Một số giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy cao học ngành Văn

Tôi xin không đi vào những giải pháp chung, mang tính lý luận, mà đi ngay vào những giải pháp cụ thể, có ý nghĩa thiết thực. Và cũng chỉ xin nêu những giải pháp chính, giới hạn ở ngành Văn và ở bậc cao học.

1. Cần nâng cao tính tự giác trong học tập của học viên

Đặc điểm chung của các học viên cao học là phần đông đã có công việc tương đối ổn định. Họ vừa làm vừa học, nên thật sự bận rộn, công việc chung và công việc riêng. Từ đó dễ nảy sinh là tính thụ động, lệ thuộc trong học tập, sự đối phó, hình thức trong thi cử. Trong khi sự phân biệt giữa các bậc học là ở tính tự giác của người học. Càng học lên cao tính tự giác càng phải cao. Ta không thể hiểu nổi một người học cao học mà lại bị động trong học tập và nghiên cứu, mà lại ưa thúc ép, bắt buộc trong việc lên lớp nghe giảng và tích luỹ tri thức ngoài giờ giảng.

Tiếc là không ít người như thế! Đến mức có người xem việc học Cao học, đạt được bằng Thạc sỹ nhằm mục đích chính là tráng men lên công việc hiện có của mình. Họ chỉ đánh trống ghi tên. Thấy khó, vì lớp ít dễ kiểm tra, nghỉ nhiều dễ phát hiện thì tìm mọi cách để hợp thức việc nghỉ học. Lúc thì lấy cớ bận công việc cơ quan. Lúc thì xin phép nghỉ học vì bệnh, vì ốm. Thầy hay thương tình cảm thông. Họ bận cũng như mình bận. Và ai lại bắt người ốm đau đi học bao giờ. Học một cách ép uổng như thế thì liệu tiếp thu được gì! Tình trạng báo chí lên tiếng khuyến cáo, không sợ bằng giả, đáng sợ nhất là bằng thật mà học giả kia, không phải không có cơ sở thực tế. Sản phẩm kiểu ấy lợi ích gì cho xã hội? Hay lợi bất cập hại?

2. Cần tạo điều kiện phát huy tính độc lập trong suy nghĩ của người học

Ta hay bàn tới tiềm lực của một nhà khoa học hay một nhà quản lý. Bộc lộ rõ nhất của tiềm lực là ở khả năng độc lập giải quyết những vấn đề muôn vẻ từ chính thực tế mà người cán bộ ấy tiếp xúc, từ chính yêu cầu của công việc. Muốn vậy thì ngay khi còn học ở trường, ta cần tạo mọi điều kiện có thể cho học viên phát huy óc độc lập, óc sáng tạo trong học tập, nghiên cứu.

 Trước hết là yêu cầu học tập. Giảng viên nên xem bài giảng và giáo trình của mình cũng chỉ là một thứ tài liệu tham khảo chính yếu mà thôi. Chính yếu không phải bởi nó chuẩn xác hơn, khoa học hơn, hiện đại hơn những giáo trình, tài liệu khác. Mà chỉ bởi ta, tác giả của tài liệu ấy, đang đối diện với người học. Có thể đối thoại, thậm chí tranh luận với nhau để sáng tỏ mọi đúng sai, tiến gần tới chân lý tuyệt đối.

Sau nữa là chuyện thi cử. Học tất phải thi. Đề thi nên để một khoảng trống rộng rãi cho tư duy của học viên. Hết sức tránh yêu cầu học thuộc lòng, nhất là thuộc lòng những giáo trình, tài liệu do thầy biên soạn. Có vậy, mới dần tháo gỡ những khâu mắc trong quá trình đào tạo, đáp ứng những đòi hỏi ngày một cao của đời sống và của người học.

3. Cần chú trọng cải tiến khâu đánh giá kết quả học tập của học viên

Hình như trong nhận thức của phần đông học viên cao học là hãy cố gắng khâu thi vào. Đầu xuôi đuôi lọt, đã vào được là sẽ ra được. Hãn hữu mới có người đứt gánh giữa đường. Chủ yếu là do hoàn cảnh. Tai hại hơn là một số giảng viên cũng nghĩ như thế! Trong khi, thành thật mà nói, cửa vào hệ cao học hiện khá là rộng mở. Thường là không đạt về ngoại ngữ. Môn cơ sở và môn chuyên ngành bét nhất cũng đạt yêu cầu. Tệ lắm mới rớt đài.

Từ quan niệm ấy, sự đánh giá trong suốt quá trình học tập phải nói là khá dễ dãi và lỏng lẻo. Nhất là gặp các giáo sư thỉnh giảng. Họ zui zẻ  tình cảm lắm! Thôi thì cứ đến lớp nghiêm túc là được. Bận trăm thứ  mà học viên vẫn không bỏ giờ là quý lắm rồi. Trong khi tri thức là vô bờ, biết sao cho vừa, cho đủ. Mà nào có ai o ép, khó dễ về điểm giả đâu. Quyền là ở ta. Cao thấp, khó dễ là ở ta. Ở đây, trong địa hạt này, ta là độc quyền. Cho sao được đấy. Cho sao biết đấy. Ai dám vặn vẹo!

Trong một hội đồng bảo vệ luận văn tốt nghiệp cao học mà tôi có tham dự, hạ bút cho 9.5 điểm đã bị kêu là khe khắt quá. Bét ra cũng phải 9.7, 9.8 chứ. Để học viên thầy nọ thầy kia đạt xuất sắc, báo cáo kết quả với cơ quan cho xôm chuyện. Không biết chừng lại còn có cơ chuyển tiếp sinh. Vèo một cái đã băng sang làm nghiên cứu sinh. Bằng tiến sĩ cứ  là nằm trong tầm ngắm.

Tôi nghĩ đã đến lúc phải thay đổi quan niệm ấy. Đánh giá như thế không thể khuyến khích thực học. Sản phẩm thấp, vốn bị xã hội phàn nàn, sẽ còn thấp nữa, thấp mãi. Khủng hoảng, thậm chí bế tắc là chuyện tất yếu, không chóng thì chầy.

4. Cần hoàn thiện kỹ năng sử dụng tiếng Việt cho người học

Yêu cầu này cố nhiên đặt ra cho mọi ngành, không cứ gì ngành Văn. Nhưng có lẽ do đặc thù của văn học, lấy đối tượng tìm hiểu là văn chương vốn là nghệ thuật ngôn từ, nên nó được đặt ra khẩn thiết hơn, róng diết hơn chăng? Xin hãy để ý  từ những bài viết, những lời nói hàng ngày của học viên. Thật lắm chuyện nực cười! Nhưng cười xong là cứ thấy nhoi nhói ở trong tim. Theo tôi, cần tháo gỡ ở ba điểm then chốt sau:

Một la: Trước một vấn đề, học viên biết cách đặt câu hỏi để tìm ý. Đó thường là những câu hỏi: tại sao tìm hiểu nó? người ta đã tìm hiểu nó ra sao? nó có những đặc điểm gì? cần tiếp tục đi sâu và mở rộng việc tìm hiểu như thế nào?…

Hai là: Tìm được ý rồi, học viên lại phải biết sắp xếp thế nào cho chặt chẽ, logic. Cái gì trước cái gì sau. Nào tiểu kết, tổng hợp; nào kết nối, liên hợp. Bài viết bài nói phải trở thành một chỉnh thể, không được phép lỏng lẻo, dư thừa.

Ba la: Nói năng, viết lách cần uyển chuyển, linh hoạt. Hết sức tránh đơn điệu, khô cứng. Nói chung là phải có giọng điệu. Muốn vậy phải làm chủ được lời nói của mình, nắm chắc  nội dung cần truyền đạt và đối tượng chính cần hướng tới. 

Trở lên trên là một vài giải pháp cụ thể góp phần nâng cao chất lượng học tập Văn học ở bậc Cao học. Đó là những ý kiến riêng, có thể còn phiến diện, thậm chí sai lệch. Rất mong được các bạn đồng nghiệp cùng trao đổi.