Cần đa dạng hóa giảng văn ở phổ thông

Bước sang năm 2002 này tôi vừa tròn ba mươi tuổi nghề. Có dịp nhìn lại, thẳng thắn và trung thực mà nói, so với những ngày đầu tiên tôi bước vào nghề dạy văn, thì giờ đây việc dạy và học văn ở phổ thông, và một phần nào đó ở đại học, hầu như chưa có sự thay đổi nào thật đáng kể. Vậy mà thời cuộc đã thay đổi nhiều, thay đổi đến chóng mặt. Một người giàu óc dự tưởng nhất cũng không thể ngờ tới. Thật lạ lùng quá! Nhiều người dựa vào tính ổn định tương đối của giáo dục để biện minh cho tình trạng đáng buồn ấy. Cũng chẳng thuyết phục gì nhiều. Càng ít thuyết phục khi ai cũng biết toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của xã hội chúng ta đều đang trong quá trình hiện đại hóa, mong muốn thật sự hội nhập với thế giới văn minh của nhân loại. Giáo dục không thể đứng ngoài. Cần chấp nhận sự đổi thay, kể cả sự biến đổi. Ngay Hiến pháp 1992, bộ luật cơ bản và trọng yếu nhất của chính thể, mới 10 năm cũng đã phải chỉnh lý, bổ sung nữa là!

Để cho tập trung, tôi chỉ xin đi vào hướng giảng văn ở phổ thông, một phân môn được mọi người nhất trí xem là cơ bản nhất của bộ môn văn học. Bao năm nay, cứ tính từ sau 1954, việc khai thác nội dung của một bài văn được chọn giảng có thể được trình bày một cách ngắn gọn, vì thế khó tránh khỏi giản đơn như thế này: qua ngôn từ, hình ảnh, chi tiết nghệ thuật, người thầy bằng những cách thức khác nhau giúp người học nhận ra giá trị nội dung của tác phẩm cô kết trong chủ đề (cốt lõi của nội dung tái hiện) và tư tưởng (cốt lõi của nội dung biểu hiện). Đích tối thượng cũng là đích sau rốt là thầy giáo truyền sự cảm hiểu của mình về tác phẩm sang cho học trò, càng đủ, càng rõ, càng sâu, càng tinh, càng rung động, càng thành công. Để làm được điều đó, người thầy phải tìm hiểu kỹ càng hoàn cảnh lịch sử, xã hội nảy sinh ra tác phẩm, đặc điểm giai đoạn, thời kỳ văn chương chi phối tới tác phẩm, và nhất là về nhà văn, người trực tiếp sản sinh ra tác phẩm: tiểu sử và sự nghiệp, khuynh hướng và phong cách… Thế là các sách công cụ như giáo trình và tài liệu tham khảo đủ loại trở nên đặc biệt hữu dụng. Chừng 6, 7 năm gì đấy, một giáo viên có đôi chút khả năng và nhiệt huyết có thể tự tích luỹ được một vốn liếng kha khá đủ để hành nghề cả đời.

Còn đối với học sinh, ngoài giờ lên lớp, được thầy truyền thụ những kiến thức khá chi ly, đầy đủ, những người ham hiểu biết và ưa thích môn văn có thể tìm đến nhiều loại sách bổ trợ: chuyên đề về tác giả, tác phẩm trong chương trình; sách bình văn, bình thơ; nhất là những bài văn mẫu… Cứ tha hồ mà “bắt chước”, chỉ lo không đủ thời giờ và công sức. Tài học văn ở phổ thông quy ở tài nhớ những lời phân tích, giảng giải, bình chú tinh tế, sâu sắc và phù hợp. Tất cả đều có thể tìm thấy trên các quầy bán sách ở cả những nơi xa xôi hẻo lánh. Ở thành thị thì thuận hơn, ngoài sách  báo còn có sự trợ giúp của nhiều thầy giáo kinh nghiệm trong các lò luyện thi mọc  tràn lan khắp mọi ngõ ngách. Luyện thi thực chất là hệ thống hóa kiến thức và đưa ra những bài phân tích mẫu giúp cho người học nương theo. Thành bại thuộc về khâu cuối cùng là khả năng vận dụng. Cần hiểu trúng đề và đáp ứng yêu cầu của đề. Lại diễn đạt sao cho văn chương, không chỉ trôi chảy mà còn giàu hình ảnh, không chỉ rõ ý mà còn giàu cảm xúc. Rồi vào đề sao cho thật ấn tượng, kết luận sao cho thật nổi bật. Và kết cấu phải chặt, chữ viết phải ngay ngắn, trình bày phải sạch đẹp… Được vậy là hoàn toàn có thể yên tâm. Ngay cả kỳ thi học sinh giỏi địa phương và quốc gia hay kỳ thi tuyển sinh đại học yêu cầu cũng chỉ đến vậy!

Cách dạy và học tác phẩm văn chương kiểu này không hẳn là chỉ toàn cái dở.  Đáng kể nhất là đã chú trọng tác phẩm, lấy việc chiếm lĩnh giá trị nhiều mặt của tác phẩm làm định hướng, lại không quên tác dụng truyền cảm trong việc thỏa mãn nhu cầu nhận thức và giáo dục đa dạng của văn chương. Điểm chính đáng băn khoăn là: vậy có gì khác trong yêu cầu thưởng thức tác phẩm văn chương của độc giả bình thường với việc tiếp nhận tác phẩm văn chương ở trường học? Kể ra cũng có cái khác. Như tính tự giác cao hơn, nhờ thế mà tập trung và ám ảnh hơn. Tuy sự khác biệt này không rõ nếu ta biết đây là môn học ở nhà trường. Là một môn học, văn học và nói riêng giảng văn phải nằm trong một chương trình nhất quán. Mỗi môn vừa triển khai lại vừa bị chi phối bởi chương trình chung. Nói riêng môn văn, ngoài giảng văn ra còn nhiều phân môn khác: lịch sử văn chương, lý luận văn chương, tập làm văn.

Cũng cần xét tới tinh thần đổi mới chung của cả ngành giáo dục. Giữa nhiều vấn đề nóng bỏng, cốt tử nhất vẫn là làm sao biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Vai trò của người học tất phải được đề cao. Lối thông tin một chiều ngày càng tỏ ra lỗi thời. Phương cách đối thoại ngày càng được vận dụng rộng rãi. Đòi hỏi trí nhớ nơi người học giảm dần, thay thế vào đó là trí thông minh, óc độc lập, khả năng tự tìm hiểu. Người thầy từ cương vị cầm tay chỉ việc, đôi khi đến mức chi li cụ thể chuyển dần sang vai trò hướng đạo, lấy khơi gợi, chỉ đường cho người học tự đến làm chính.

Lại nữa, dạy văn ở nhà trường không thể không đoái hoài đến sự chuyển biến mạnh mẽ trong phong cách tư duy, hay hệ hình tư duy văn học hiện đại như nhiều người thường gọi. Hướng giảng văn quen thuộc lấy tác phẩm (tác phẩm chứ chưa phải là văn bản) làm trung tâm. Tìm hiểu tác giả, trào lưu, lý luận chủ yếu để trợ giúp cho việc khám phá hình thức và nội dung, bề mặt và bề sâu của tác phẩm. Hoàn toàn chúng chưa có mục đích riêng. Bài văn, bài thơ tuyển giảng như là một thế giới định hình, khép kín. Trong khi hiện giờ người đọc tích cực tham gia vào quá trình định đoạt số phận mọi giá trị văn chương. Người ta xem tác phẩm văn chương như là một quá trình. Ý nghĩa của nó bị điều kiện hóa, luôn đổi thay trong hoạt động tiếp nhận, tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, thời đại, dân tộc, địa phương… của người đọc.

Từ những cơ sở vừa nêu, theo ý tôi, cần có bước đột phá trong việc định hướng giảng dạy tác phẩm văn chương ở phổ thông. Đại để có thể xác định thế này: Trên cái nền cảm nhận chung về tác phẩm văn chương, cần cụ thể hóa nội dung khai thác, để đa dạng hóa cách thức khai thác. Nói khác đi, ngoài mục đích thông thường của một độc giả, mỗi bài văn bài thơ chọn giảng phải nhằm hướng tới mục đích học đường. Có thể mục đích ấy nằm trong bốn yêu cầu sau:

- Làm sáng tỏ đặc điểm của giai đoạn, trào lưu văn chương.

- Minh họa một nguyên lý lý luận văn chương.

- Nhận diện phong cách, đóng góp của tác gia văn chương.

- Rèn luyện khả nằng tìm tòi, khám phá văn chương của người học.

Hướng nội dung sẽ quyết định hướng phân tích. Tuy cả bốn yêu cầu trên đều phải hết sức tuân thủ nguyên tắc bám sát văn bản tác phẩm. Tuyệt đối tránh khuynh hướng lấy những yếu tố ngoài văn bản (lịch sử, xã hội, nhà văn, tư liệu văn chương…) thay thế cho việc tiếp xúc trực tiếp tác phẩm; và cần coi trọng tìm hiểu từng dấu hiệu nghệ thuật (từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, khổ đoạn, âm điệu, giọng điệu…) trong văn bản.

Hẳn nhiên, sự đổi thay vừa nêu liên quan đến toàn bộ chương trình và hệ thống sách giáo khoa văn học. Nhưng theo tôi, đây có lẽ là vấn đề thiết cốt nhất trong việc đổi mới nội dung giảng dạy văn chương ở phổ thông hiện nay.