Chuyện ngàn đời của văn chương

Thưa các anh, các chị!

Chuyện mà tôi có ý định tâm sự cùng các anh, các chị tại diễn đàn trọng thể này của Hội Nhà văn chúng ta bảo là cũ thì quả là “cũ như trái đất”, mà bảo là mới thì cũng thật là mới, đến mức bất cứ ai khi cầm bút viết văn đều phải đối mặt với nó, thậm chí bị hút vào vòng xoáy của nó tựa như bị thôi miên vậy. Đó là gì vậy ? Chính là thách thức ghê người của nghề nghiệp chúng ta.

Gần đây, tôi có thói quen đọc lại những trang viết ngây ngô thời trẻ trong những cuốn “Sổ tay văn học”. Thời ấy, những bạn trẻ ham thích văn chương thường có cuốn sổ như vậy để ghi lại những châm ngôn của các danh nhân cùng những cảm nghĩ của bản thân. Bất ngờ, tôi bắt gặp câu nói của văn hào M.Gorki trong lá thư gửi cho I.Đ. Xuragutsev vào năm 1912: “Nếu cảm thấy mình xứng đáng thì nhà văn phải là một nhà văn: Ở nước Nga chúng ta đấy là chức vụ trọng yếu và khó khăn nhất”. Thú thật, dạo đó và cho mãi hàng chục năm về sau, lời nói của ông chẳng lưu lại thật nhiều ý nghĩa trong tâm trí bộn bề bao ước vọng của tôi. Chỉ đến lúc này, khi được vinh dự gia nhập Hội Nhà văn, nghĩa là có ý thức hơn đối với nghề viết, đọc lại ý kiến của nhà văn bậc thầy kia, tôi mới thấy vang lên âm thanh khác hẳn. Đúng, viết văn trong xã hội ta, vào thời đại ta là một trong những công việc “trọng yếu và khó khăn nhất”.

Tiếc là không phải lúc nào tôi cũng nghĩ được như thế! Còn nhớ cảm giác ngất ngây đến như chuếnh choáng của tôi khi nhận tấm thẻ hội viên từ tay nhà văn Anh Đức tại phòng khánh tiết sang trọng của khách sạn Sài Gòn vào đầu năm 1997. Ôi ! Giá có cánh, tôi có thể bay lên được ! Nhất là lúc nhà thơ Nguyễn Duy mời tôi lên phát biểu. Tôi xúc động nói rằng, đây là một vinh dự quá lớn lao đối với một người không có gì quá đặc biệt như tôi. Từ nay, tôi được đứng trong một đội ngũ đông đảo những nhà văn tài năng, giàu bản lĩnh và nhân cách, không ít tên tuổi trong số họ sáng chói có thể làm danh giá cho bất cứ một nền văn chương nào. Vâng, tôi đã nói vậy, và đến lúc này tôi vẫn nghĩ vậy. Có điều, càng ngày tôi càng nhận thấy trách nhiệm xã hội đè nặng lên đôi vai yếu ớt cùng cây bút thanh mảnh của mình. Tôi nghĩ, chỉ bằng lao động đam mê ngày này qua ngày khác, lao động khổ ải tựa như vần một tảng đá lớn, mới mong trả nghĩa cho đời, để không hổ thẹn khi mang danh hiệu “Nhà văn Việt Nam”.

Lại nhớ đến một kỷ niệm nghề nghiệp khác mới xảy ra với tôi cách đây không lâu. Chả là, tôi có một người bạn từng học chuyên ngành văn học ở Liên Xô trước đây. Bẵng một thời gian khá dài, đâu đến 9, 10 năm, chúng tôi mới có dịp gặp nhau ở Đà Lạt. Câu chuyện lâu ngày chủ yếu xoay quanh các vấn đề văn chương. Thỉnh thoảng, chúng tôi chen vào đôi ba từ Nga như để nhớ lại những năm tháng đẹp đẽ xa xưa …

-         Ông thấy chất lượng văn chương của ta hiện giờ thế nào? – Như một thói quen nghề nghiệp, tôi chủ động hỏi.

-         Như ông biết đấy, đã có mấy ai hài lòng đâu?

-         Nguyên cớ chủ yếu là ở đâu?

-         “Baza”, “baza” ! (nghĩa là “nền móng”, “nền tảng”), ông ạ!

-         Ý ông muốn nói “baza Kulturưi”! (nghĩa là “nền tảng văn hóa”)

-         Không chỉ có thế! – Ngừng một lát, bạn tôi nói tiếp:

-         Ông có nhớ kul (trong kultura) nghĩa là gì không? Nghĩa là “cái bao lớn”. Thú vị chưa? Không thể có tài năng lớn khi chỉ mang cái bao nhỏ xíu!

Chúng tôi cùng cười phá lên! Thế rồi ngay sau đấy cả hai lại cùng im lặng. Không rõ bạn tôi nghĩ gì, còn tôi thì chợt nhớ tới đòi hỏi rất cao của Nguyễn Văn Siêu về cái mà cụ gọi là “áng văn chương của tạo hóa”. Để có những tác phẩm văn chương có giá trị như thế, nào có dễ dàng gì! Riêng phần tôi, tôi xin bắt chước nhà văn quá cố Nguyên Hồng để lấy câu Kiều linh thiêng sau làm vật chứng giám cho những ý nguyện nghề nghiệp của mình:

Hồn con mang nặng lời thề

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai

Xin cảm ơn!

                                                                                                         Đà Lạt 12/4/2000