Người thầy với việc bồi dưỡng tình cảm cho học sinh

Nói đến văn chương là nói đến cuộc sống và con người , hay đúng hơn là nói đến đời sống con người trong đó có đời sống tình cảm. Vả chăng nhà văn mô tả hiện thực có bao giờ lại không biểu lộ một thái độ nhất định. Đó là lòng  yêu hay ghét; niềm vui hay buồn; nỗi căm thù hay thương cảm; đả phá hay xây dựng; tôn trọng tự hào, khâm phục hay mỉa mai, phẫn nộ... Có bao nhiêu sắc thái tình cảm trong đời sống con người thì có bấy nhiêu cung bậc tình cảm trong văn chương.

Vì lẽ đó, giảng văn không thể không tiếp xúc với hiện thực được thể hiện trong tác phẩm, cũng không thể không đồng cảm với thái độ của tác giả. Tác phẩm văn chương có sinh mệnh riêng, rất trực cảm. Người dạy văn, cảm thụ và phân tích tác phẩm không chỉ bằng khối óc mà bằng cả con tim. Không như vậy, chúng ta  chẳng thể hiểu nổi công việc của người giáo viên văn học. Giảng văn, do đó, được coi là một thử thách lớn  đối với người dạy văn. Trong giờ giảng văn, người giáo viên phải phát huy  nhiều năng lực, phẩm chất và khả năng sáng tạo vốn có.

Từ trước tới nay, vấn đề tình cảm trong giảng văn được nhiều người quan tâm, suy nghĩ. Bao nhiêu tâm huyết dồn vào bài giảng văn nhiều lúc vẫn thất bại khi chưa mang lại cho học sinh sự xúc động say mê. Cố nhiên, những hứng thú và sự xúc cảm còn tùy thuộc vào người nghe. Song không  ai chối cãi được rằng người dạy giữ vai trò quyết định. Giảng văn với những rung động  trong sáng và sâu sắc  thì  nội dung tư tưởng sẽ dễ dàng in đậm vào tâm hồn học sinh. Tôi còn nhớ như in vẻ mặt, ánh mắt, giọng nói, cử chỉ của thầy giáo tôi khi giảng bài Bác ơi của Tố Hữu cách đây 27 năm. Những giọt nước mắt tinh thần đúng đắn sẽ làm tâm hồn con người trong sáng hơn, cao đẹp hơn, nó xa lạ với thứ tình cảm yếu đuối ủy mị. Có thể nói tài năng của người dạy văn không dừng ở mức cảm mà  thực sự vươn tới nghệ thuật truyền cảm. Vì những lẽ đó, việc tìm hiểu vai trò của tình cảm  người dạy trong giảng văn không chỉ để thấy ý nghĩa to lớn mà còn để thấy hết những khó khăn thử thách của nó, từ đó có phương hướng rèn luyện suốt đời mình.

Như trên đã nói, chúng ta không thể hiểu nổi công việc của người giảng văn nếu tách rời vấn đề tình cảm của người dạy văn. Bởi vì, tình cảm thâm nhập vào toàn bộ công việc soạn, giảng của người giáo viên văn học. Ở đây, chúng tôi chỉ xin trao đổi vấn đề  đó trong phạm  vi thâm nhập tác phẩm (trong khâu chuẩn bị) và bước truyền thụ (trong khâu lên lớp).

Chúng ta đều biết  muốn giảng một bài văn, bài thơ (hay bất cứ một đoạn trích tác phẩm nào cũng vậy) người thầy giáo phải cảm và hiểu thật sâu sắc, đầy đủ bài văn, bài thơ đó. Việc chiếm lĩnh đối tượng giảng văn được tiến hành trong khâu chuẩn bị lên lớp.

Theo chúng tôi, bài soạn chỉ là kết quả cụ thể chứ chưa phải là kết quả cuối cùng của khâu chuẩn bị bài giảng văn; cái quan trọng nhất, cái kết quả cuối cùng là người giáo viên  phải thâm nhập được tác phẩm. Thâm nhập  bài văn bài thơ, nghĩa là  phải thực sự cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm, phải sống cùng với  tâm trạng tác giả, đời sống của nhân vật và không khí câu chuyện. Có như vậy người giáo viên  mới có điều kiện phân tích bình giảng xác đáng, sâu xa được. Để có cơ sở thâm nhập tác phẩm, ta phải có tình cảm với bài văn, với tác giả. Nhà văn đã bằng tất cả sự say mê, rung động của mình để sáng tạo tác phẩm thì  người cảm thụ và giảng dạy nó cũng phải có sự thông cảm thích đáng trước sự say mê, rung động này. Bước thâm nhập  bài văn đòi hỏi giáo viên  phải có năng lực cảm thụ thật nhậy, thật tinh và thật sâu. Người dạy văn giỏi đồng thời là người thưởng thức  văn chương tốt. Vấn đề trước tiên đặt ra là đọc tác phẩm như thế nào? Bởi vì “đọc văn” là bước đầu đi vào tác phẩm. Đọc văn phải rõ ràng, diễn cảm (cố nhiên!) với tất cả tâm hồn của mình. Có như vậy ta mới hiểu nổi ý nghĩa  biểu hiện của ngôn ngữ văn chương, một thứ ngôn ngữ đặc biệt, cụ thể, giàu hình ảnh, phát huy đến mức  cao độ chức năng biểu cảm của ngôn ngữ. Ngôn ngữ  văn chương nhất là ngôn ngữ thi ca rất hàm súc và tinh tế, nên vừa  đọc ta phải vừa nghĩ, đọc rồi nghĩ, muốn nghĩ chín phải để tình cảm lắng lại. Cho nên, khi giảng văn, ta nên đọc trước bài văn, bài thơ độ năm bảy lần. Lần đọc đầu tiên, ta nên coi trọng những ý nghĩ đột xuất nảy ra trong đầu. Theo kinh nghiệm của bản thân, tôi thấy những ý nghĩ đó, tuy còn ở mức cảm tính, nhưng lại thường có quan hệ mật thiết tới mặt cơ bản nhất của tư tưởng tác phẩm. Ở đây có cái khó là  những bài giảng thường rất quen thuộc nên chúng làm giảm cảm xúc khá nhiều. Song nếu đã được cuộc đời tin yêu thì sự phát hiện có bao giờ hết được.

Một công việc rất có hiệu quả là nâng cao tình cảm  đối với tác giả bằng cách quay trở lại tìm hiểu cuộc đời nhà văn. Cuộc đời của tác giả được chọn dạy trong chương trình thường có ý nghĩa giáo dục ở những mức độ khác nhau. Trong một số trường hợp, đó là những tấm gương sáng về tư tưởng và đạo đức, khí phách và tâm hồn, đáng để chúng ta suy nghĩ học tập. Khi giảng tác phẩm của những nhà văn, nhà thơ lớn như vậy, bao giờ chúng ta cũng trân trọng, tự hào. Giảng thơ Hồ Chí Minh, chúng ta cảm phục sức mạnh tâm hồn và trí tuệ của Người. Chỉ cần nghĩ đến cuộc đời như thế thì ai chẳng thấy cuộc sống là đáng yêu, con người là đáng trọng, và rất tự nhiên, tình cảm đó thấm vào ta khi đọc và phân tích những bài thơ như “ Cháu bé trong nhà lao Tân Dương”  “Không ngủ được”. Người ta ít khi thỏa mãn về những giờ dạy thơ văn của Bác cũng vì cái tình cảm của ta đối với Người không có giới hạn. Đó là một biểu hiện cao đẹp của tinh thần trách nhiệm luôn thức tỉnh, của tình cảm thiêng liêng đối với vị lãnh tụ muôn ngàn tôn kính. Tình cảm của chúng ta cũng thật đặc biệt khi giảng các tác phẩm của  các nhà văn miền Nam sáng tác trong  cuộc Kháng chiến chống Mĩ cứu nước vĩ đại. Những trang sách như vậy thật sự là những trang đời. Nhiều nghệ si đã ngã xuống vì  mong mỏi sáng tạo những tác phẩm có giá trị để xứng đáng là “chiến si trên mặt trận văn hóa” (Hồ Chí Minh). Giảng về Nguyễn Thi, một nhà văn đã khuất, thì hình ảnh của nhà văn ngã xuống  giữa chiến hào mà tay vẫn cầm khẩu súng hiện lên khiến ta rất xúc động. Và khi đọc tác phẩm “Người mẹ cầm súng” thì tự trong tâm hồn sâu thẳm của mình rung lên một niềm kính trọng thật thiêng liêng.

Thâm nhập bài văn ít nhất phải thâm nhập trên hai phương diện: Hoàn cảnh câu chuyện  tính cách nhân vật. Muốn nhập vào hoàn cảnh câu chuyện, ta  phải có óc tái hiện và trí tưởng tượng  phong phú. Cái đó khó thật, nhưng chẳng khó bằng việc thâm nhập  tính cách nhân vật  được biểu hiện sinh động qua hình dáng, cử chỉ, lời nói và nội tâm nhân vật. Ở đây, tình cảm giữ vai trò trọng yếu. Ta phải đồng cảm với nhân vật, vui buồn cùng nhân vật, cảm thấy đau xót trước nỗi đau của nhân vật chính diện, cảm thấy phẫn nộ trước những suy nghĩ đê tiện và hành động bạo ngược của nhân vật phản diện...Được như vậy, ta mới thực sự sống với tác phẩm, mới hiểu sự phát triển tính cách nhân vật, mới nhìn thấy từ hành vi và tâm trạng nhân vật những điểm sáng giúp cho sự  phân tích được thấu triệt, tập trung và sáng tỏ.

Thâm nhập bài thơ là phải qua ngôn ngữ, hình ảnh, nhạc điệu của bài thơ để cảm thông với tình cảm của nhà thơ. Vì nói đến thơ (thơ trữ tình), trước hết là nói đến cảm xúc hồn nhiên, trong sáng, dạt dào của nhà thơ. Thơ (như cách nói của Lưu Trọng Lư) đi vào lòng người bằng bánh xe của tình cảm. Người phân tích cũng như người thưởng thức phải thực sự rung cảm cùng trái tim nhà thơ. Những tình cảm này bộc lộ tinh tế qua hình ảnh và nhạc điệu . Lên án tội ác của giặc Mĩ, kẻ thù của dân tộc và của các em thơ, Chính Hữu viết:

Chúng mang bom nghìn cân

Giội lên trang giấy

Mỏng như một ánh trăng ngần

Hiền như lá mọc mùa xuân

 (Trang giấy học trò)

Hình ảnh tương phản - bom nghìn cân tượng trưng cho sức hủy diệt ghê gớm giội lên trang giấy trắng mỏng manh, hiền dịu như bao hồn trẻ thơ - nói với chúng ta rất nhiều điều. Không một chữ, một dòng thơ nào biểu hiện trực tiếp cụ thể lòng căm thù của nhà thơ. Nhưng nếu đọc thật ki ta sẽ nhận thấy đằng sau những hình ảnh tương phản  mạnh mẽ, đằng sau những hình ảnh so sánh dồn dập là lòng căm thù cháy bỏng của tác giả trước tội ác của quân thù. Một người dù thờ ơ, lãnh đạm trước thời cuộc, đọc đoạn thơ này cũng  không thể dửng dưng trước ngọn lửa căm thù mãnh liệt ấy được.

Thâm nhập bài văn, bài thơ tốt là bí quyết thành công trước tiên  của bài giảng văn. Có điều, thâm nhập tác phẩm là công việc phức tạp, tinh tế đòi hỏi một sự rèn luyện bền bỉ, lâu dài. Đó là công việc của một đời người, một đời người gắn bó thiết tha với nghề nghiệp của mình.

Bước thâm nhập có tính quyết định, song dù sao cũng chỉ dừng ở thế khả năng. Việc truyền thụ trên lớp sẽ biến khả năng ấy thành hiện thực. Rõ ràng người giáo viên phải coi bước truyền thụ là mục đích sư phạm, chuẩn bị cũng nhằm truyền đạt nhuần nhuyễn, có hiệu quả trên lớp mà thôi.

Việc gây dựng và nuôi dưỡng cảm xúc của cả giáo viên và học sinh được thực hiện ngay từ khi giáo viên cùng học sinh đọc bài văn, bài thơ. Do đó ta nên đặt cho mình yêu cầu không nhỏ khi hướng dẫn học sinh đọc và tự mình đọc để gây dựng cảm xúc cho bản thân và cho học sinh. “Đọc văn” khác với “đọc chữ”. Biết bao nhiêu yêu cầu cụ thể cho một mục đích “diễn cảm”. Đọc văn chỉ có thể gọi là thành công khi nó nâng tình cảm của giáo viên và học sinh, giúp giáo viên sống lại với tác phẩm, tạo tiền đề cho bước phân tích, bình giảng tác phẩm. Vì lẽ đó, đọc văn có vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng cảm xúc của người giảng văn.

Sau khi cùng học sinh gây dựng cảm xúc bằng việc đọc văn, giáo viên bước vào bình giảng, phân tích tác phẩm. Cảm xúc của người dạy trong giai đoạn này gặp nhiều trở ngại. Lớn nhất là giáo viên  phải tuân theo một số yêu cầu sư phạm như: Viết bảng, hỏi để gợi suy nghĩ của học sinh, nói chậm cho học sinh ghi những đoạn cần thiết...Thời gian bị đứt đoạn. Vấn đề đặt ra: Làm thế nào để nuôi dưỡng, duy trì cảm xúc trong lòng học sinh? Nếu là diễn giả thì khác. Anh ta sẽ bằng nhiều thủ pháp nghệ thuật nói chuyện nhằm duy trì cảm xúc cho bản thân và người nghe. Giáo viên dĩ nhiên không phải là diễn giả, nhưng giữa diễn giả và người dạy văn có chung một ưu thế: Việc diễn giảng. Người giáo viên văn trên lớp vận dụng phương pháp trực quan chủ yếu bằng bảng và bằng lời nói. Ở mức độ nhất định hai hình thức trực quan này kết hợp, bổ sung, hỗ trợ cho nhau và bài giảng càng có hiệu quả khi người dạy biết kết hợp chúng một cách có nghệ thuật. Mỗi hình thức trực quan vốn có ưu thế riêng: Bảng có tác dụng khắc sâu kiến thức, lời nói có tác dụng kích thích cảm xúc. Nếu quá lạm dụng trực quan bảng sẽ làm giảm sự cuốn hút của lời nói đi khá nhiều. Do đó cần chú ý đúng mức đến trực quan lời nói.

Vấn đề là ở chỗ giáo viên nói vào lúc nào và nói như thế nào. Nên nhớ rằng nhiệt tình của giáo viên không thể hiện ở chỗ nói to, nói nhanh, nói nhát gừng, nói cụt, cũng không chỉ ở tư cách bên ngoài, mà ở ngọn lửa nội tâm, ở nhiệt tình và khí thế của mình. Dĩ nhiên lời diễn giảng của giáo viên phải xác đáng, trong sáng, và trôi chảy, song sức mạnh của lời nói còn phụ thuộc nhiều vào cảm xúc của người nói. Chỉ mang hơi ấm của lòng người, lời nói mới tỏa xa, tỏa sâu và tỏa sáng. Cảm xúc đó phải là thứ cảm xúc chân thực xuất phát từ bài văn. Không có cảm xúc thực sự thì lời nói sẽ giả tạo. Ta thường nói “anh ta kịch quá” cũng có nghĩa anh ta giả tạo quá. Muốn tăng sức truyền cảm của  lời nói  thì lời nói cũng cần sự hỗ trợ bằng cử chỉ, nét mặt của người giáo viên. Trong trường hợp này, hình ảnh người giáo viên lên lớp cũng là một trực quan sinh động. Giáo viên nói không chỉ bằng giọng nói. Nét mặt, điệu bộ và cả đôi tay cũng tham gia vào câu nói. Đôi khi một cánh tay giơ lên, một bàn tay nắm chặt hay một cử chỉ tương tự  khác lại có giá trị hơn cả một câu nói. Song cử chỉ, điệu bộ phải phù hợp với ý nghĩa của lời nói và tình cảm của người nói.

Diễn giảng tốt bằng giọng nói thích hợp rõ ràng có hiệu quả lớn. Tuy thế lời nói cũng cần  phải đúng lúc, đúng chỗ như ông cha ta thường dạy: “Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm”. Chúng ta có thể ví cảm xúc của người giảng như con sóng lớn ngoài biển cả, nó dâng dần rồi cuộn trào ở đầu ngọn sóng, sau đó rồi lại lan trải rộng mãi...Điểm đỉnh của ngọn trào cảm xúc thường tương ứng với trọng tâm giáo dục, giáo dưỡng của bài văn.

Trở lên trên, chúng tôi đã trình bày một vài suy nghĩ về vấn đề duy trì và phát huy tình cảm của người giáo viên trên lớp. Yêu cầu chung của tình cảm là phải lắng sâu, trầm tĩnh, không ồn ào xốc nổi, khiến tình cảm lắng đọng, có sức truyền thụ cao. Mặt khác, tình cảm dồi dào phải phải kết hợp với lí trí sáng suốt để bảo đảm độ sâu, độ chắc mà không rơi vào chủ nghĩa duy cảm hời hợt, nông cạn. Có đạt những yêu cầu trên thì tình cảm mới thực sự có ý nghĩa và có sức mạnh.

Tình cảm là vấn đề lớn đối với người giảng dạy văn chương. Tình cảm người dạy văn góp phần làm cho "các em có thể quên tất cả, nhưng phần còn lại trong lòng các em phải là cái gì rất sâu, rung động cả một đời người" (Tố Hữu).