý...” Tuy nhiên, nhìn chung thì lòng yêu nước trong thơ văn Tương Phố còn khá mờ nhạt, nhất là khi so với nhiều nữ sĩ cùng thời với bà. Chẳng hạn, Cao Ngọc Anh (1878 – 1972) và Sầm Phố (1885 – 1975). Bài thơ “Cuộc khởi nghĩa Nghệ An” của Cao Ngọc Anh có những câu đầy khí phác như:

Nóng mặt anh hùng người chí sĩ

Đau lòng cố quốc, khách tha hương

Kín đáo hơn nhưng không phải không cảm nhận ra tấm lòng của Sầm Phố trong hai câu kết của bài “Chơi thuyền trên sông Hương cảm tác”:

Mà ai yến tiệc say sưa mãi

Cái cuốc kêu hè đã ráo hơi

Nữ sĩ Tương Phố qua đời đã trên một phần tư thế kỷ. Nhưng những gì quí giá mà bà đã để lại cho văn chương Việt Nam vẫn được chúng ta ngày nay chân trọng. Cuộc tọa đàm khoa học thành công tại thành phố Đà Lạt về cuộc đời và văn nghiệp của Tương Phố trong những tháng cuối cùng của thế kỷ 20 là một trong những minh chứng tiêu biểu.

Nắm ấm Tương Sơn hương khói tỏa

Ngàn hoa thắm nở đóa hồng tười...

(Thơ Phan Hữu Giản)