Cảm hứng về nguồn

Cách đây không lâu, tôi có đọc một bài khảo cứu về thơ Hàn Mặc Tử. Tác giả bài viết đã nhấn mạnh tới tính chất dân tộc trong thơ thi sỹ họ Hàn. Kết thúc bài tiểu luận lại là câu thơ quen thuộc của Vũ đình Liên: Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ? Bài thơ Ông đồ từng sống như thế đấy!

Các nhà phê bình đã bàn nhiều đến ý hướng hoài cổ của bài thơ. Có phần đúng như thế. Vũ Đình Liên sinh ra trong một gia đình gia giáo thờ đạo Nho. Có lần nhà thơ nhớ lại: “Bản thân tôi được thừa kế tinh thần của người mẹ. Mẽ tôi là con một ông đồ… Gia đình luôn giữ nền nếp gia phong” (Văn nghệ, Phụ san, số 9/1994). Bài thơ đầu tay của ông vốn đã thấm đậm tinh thần hoài cổ :

Lặng lẽ trên đường lá rụng mưa bay  

Như khiêu gợi nỗi niềm thương tiếc

Những cảnh và những người đã chết

Tự bao giờ mà nay biết tìm đâu

Ông đồ rõ ràng là sự tiếp nối trong ông. Ông đồ còn là đỉnh cao tiêu biể cho thơ ông.

Vũ Đình Liên đã tìm đến một giọng điệu – giọng điệu trầm tư thế sự, một lối cấu trúc – thơ ngũ ngôn trang trọng, và nhất là kiểu kết cấu triển khai cảm nghĩ theo diễn tiến của thời gian có thể xem là thích hợp hơn cả với âm hưởng và khuynh hướng hoài cổ chung của cả bài thơ. Cùng thể hiện một số phận gắn liền với một nếp sinh hoạt, Đoạn I (2 khổ đầu là thời hoàng kim, Đoạn II (2 khổ giữa) là thời tàn phai, Đoạn III (Khổ cuối) là sự biến mất. Kể ra tr6en đời lẽ hưng phế cũng là lẽ thường tình. Vậy thì ở đây có gì đáng nói?

   Dễ nhận thấy đoạn I (hai khổ đầu) và đoạn II (hai khổ kế tiếp) là hai vế đối khá hoàn chỉnh về mặt nghĩa. Trong cả hai vế đều có cảnh và người - người viết và người thuê viết, cũng có thể nói là người nghệ sĩ và người thưởng ngoạn,  bởi lẽ trong trường hợp này viết chữ  đâu còn là chuyện làm ăn theo nghĩa thông thường. Cả hai đều hướng tới cái đẹp, một người thì sáng tạo, một người thì hưởng thụ. Cảnh và người tương phản thật rõ: Một đằng đông vui tươi sáng, một đằng tẻ vắng, lụi tàn. Nổi lên là hình ảnh ông đồ - nhân vật trung tâm của cảnh đồng thời là nhân vật trung tâm của bài thơ. Một bên thì chủ động lừng lững choán hết không gian của câu thơ, bên kia thì bị động thu mình thành một đốm nhỏ đến thảm hại. Gắn chặt với ông đồ là người thuê viết không rõ hình, rõ tướng nhưng rõ tính, rõ nết, rõ thái độ và tình cảm. Thấm sâu vào người và cảnh khách quan kia là cái nhìn và tâm trạng của người làm thơ. Cũng như mặt khách thể, phía chủ thể thật hoàn toàn khác biệt. Trong đoạn đầu, người viết càng hồ hởi, náo nức, hứng khởi bao nhiêu thì ở đoạn sau tác giả càng chua chát, xót xa và sầu buồn bấy nhiêu. Một đằng là tiếng kêu vui rộn rã, tự trong lòng thốt ra:

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài,

Phía kia là một khúc ca ai oán ngân dài như đến vô tận. Nhịp điệu 2/3 của các câu thơ kế tiếp đã góp phần thể hiện điều này:

Giấy đỏ / buồn không thắm;

Mực đọng / trong nghiên  sầu...

... ...

Lá vàng / rơi trên giấy,

Ngoài trời/ mưa bụi bay.

Hai khổ thơ trên thực tế bị phá vỡ để kết dính làm một. Cố nhiên hình ảnh gợi rất nhiều ý nghĩa, vừa đen, vừa bóng, vừa thật, vừa hư.  Song cái hay vô hình khó thấy là ở âm điệu bên trong. Các câu thơ nối nhau ngân dài đều đều như điệp khúc buồn của một khúc bi ai. Điều này gắn liền với cách thể hiện của nhà thơ. Nếu đoạn đầu bài thơ nghiêng về kể (chuyện nó hiển nhiên là thế, tự nó đã có sự thuyết phục cần gì phải trực tiếp bộc lộ thái độ) thì ở đoạn II đã có phần đổi khác: Kể gắn với tả và kể, tả gắn liền với biểu hiện. Thậm chí đôi lúc không kìm nổi lòng mình, tác giả bật ra một câu hỏi vừa ngẩn ngơ, vừa trách cứ:

Người thuê viết nay đâu?

Càng đọc ta càng thấy nhức nhối vì nhớ tiếc và xót xa. Đáng chú ý hơn cả là khổ kết: Nó thâu thái ý tứ của bốn khổ thơ trước đó  không phải ở bề mặt mà ở bề sâu, đồng thời đẩy ý thơ lên một tầm cao mới.

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

Nhà thơ hướng tới " hồn" của "những người muôn năm cũ". Ông đồ đã hòa nhập vào không gian rộng lớn và thời gian vĩnh hằng, bởi ông là hiện thân sinh động của những gì cao xa hơn nhiều - những cái đã hóa thân vào sông núi này, năm tháng này, những cái đáng được nâng niu, gìn giữ. Ta chợt hiểu vì sao mở đầu bài thơ, tác giả lại viết:

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Ông là dấu hiệu hơn thế là biểu hiện của ngày tết cổ truyền ăn sâu vào tim óc của người Việt Nam ta từ thuở nào, thiêng liêng và trang trọng. “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ”… Nhân vật trữ tình là ông đồ già (không thể nào khác thế!) với tài “thảo” chữ (không còn là viết chữ): "Như phượng múa rồng bay”. Thanh thoát và bay bướm biết nhường nào! Vì ở đây đâu còn là tay viết ra và là “thần” nghĩa là anh linh phát lộ ra ngoài. Có thể  xem khổ kết như là bài thơ ngụ ngôn tuyệt cú thật cô đúc và sâu xa đề dưới hai bức tranh liên hoàn tương phản nhau về mặt ý nghĩa ở trên:

Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người  muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

Bài thơ vậy là đã rõ cái  ý hướng hoài cổ. Có điều, trong văn chương cũng như trong cuộc đời, cái quyết địng bao giờ cũng là ở chỗ: nuối tiếc điều gì đây trong quá vãng? Không phải cứ quay về quá khứ là tiêu cực! Nếu thế đã không có khái niệm tinh hoa. Cũng như vậy, không hẳn cứ hướng tới tương lai là tích cực! Nếu vậy đã không tòn tại khái niệm ảo tưởng. Sự ra đi của ông đồ gắn liền với sự biến mất của một tập tục vốn kết tinh một trong những điều tốt đẹp nhất của quá khứ: sự nâng niu, trân trọng vẻ đẹp cao khiết của cuộc sống tinh thần, của đời sống tâm linh. Nuối tiếc là phải, không thế mới là điều lạ, mới đáng chê trách. Nhà thơ như bao người bắng xương bắng thịt khác trên đời không thể níu kéo được thời gian. Giữa buổi giao thời, bút sắt thay bút lông là không thể tránh khỏi. Song nhà thơ có cách lưu giữ thời gian riêng của mình. Nghệ thuật diệu ký là thế! Vả ở đây, nghệ thuật đã lên tiếng nhắc nhủ, lên tiếng cảnh tỉnh, thầm thì mà da diết, mà day dứt, mà thấm sâu. Hãy bảo tồn những gì đã thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Chính những truyền thống ngàn đời ấy đã làm nên linh hồn của sống núi này, của đất nước này. Cho nên, có thể khẳng định, Cảm hứng hoài cổ chỉ là bề mặt, cảm hứng về nguồn mới là bề sâu, thấm vào từng lời, từng ý của cả bài thơ.

Xuân Giáp Tuất này, tôi có dịp tới thăm một người bạn yêu thơ. Phòng văn của anh trân trọng treo bài thơ Ông đồ. Tôi không lấy làm ngạc nhiên vì điều đó. Tôi cũng không chút ngạc nhiên khi tới dự một buổi bình thơ đầu xuân lại thấy nhiều người thích chọn ngâm bài Ông đồ đến thế. Đã từ lâu  mỗi năm hoa đào nở... không thấy ông đồ già. Xin chữ, xin câu đối Tết đầu năm cũng đã thành chuyện dĩ vãng đã từ lâu. Thay vào đó, lạ lùng thay, là một sản phẩm tinh thần khác – bài thơ Ông đồ. Đó là một điềm lành dự báo bao may mắn sẽ đến với đất nước này. Thêm cơ sở để tin vào sự phục hưng của dân tộc ta trong tương lai không xa. Vì, như một nhà thơ danh tiếng đã viết: Nếu anh nghĩ về quá khứ một cách ảm đạm thì tương lai hiện lên trong anh cũng ảm đạm như thế. Vinh dự thuộc về Vũ Đình Liên, nhà thơ yêu quý của chúng ta. Bài thơ Ông đồ thành dấu hiệu của mùa xuân, hơn thế thành quà tặng của mùa xuân, Cảm ơn nhà thơ đã bằng tấm lòng và tài nghệ của mình đem tới cho ngày Tết cổ truyền của dân tộc món quà tinh thần vô giá ấy.