Dị bản một bài thơ hay về Huế

Tôi muốn nói đến bài “Tạm biệt” (hay “Tạm biệt Huế”) của nhà thơ Thu Bồn. Dẫu đã có nhiều bài thơ hay, rất hay lấy cảm hứng từ Huế, tôi dám quả quyết là nó sẽ vẫn được nhắc tới như một trong những bài thơ hay nhất. Xin kể một kỷ niệm đẹp riêng với tôi. Dạo tháng 10 năm 1998, tôi có kế hoạch đi dạy ở Thành phố biển Nha Trang. Ở chung phòng với tôi là hai cán bộ giảng dạy cùng trường, một là nhà sử học, một là nhà vật lý học. Đó là những ngày trời xấu, gió mưa và biển động mạnh. Ngoài giờ lên lớp, chẳng thể đi đâu, chúng tôi ngồi đàm đạo đủ thứ chuyện. Nhiều nhất vẫn là chuyện văn chương. Tôi rất lạ khi được biết cả hai đồng nghiệp của tôi đều thích những bài thơ viết về Huế của Thu Bồn, đến nỗi họ gần như thuộc lòng từ câu đầu đến câu cuối. Trong khi, tôi – người được coi là “một chuyên gia” văn học, lại chẳng thuộc hết, thế có buồn không! Phó Tiến sĩ sử học Cao Thế Trình kể, dạo anh còn học ở Liên Xô cũ, có lần các thực tập sinh và nghiên cứu sinh Việt Nam ở Maxcơva mời một số nhà thơ trong nước đang bồi dưỡng ở Trường viết văn mang tên M. Gorki đến trao đổi về văn chương. Trước câu hỏi “Xin chị đánh giá những sáng tác thơ về Huế”, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ trong tâm sự của mình có ý bảo: Chỉ cần nhắc đến một bài thơ của Thu Bồn là đủ. Một nhà thơ thành đạt lại giàu chất Huế như Lâm Thị Mỹ Dạ đã nói vậy, sao không thể tin cho được. Có lẽ vì thế mà một nhà sử học như anh đã tìm đọc kỹ đến bằng thuộc bài thơ.

Tuy trong trí nhớ của hai bạn đồng nghiệp của tôi có nhiều chỗ không thật trùng khớp với nhau lắm. Thế là sinh ra tranh luận. Tôi thấy nhiều câu quả thật khó hiểu, chẳng hạn: “Nón rất Huế mà đời không phải thế”. Đó là chưa nói tới những trường hợp có vẻ mâu thuẫn, ví như: “Tạm biệt Huế với em là vĩnh biệt”. Thế là, do thói quen nghề nghiệp, vừa về tới Đà Lạt, tôi lập tức tìm tư liệu để làm rõ mối hoài nghi của mình. Tôi mở cuốn “Một trăm bài thơ tình nhớ em đặt tên” (Nxb Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh ấn hành năm 1992) ra xem. Ở trang 32 tập thơ có bài “Tạm biệt Huế” của Thu Bồn. Đọc xong, tôi thầm khâm phục trí nhơ, đúng hơn là tình yêu thơ của các bạn đồng nghiệp không cùng chuyên ngành với tôi. Nghĩ mà thấy thêm yêu cái nghề mình đã chọn lựa để hiến thân. Văn chương được nhiều người hoạt động ở những lĩnh vực khác nhau quan tâm, phải thấy đó là niềm an ủi, khích lệ lớn cho những người làm văn chương. Gần như cùng một ngày, tôi nhận được Tạp chí Sông Hương tháng 11/1998. Trong mục “Văn học và nhà trường” tôi thấy đăng lại bài thơ của Thu Bồn với tiêu đề “Tạm biệt” cùng lời bình của Trinh Đường. Tôi đọc và thấy không chỉ có tên bài thơ mà 2 bản in có nhiều chỗ khác biệt nhau. Xin được dẫn ra 3 chi tiết đáng lưu ý hơn cả:

Bản đầu: 1a – Xin chào Huế một lần anh đến/ Để ngàn lần anh nhớ hư vô; 2a – Nhịp cầu cong và con đường thẳng/ Một đời anh đi mãi chẳng về đâu; 3a – Tạm biệt Huế với em là vĩnh biệt/ Hải Vân ơi xin đừng tắt ngọn sao khuya.

Bản sau: 1a – Xin chào Huế một lần anh đến/ Để ngàn lần anh nhớ trong mơ; 2a – Nhịp cầu cong và con đường thẳng/ Một đời anh tìm mãi Huế nơi đâu; 3a – Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt/ Hải Vân ơi xin đừng tắt ngọn sao khuya.

Có lẽ bản sau đã được nhà thơ Trinh Đường biên tập, sửa chữa để đưa vào tuyển “Thơ Việt thế kỷ XX” chăng? Tôi không có ý định bàn xem bản nào hay bản nào dở mà chỉ muốn giải thích bản đầu theo cách hiểu của riêng tôi. Bài thơ vừa là lời tạm biệt cố đô vừa là lời từ biệt cố nhân (trong bản đầu tác giả đề tặng C., một người cụ thể). Tình riêng và tình chung hóa quyện đến mức khó tách rời. Tôi cho đấy là cái tài của nhà thơ tạo ra cái tầm của bài thơ. Thử đặt một giả thiết nếu chỉ có cái riêng thôi thì sao có nổi những dòng thơ thăm thẳm ý nghĩa xã hội này: Con sông dùng dằng con sông không chảy/ Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu.

Cũng vậy, chính cái riêng đã tiếp sức sống cụ thể cho cái chung làm nên sự ngỡ ngàng đến ngất ngây  trong lóng người đọc ở câu: Mặt trời lên từ phí nón em nghiêng.

Đó là những câu thơ xuất thần nhờ cái chung và cái riêng biết nương tựa vào nhau cùng phát sáng. Bởi vậy, hảy xem câu thơ “Em rất thực nắng thì mờ ảo/ Xin đừng lầm em với cố đô” như là một cách nói. Đúng ra “em” cũng chỉ là một hoài niệm (Mặt trời vàng và mắt em nâu), mặc dầu vẫn “còn vương tơ lòng”, chưa hết những xốn xang buổi đầu: Áo trắng hởi thuở tìm em không thấy/ Nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền.

Nhiều người khen từ “minh mang” rất gợi mà cũng rất hợp. “Minh” là sáng, “mang” là rộng, dài. Nếu tinh còn nghe thấy cả sự âm vang nữa! Phải là cầu sắt như Tràng Tiền giữa sông Hương êm ả vào giữa một ngày nắng đẹp mới có sự âm vang này. Nhưng dường như đó là sự âm vang trong tâm tưởng, từ xa xăm vọng lại...

Trong bài thơ hầu như có tất cả những gì được xem là đặc trưng của Cố đô: lăng tẩm, đền đài, sông Hương, cầu Tràng Tiền... Nhưng mọi hình ảnh chừng như là cái cơ để cái tôi trữ tình bộc bạch một mối tình đẹp đã đi qua, vĩnh viễn đi qua dẫu còn nuối tiếc mà không có cách nào trở lại nguyên vẹn như xưa. Tôi nghĩ hãy từ ý tưởng chung ấy mà hiểu bài thơ. Bản đầu in: Bời vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ/ Nên chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu.

Có thể từ “nên” cần được lược bỏ như ở bản sau, nhưng nó giúp ta sáng tỏ được cái tinh thần hoài cổ  thấm nhuần trong cả bài thơ đến từng chi tiết. Vậy chẳng có gì là khó hiểu nếu tác giả hạ bút viết: Tạm biệt Huế với em là vĩnh biệt.

Ở đây, “vĩnh biệt” là vĩnh biệt một mối tình đẹp thời hoa niên. Nếu sửa thành “với em là tiễn biệt” như bản sau thì chỉ được cái nhịp mà không được cái nghĩa. Từ đó, chúng ta có điều kiện lý giải những câu tưởng là bi lụy, là vô vọng như: “Để ngàn lần anh nhớ hư vô”, và “Một đời anh đi mãi chẳng về đâu”... Một người làm thơ có nghề và có tâm như Thu Bồn chắc không thể lơi lỏng khi dụng bút.

Xem xét dị bản một vài thơ đầy tâm huyết của Thu Bồn về Huế hóa ra rất bổ ích cho tôi trong việc tìm hiểu thơ cũng như cách làm thơ. Xin được chia sẽ cùng các bạn.

                                                                                                                 Đà Lạt, 12/98

 

 

Comments