Cách tiếp cận không thích hợp khi phân tích truyện "Đời thừa"

Trong sự nghiệp sáng tác của Nam Cao, truyện ngắn “Đời thừa” có một vị trí khá đặc biệt: Viết về số phận của chính những người làm nghề văn. Có lẽ vì vậy, ở trường phổ thông trung học đã nảy sinh ra một hướng phân tích tác phẩm theo tôi là không thích hợp khi lấy việc tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của tác giả làm mục đích chính. Người dạy, và vì vậy cả người học, chỉ chăm chắm đi tới xác định đây là một trong những bản tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao. Thầy và trò say sưa với những đoạn trữ tình ngoại đề mà ở đó quan niệm về giá trị của văn chương cũng như những đòi hỏi của nghề văn được tác giả bộc lộ rõ rệt. Thế nào là tác phẩm văn chương thật sự giá trị? Về nội dung “nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tính bác ái, sự công bình... Nó làm cho người gần với người hơn”(*). Về hình thức, “tả cái cảnh một người nhớ quê hương chỉ mất có ba câu, đúng ba câu!... giản dị một cách không ngờ”. Nghề viết văn đích thực “không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho”,  “chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có...”. Theo hướng này, bài giảng xoáy vào nhân vật Hộ chỉ làm sáng tỏ cách nhìn của Nam Cao về văn chương và về nghề văn...

Tại sao tôi nói đây là một cách tiếp cận không phải không đúng mà là không phù hợp? Nam Cao quả rất có ý thức phát biểu quan niệm nghệ thuật của mình qua truyện ngắn “Đời thừa”. Tất cả những gì vừa dẫn ra ở trên đều là xác thực. Chỉ có điều, mục đích chủ yếu, mục đích cuối cùng của việc giảng dạy tác phẩm ở trường phổ thông (ở đây là truyện ngắn “Đời thừa”) không phải là để tìm hiểu tác giả mà là tìm hiểu giá trị xã hội - thẩm mỹ của tác phẩm do tác giả sáng tạo ra. Nếu có tìm hiểu tác giả cũng để hướng tới tìm hiểu, đánh giá tác phẩm đúng hơn, sâu hơn.

Ở đây, đụng chạm phải một vấn đề lý luận cơ bản: Độc giả tiêu biểu của văn chương là ai? Một nhà khoa học (như nhà kinh tế học, sử học, phong tục học, dân tộc học, văn học...) có thể tìm đến văn chương, coi nó như là những cứ liệu khoa học để xem xét, khái quát phục vụ cho mục đích khoa học của mình. Chẳng hạn, Makx, Enghel, Lênin đã từng làm như vậy trong các công trình triết học, chính trị học kiệt xuất như “Tư bản luận”, “Làm gì?”... Có thể dễ dàng đưa ra những minh chứng tương tự. Phải nói, đây là những độc giả đặc biệt, không tiêu biểu. Vậy độc giả nào của văn chương được xem là điển hình, là phổ biến? Câu nói của H. Tene trong “Triết lý về nghệ thuật” giúp ta phần nào tháo gỡ được vấn đề này: “Nghệ thuật không chỉ nói một  cách cảm quan với lý trí mà còn nói với giác quan và trái tim của con người bình thường nhất - Phạm Quang Trung nhấn mạnh” (Chuyển dẫn từ “Sơ thảo nguyên lý Văn học” Nxb. Giáo dục, H., 1961, tr. 93). Nhà mỹ học người Pháp không phủ nhận tác động của nghệ thuật (trong đó có văn chương) tới lý trí, mà coi trọng tác động của nghệ thuật tới các giác quan và tình cảm của công chúng - những “con người bình thường nhất”.

Xin trở lại việc giảng dạy “Đời thừa”. Đối tượng cảm nhận ở đây cần xác định dứt khoát là học sinh học tác phẩm của Nam Cao chứ không phải là các nhà nghiên cứu về tác phẩm của Nam Cao. Do vậy, phải lấy việc khai thác ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ của tác phẩm làm chính. Đó là gì? Đó là sự bào mòn thậm chí hủy hoại tài năng và nhân cách của người trí thức (không chỉ là nghệ sĩ) do tình cảnh bần cùng và đói khổ gây ra. Hộ là một nhà văn nghèo, giàu tài năng và khát vọng nghề nghiệp, hết lòng vì nghệ thuật: “Lòng hắn đẹp. Đầu hắn mang một hoài bảo lớn... hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày một thêm nảy nở...” Đối với anh ta “nghệ thuật là tất cả; ngoài nghệ thuật không còn gì đáng quan tâm nữa. Hắn băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời...” Hộ luôn sùng bái cái đẹp, luôn giữ được những nhu cầu tinh thần cao quý, có phần bất chấp những đòi hỏi vật chất tầm thường, tủn mủn: “Khi được đọc một đoạn văn... mà lại hiểu được tất cả cái hay, thì dầu ăn một món ăn ngon đến đâu cũng không bằng” Đặc biệt, Hộ mang bản tính của một trí thức chân chính là luôn yêu thương, quý trọng con người: “Hắn không thể bỏ lòng thương; có lẽ hắn nhu nhược, hèn nhát tầm thường, nhưng hắn vẫn còn được là người: hắn là người chứ không phải là một thứ quái vật bị sai khiến bởi lòng tự ái”. Với bản chất tốt đẹp, tài năng hứa hẹn và khát vọng chính đáng, lại có người vợ dịu hiền, chịu thương chịu khó, trong một gia đình phải nói là đầm ấm, nếu không bị “áo cơm ghì sát đất”, Hộ đã sống một cuộc sống thật sự có ý nghĩa, cống hiến nhiều nhất trong điều kiện có thể cho xã hội. Nhưng, đời sống thiếu thốn triền miên của Hộ và vợ con Hộ đã hầu như làm tiêu tan hết thảy. Anh ta luôn bị dằn vặt và giằng xé. “Đời” anh ta trở thành “thừa” vì là một thằng đàn ông mà không nuôi nổi vợ con, trong khi cái ước vọng nghệ thuật từng nung nấu ngày càng trở nên xa vời: “Thôi thế là hết! Ta đã hỏng đứt rồi”. Thật đau xót! Lòng tác giả luôn quặn thắt trên trang sách. Mà Nam Cao cũng thật bao dung do ông thấu hiểu được nguyên cớ sâu xa của tấn bi kịch đau lòng có ý nghĩa phổ biến ấy. Không, Hộ không phải là “một thằng khốn nạn”, một kẻ vô tâm. Anh chỉ là “một người khổ sở” đáng thương thôi!

Đó có lẽ là ý nghĩa cốt lõi của truyện ngắn ”Đời thừa” với tư cách là một sản phẩm tinh thần của xã hội. Vì không hướng tới việc nghiên cứu tác giả Nam Cao, mà chỉ là giảng giải, phân tích, đánh giá một tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông, nên theo tôi, hướng tiếp cận trên tỏ ra thích hợp hơn cả.

                                                                                    Dalat, 25.09.1999