Xin hái một nhành hoa

Hữu Chỉnh, cây bút thơ quen thuộc ở Đắc Lắc, có một bài thơ viết về nghề thật thấm thía –Bài “Chậu cảnh”. Tôi rất nhớ câu này: “Góm gom nên một nhành hoa”. Anh đã chắt chiu sáng tạo ra cho đời nhiều nhành hoa thơ đầy hương sắc. Tôi xin được hái một trong những nhành hoa đẹp ấy để cùng các bạn thưởng lãm –bài thơ đã đi vào một bài hát quen thuộc –“Nghe Quan họ trên Cao Nguyên”.

Khúc “giã bạn” hát rồi mà anh còn nấn ná

Dùng dằng hoài bởi tiếng láy vọng: “Người ơi”…

Nhà thơ mở đầu như vậy! Bất cứ sự khai mở nào cũng khó. Với thơ, càng khó. Trong “lời giới thiệu” có tính giao đãi, thủ tục ấy cần hết sức tránh dài dòng, cứng nhắc. Hữu Chỉnh đi ngay vào điểm cốt lõi: khúc hát và lời đồng vọng, lại là khúc ca “Giã bạn” (Sự từ biệt nào chả gợi lưu luyến!) trong tiếng láy vọng: “Người ơi! Người ở đừng về!”. Có ai từng đắm mình trong Quan họ lại không từng bị quyến rũ bởi những làn điệu quen thuộc ấy. Điều diệu kỳ là ở chỗ: quen đấy mà vẫn lạ, nhiều khi mới lạ đến ngỡ ngàng:

Anh tệ thật, bao lần nghe Quan họ

Mà lần nào cũng tưởng mới nguyên thôi

Câu thơ có vẻ tự trách mình để nhằm gợi cảm xúc nơi người đọc. Nhưng điểm cốt lõi là ở chỗ khác: nhà thơ gắn cái quen của lời Quan họ với cái lạ ở đất Cao Nguyên. Những dòng thơ sau trôi đi trong mạch cấu tứ chung ấy… Thực và ảo, lời ca và tưởng tượng cứ quấn quyện vào nhau làm nên sức cuốn hút của bài thơ.

Sông thì xa, đỉnh núi thì gần

Câu Quan họ chảy trong lời hát

Ngỡ sông Cầu dập dềnh trước mặt

Nắng lưng đồi cứ tưởng nước lơ thơ

Núi đồi, nắng chiều là có thực, ngay trước mắt ta đây. Nhưng lời ca Quan họ giữa núi đồi, nắng chiều chỉ “như” thôi, vì Quan họ là thứ hiện tồn khác –hiện tồn của nghệ thuật mang sức khơi gợi lớn. Nơi đây, hiện giờ là dải nắng, nhưng do: “Nắng lưng đồi như thức như mơ” (Người viết láy lại đầy dụng ý) nên: “Cứ lấp loáng như cái dòng sông ấy”. Con sông Cầu “nước chảy lơ thơ” đấy mà. Có được sự liên tưởng này là nhờ “Câu Quan họ chảy trong lời hát” của em, người đang đứng kia, liền kề anh đây, lòng vẫn còn đang xốn xang, xao xuyến. Thật lạ lùng sao! Sóng dậy trong lòng em để rồi vỗ mãi trong lòng anh, trong lòng bao người khác:

Mà sóng vỗ vào lòng anh vậy

Nên giữa bao người anh chỉ thấy riêng em

Ta có thể cảm thông được với tính ích kỷ “dễ thương”  của nhân vật trữ tình. Bởi nếu không tồn tại “cái riêng” ấy thì sao ta có thể có những vần thơ lấp loáng sau đó:

Giá mà em làm một mạn thuyền

Anh ngồi tựa như trong Quan họ

Thì mây núi chẳng tím màu thương nhớ

Tay vin cành, thôi thả gió bâng khuâng

Giá mà”, lại giả định như ở câu thơ trên: “Ngỡ sông Cầu…”, và cả ở câu thơ dưới như sẽ thấy: “Mà chỉ thấy…” Cái hay của ý thơ nằm ở mạn thuyền “giả”; cái hay của ý thơ còn ở sự vin cành “thật”… Để rồi:

Nước cứ tím, hồ sẫm màu cổ tích

(Đêm huyện Lắc)

Ôi! Cái màu tím thương nhớ cùng những ngọn gió bâng khuâng, thiếu các người thử hỏi cuộc đời này sẽ nghèo nàn đi biết mấy! Hãy sống với hiện thực và cũng xin đừng quên huyền thoại. Để có thể viết như nhà thơ:

Anh mải nghe Quan họ đến nao người

Xôn xao lòng một vùng đất đỏ

Gặp nhau đây tình anh muốn ngỏ

Mà khó nói sao … chỉ một lời yêu

Khó trao lời yêu ư? Nói là nói vậy thôi, trên đời đâu có phải điều gì cũng cứ nói “toạc” ra đâu. Nhiều khi “im lặng là vàng” kia đấy! Mà đôi mắt lúng liếng kia chắc cũng đủ nhay cảm để nhận ra rồi. Cái khiến người đọc sững sờ là ở sự “xôn xao lòng một vùng đất đỏ”, nghĩa là ở cái chung hòa trong cái riêng của người làm thơ. Đến đây, Hữu Chỉnh có thể đĩnh đạc đẩy ý thơ lên cao trong khổ kết:

Con sông Cầu trong Quan họ đẹp nắng chiều

Cứ dịu dàng như em –cô gái vùng Kinh Bắc

Xui ta gặp mình giữa Cao Nguyên Đắc Lắc

Gặp quê hương trên mọi quê hương

Tôi hài lòng với đoạn kết, nó vừa “khép” lại, vừa “mở” ra, lại vừa “nâng” lên. Từ “anh” và “em” riêng tây đã thành “ta” và “mình” rộng lớn. “Gặp quê hương trên mọi quê hương” –nhà thơ tự nhủ lòng mình hay muốn nhắn gửi cùng người? Tôi chợt nhớ đến tên một bài thơ khác của Hữu Chỉnh: “Đâu cũng quê hương”. Rồi hai câu thơ này nữa trong bài “Vẫn con đường ấy”của anh:

Mòn chân mấy nẻo rừng già

Núi sông đâu cũng là nhà, phải không?

Hữu Chỉnh gắn bó với Tây Nguyên đã ngót 30 năm ròng. Biết bao kỷ niệm sâu nặng: “Krông Ana chảy trong tâm tư” (Nhớ). Mảnh đất quyện với đời anh mang nhiều ân nghĩa ân tình. Chỉ có sống, sống hết mình mới có thể sáng tạo được những vần thơ chan chứa nghĩa tình đến thế. Và cứ như được thốt ra một cách tự nhiên đến không thể nào khác, không cầm giữ nổi. Tôi nhớ đến một chuyện ít nhiều riêng tư. Một lần, nhà tôi hỏi: “Sao nhà văn họ tài thế? Viết nhiều đến thế?”. Con gái tôi, vừa tốt nghiệp đại học, để tỏ sự hiểu biết của mình, nhanh nhảu giải thích: “Trong đầu họ lắm chữ! Con thấy họ viết cứ như chơi ấy!”. Tôi cười, muốn nói cho hết nhẽ để vợ con tôi hiểu mà khó quá chừng. Biết bắt đầu từ đâu? Từ phẩm chất nào? Từ năng lực nào? Trong khi cái nào cũng cần đến mức tưởng như không thể thiếu. Tốt nhất là cười, cười trừ. Rồi thấy không yên trong lòng. Mang tiếng là người làm lý luận phê bình mà chịu bó tay ư? Lại ngay dưới ngôi nhà mình, trước những người thân của mình? Tôi bảo nhà tôi, vốn là cử nhân sử học: “Họ viết nhiều vì họ biết nhiều”. Rồi quay sang con gái tỏ ý răn dạy: “Viết văn không phải phơi phới như con tưởng đâu nhé!”. Thế là, có lẽ do thói quen nghề nghiệp, tôi lên giọng giảng giải một câu trong bài “Hà Nội và tôi” –ca khúc được các con tôi rất ưa thích. Đó là câu: “Cháy hết mình cánh phượng nhẹ nhàng rơi”. Lao động văn chương là thế đấy, sống hết mình trong tìm kiếm, quên mình đi trong thể nghiệm, căng mình ra trong thử thách, để rồi dụng bút một cách tự nhiên, “cứ như chơi ấy”. Tôi kết thúc câu chuyện với vẻ tự mãn lắm lắm. Không biết có gì liên hệ giữa câu chuyện gia đình thường ngày của tôi với thơ Hữu Chỉnh? Đâu như anh cũng từng viết: “Lăn mãi vào tim cánh phượng hồng”. Và nổi bật hơn là 2 câu thơ trong phần kết của bài thơ dài “Khúc hát mười năm” của anh:

Ngây ngất với đất hồng như lửa

Dư vọng mãi “Người ơi, người ở…”

Ôi! Giá mà ai cũng có được tấm lòng như anh! Với Cao Nguyên. Và với thi ca.

                                                                                                                                  Đà Lạt, 30/8/99