Nhà văn Xuân Thiều với tư cách người đọc

Rồi có người sẽ bảo, một nhà văn thành đạt như Xuân Thiều mấy ai không có khiếu cảm thụ văn chương tinh nhạy, bàn đến chuyện ấy ở ông có vẻ như “vẽ rắn thêm chân”, phiền toái nhiêu khê mà phỏng có ích gì. Tôi lại nghĩ khác. Thưởng thức giỏi là điều kiện để sáng tạo giỏi. Hai khả năng này, hòa hợp đến mức khó tách rời ở nhà văn. Tuy cảm thụ, và nói ra sự cảm thụ của mình, lại đầy lý lẽ, đầy sức cuốn hút như Xuân Thiều thì hiếm và quý lắm. Và biết đâu, đọc những lời bình luận, phân tích của Xuân Thiều về các hiện tượng văn chương cụ thể lại không soi sáng ít nhiều cho quan niệm văn chương của ông – cái mà ai cũng thấy rất cần được tìm hiểu.

Tác phẩm qua tay Xuân Thiều, thơ có, mà phần nhiều vẫn là văn, của các tác giả thành danh có, mà nhiều hơn cả vẫn là các cây bút trẻ đang đi những bước đầu tiên trên con đường văn chương chập chùng thách thức ở phía trước. Thường là ông làm bổn phận của mình: đọc và nhận xét nhân một cuộc thi hoặc nhân một kỳ tổng kết. Trước tiên, ta cần được rõ ông dựa vào đâu để xem xét, đánh giá các hiện tượng văn chương? Ai cũng biết đây là cốt lõi của mọi sự. Thước đo đã không đúng, không hợp thì mọi đoán định như tòa lâu đài xây trên cát, sao mà tin cho được. Thước đo trong tay Xuân Thiều có thể gói gọn trong hai từ: “chân thực” và “chân tình”. “Chân thực” nằm trong quan hệ quy chiếu với khách thể, còn “chân tình” năm trong mối tương quan với chủ thể. Ông viết: “Tôi vốn không ưa thích những tác giả cố làm ra vẻ sâu sắc nên cứ phóng tay hư cấu bừa bãi, bất chấp cả tính chân thực của cuộc sống” (1, tr. 201). Ông còn viết: “... Thành công không phải vì cốt truyện hay, vì biết sử dụng thủ pháp nghệ thuật, mà chủ yếu là viết bằng cái chân tình” (1, tr.201). Vậy là khá rành mạch và dứt khoát: phải chân thực trong thể hiện đời sống, phải chân tình trong biểu hiện tư tưởng, tình cảm. Đọc kỹ thì thấy Xuân Thiều chưa bao giờ tách chúng ra thành hai. Biện chứng là ở chỗ ấy. Ông viết: “Cái vẻ xúc động của cuốn tiểu thuyết không chỉ ở chỗ tả cảnh, tả tình mà chủ yếu ở tính chân thật trong cuộc sống” (1 tr.184). Có thể dễ dàng nhận ra thành công của một tác phẩm ở nơi bạn đọc. Dấu hiệu đầu tiên là sự rung động. Hiệu quả này mang tính tổng hợp, ở cả nội dung hiện thực lẫn nội dung tư tưởng, khó mà tách bạch cho được. Và đây, một minh chứng. Đọc xong một truyện ngắn của Trần Đức Tiến, Xuân Thiều “cảm thấy như ở đâu đó rò rỉ ra một nỗi buồn, từng giọt, từng giọt. Chỉ muốn kêu lên rằng, sao ở đời này cái giả cái thật lại cứ đan chéo vào nhau kinh khủng đến thế, ghê tởm đến thế. Và hóa ra muốn đến được cái đích thực không phải là hành trình dễ dàng” (1, tr. 233-234).

Ở đây, có lẽ phải dùng từ “thần tình” để đánh giá sự vận dụng khéo léo các chuẩn mực của giá trị văn chương. Nắm nguyên lý và khả năng sử dụng nguyên lý bao giờ chẳng có khoảng cách, lắm khi xa và rộng đến khó lường. Nhất là trong lãnh địa văn chương “mênh mông bể sở”. Rồi lại thêm sự yêu ghét chủ quan của người cảm thụ. Dễ mơ hồ, vô định “không bằng cớ” lắm chứ! Từ đó, thống nhất được với nhau trong thẩm định là chuyện khó. Nhưng, chả lẽ cứ để cho mây mù hư hư thật thật kia ngự trị? Chả lẽ cứ xóa nhòa ranh giới phân cách giữa cái hay và cái dở, cái đúng và cái sai, cái tốt và cái xấu? Chả lẽ cứ để lý thuyết “tập mờ” u u minh minh chi phối, ám ảnh? Xuân Thiều cũng như bao người có khiếu thưởng thức tinh tường khác không chịu bó tay. Để có thể vươn tới cái đích thực cho mọi người và cho mọi thời. Ông viết: “Nhà văn để lại cho đời là ở cái tâm, cái tình, cái chất men tạo dựng tâm hồn và nhân cách con người, để con người có quyền tự hào là chúa tể của mọi sinh vật” (1, tr. 7).

Yêu ghét, khen chê của Xuân Thiều có chỗ dựa đáng tin cậy là vì thế. Đó là “cái bất biến” giúp ông “ứng vạn biến”. Đặc biệt là lúc phải chê. Đây, sự phê phán của Xuân Thiều đối với cuốn Miền hoang tưởng: “Cái khuôn mặt xã hội vừa hào hùng vừa bi thương hồi đó không giống với khuôn mặt xã hội trong tác phẩm. Cảm giác như Đào Nguyễn ở đâu đó, chứ không hòa mình với xã hội nên chỉ nhìn xã hội bằng cảm tính. Sự chân thực trong cuốn sách, vì vậy, méo hẳn đi” (1, tr.222). Có thể việc đối chiếu hiện thực văn chương với hiện thực đời sống không phải bao giờ cũng là cách thức thỏa đáng, nhưng đường hướng chung của sự cảm nhận ở đây là đúng đắn. Văn chương chân chính không thể dung nạp những gì mà cuộc đời không dung nạp. Cho dầu văn chương là ước lệ, cho dầu văn chương và cuộc đời không phải là một. Xuân Thiều dị ứng mạnh với những tác phẩm xa rời, thậm chí đi ngược lại bản chất và quy luật của đời sống.

Các tác phẩm thỏa mãn những nhu cầu và tiêu chuẩn thẩm mỹ mà Xuân Thiều khao khát và tuân thủ, thì ông đọc với một thái độ khác hẳn, như đắm mình trong hình tượng nghệ thuật, không còn phân biệt đâu là trang sách và đâu là cuộc đời. Nhiều lần ông rơi lệ trước những tác phẩm thành công, bất kể của ai, đã thành danh hay chỉ mới bước vào nghề viết. Điển hình hơn cả là trường hợp Hồ Anh Thái, một tác giả trẻ, với cuốn tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng. “Mà tôi - Xuân Thiều nhớ lại - người đọc cuốn sách này thì khóc thật. Tôi gỡ kính ra, lau nước mắt, rổi lững thững đi đi lại lại trong phòng” (1, tr.189). Liệu ông có duy cảm quá không? Nỗi e ngại là dễ hiểu. Có điều nước mắt không phải bao giờ cũng là dấu hiệu của sự yếu lòng. Hơn thế, đây là nước mắt do nghệ thuật đem lại. Nó không thể là vô cớ mà gắn liền với tư tưởng và nhận thức. Chỉ có điều ở đây nhận thức chín đến độ chuyển thành cảm xúc, nhận thức sâu đi cùng với cảm xúc mạnh, kết tinh trong những nhận xét thấu đáo, có thể chịu được sự sàng lọc khắc nghiệt của công chúng và thời gian. Xin nêu ra một đoạn Xuân Thiều bàn về các cây bút trẻ: Họ “có lối viết hiện đại, nhịp độ phát triển của truyện rất nhanh, nhận xét khá tinh tế và ngôn ngữ tươi mát. Họ viết những truyện rất ngắn,...có duyên và cũng không kém phần sâu sắc. Trong đợt giám định văn xuôi lần này, chính họ lại là lớp tác giả gây không khí mới, tươi rói và hiện đại” (1, tr.273). Những đánh giá tương tự của ông đến nay có lẽ vẫn còn nguyên giá trị.

Một đòi hỏi khác trong thưởng thức văn chương là sự cảm nhận không chỉ cần đúng mà còn phải tinh. Xuân Thiều xem ra không thua kém ai ở khía cạnh vừa nêu. Chẳng hạn, đây là cái cách mà ông tiếp cận với truyện ngắn không dễ thẩm định của Trần Đức Tiến: “Đọc truyện của anh như ăn bánh gai. Phải bóc hết lớp lá, và đừng vội ngại cái màu đen nom không mấy hấp dẫn. Cái mùi vị riêng của bánh gai thấm đượm vào lá, khi vừa nhai vừa thưởng thức” (1, tr.233). Còn đây là ấn tượng chung về giọng điệu của một cây bút nữ: “Truyện của Trần Thùy Dương có cái gì phảng phất giống như tiếng thở dài của người đàn bà đẹp. Với người đẹp, tiếng thở dài cũng thật đáng yêu” (1, tr.239). Xuân Thiều tài tình trong cảm nhận chung, cũng rất tài tình trong cảm nhận từng chi tiết đắt.Vốn giàu kinh nghiệm trong viết văn, ông biết giá trị của những chi tiết đích đáng có sức ám ảnh người đọc đến mức nào. Nếu cần đưa ra minh chứng thì không gì nổi rõ cho bằng việc người con trai sau bao năm cách chia, “đưa ngón tay ươn ướt nước mắt người mẹ lên mũi ngửi” (Mùa trái cóc ở miền Nam). Xuân Thiều lập tức phát hiện ra tiếng kêu thảng thốt của Nguyễn Minh Châu: “Hỡi trời đất, đã có ai trên đời này nhìn thấy đứa con ngửi giọt nước mắt của mẹ?” (1, tr.295).

Ấy là lời khen. Cảm quan tinh tường của Xuân Thiều còn lộ ra khá rõ ở lời chê trách. Bởi vậy mà người bị chê cũng không thấy phật ý, lại còn phải hàm ơn ông nữa. Người xưa bảo, ai chê ta đúng, đó là thầy ta. Xin được nêu ra một ví dụ: Vũ Thị Hồng với truyện Ở ấp Thạch Mỹ. Xuân Thiều viết: “Theo tôi,... có nhiều tài liệu, có nhiều hiểu biết nhưng sử dụng vào truyện còn hạn chế, còn dè xẻn. Thực ra, trong nghề văn, trường hợp này có thể gọi ngược lại là đã quá phung phí tài liệu. Nó giống như khi ta xé cả một tấm lụa đẹp, chỉ để may một chiếc áo búp bê” (1, tr.203).

Tôi không nói sự cảm thụ của Xuân Thiều bao giờ và ở đâu cũng đều xác đáng. Ông, cũng như bao người trần mắt thịt khác, không thể “thập toàn”. Vẫn có những trường hợp ông bị ấn tượng hoặc thiên kiến chủ quan xen vào sai xử. Khi ấy, nhiều đánh giá của ông thường gây ra cảm giác nghi ngại nơi người đọc, mặc dù không phải không có cơ sở để cảm thông với ông. Mừng thay, trên thực tế, đó chỉ là một vài trường hợp hy hữu, không thật tiêu biểu. Và, vì thế, không hề làm mất đi sự tin cậy của bạn đọc khi tiếp nhận những đánh giá của ông về các hiện tượng văn chương đương đại vốn cực kỳ đa dạng và phức tạp đang diễn ra.

Về phần mình, cho đến giờ, tôi vẫn chưa hết thán phục Xuân Thiều về những lời phê bình tiểu thuyết Chim én bay của Nguyễn Trí Huân. Cái tài là hiểu đúng người viết. Cái tài còn ở chỗ viết trúng và viết gọn: đâu chỉ vài trang sách. Người thông minh cần chi lắm lời. Lại cho ta cái khả năng làm chủ tác phẩm đến độ, dẫu chưa trực tiếp đọc Chim én bay, vẫn có thể bàn luận về nó mà không sợ bị người khác chê bai là nói càn nói bậy. Ôi! Chỉ riêng điểm ấy thôi cũng cần phải nghiêm chỉnh học hỏi Xuân Thiều nhiều, nhiều lắm.

------------------------------------------------------------

(1)    (1) Xuân Thiều - Tiếng nói cảm xúc – Nxb Lao động, Hà Nội, 1996.