Có một mùi hương như thế!

Trong văn xuôi Tự lực Văn đoàn, rộng ra là văn chương 1932 – 1945, Thạch Lam nổi lên bời giọng điệu riêng của mình. Có thể phần nào nhận ra điều đó qua một tác phẩm tiêu biểu của ông – truyện Hai đứa trẻ.

Nhiều cây bút cùng thời với Thạch Lam đã thể hiện nỗi đau đến nhức nhối trước sự bần hàn, khốn khó của người lao động. Không phải các nhà ăn này không nói tới đời sống tinh thần của tầng lớp “dưới đáy” xã hội. Song ngẫm cho kỹ, thể  hiện sự nghèo hèn về tinh thần cũng để nhằm góp phần diễn tả cuộc xung đột giữa hai thế lực Thiện - Ác ở đời mà thôi. Bọn người lòng lang dạ thú không chỉ bóc lột về vật chất mà còn áp bức về tinh thần. Thái độ người đọc thật phân minh vì lẽ đúng sai phân định thật rạch ròi. Tác động xã hội của tác phẩm loại này không nhỏ, nhưng hiệu quả nhận thức thì không được bao lăm, bởi người đọc không được tạo cơ hội tham dự vào quá trình tìm đến chân lí. Thạch Lam đã tự chọn cho mình một con đường riêng khác hẳn. Trong Hai đứa trẻ, nhà văn đã khám phá ra một nguy cơ thật sự và lâu dài:  Đó là sự mòn mỏi về tinh thần của trẻ thơ trước sức khống chế, sự câu thúc, thường là khó thấy, của cái thiếu, cái đói, cái nghèo. Do khó thấy mà người ta dễ xem thường và cứ để cuộc đời trôi đi như những con thuyền buông xuôi trên dòng sông năm tháng. Tai hại chính là ở đó. Ta hầu như hoàn toàn mất ý thức về nó. Thậm chí ta không còn cảm giác thấy đây là một nguy cơ có thật tồn tại ngay cạnh ta, bao phủ chung quanh ta. Tâm hồn trẻ thơ cứ thế mà nghèo nàn, què quặt đi. Đến khi chúng ta, những người có trách nhiệm và phải có trách nhiệm về chúng, nhận ra thì đã quá muộn rồi. Cái giá phải trả sẽ rất đắt: sự suy thoái tinh thần của cả một thế hệ. Tôi nghĩ, Hai đứa trẻ có giá trị xã hội to lớn, giá trị tư tưởng sâu xa chính ở điểm này.

Đọc tác phẩm, ta thấy cuộc đời cứ hiện dần ra qua cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ của Liên. Nhà văn như hòa làm một với tâm hồn và ý nghĩ của trẻ thơ. Lẽ ra tuổi của Liên và An là tuổi cắp sách đến trường, tuổi của những cảm nghĩ hồn nhiên và tươi sáng. Miếng cơm manh áo hàng ngày đã níu giữ tất cả. Sớm cai quản sạp hàng hóa, hai chị em phải buôn bán, phải lo toan, tính toán... Chuyện làm ăn lôi cuốn hai đứa vào vòng quay của nó, tự nhiên và lạnh lùng. Cứ theo cái đà ấy gỡ ra được hầu như là chuyện viển vông, không tưởng. Quả Liên có hãnh diện về chiếc chìa khóa tráp tiền "đeo vào cái dây xà ích bạc ở thắt lưng" thật. Song đâu phải vì Liên ham thích gì cái chuyện thu vén chi tiêu. Chẳng qua nó chứng tỏ Liên là "con gái nhớn và đảm đang", vậy thôi. Em đâu biết chính cái vòng cứ dần dà thít chặt cuộc đời em, làm mất đi cái vẻ trẻ thơ cần có của lứa tuổi em. Phải nói, tự trong sâu thẳm của lòng mình, Liên luôn ấp ủ một tình thương đồng loại có thể nói là bao la. Thấy lũ trẻ nghèo lúc chợ tan cứ lom khom nhặt nhạnh bất cứ thứ gì có thể dùng được của những người bán hàng để lại, lòng Liên nao lên một nỗi xót thương."Nhưng chính chị cũng không có tiền để cho chúng nó". Muốn bộc lộ sự cảm thông, muốn chia sẻ một phần sự thiếu thốn bằng hành động, qua hành động trước những người cùng cảnh ngộ, nhưng đâu có được. Ý muốn vẫn chỉ là ý muốn dẫu da diết và tốt đẹp đến mức nào. Như bao đứa trẻ khác sinh ra trên đời, Liên và An đều ấp ủ những khát khao hiểu biết. Giữa cảnh tối đen của mặt đất, hai đứa trẻ ngước nhìn bầu trời sao nhấp nháy, gắng tìm sông Ngân Hà và con vịt theo sau ông Thần nông. Nhưng rồi chỉ một lát sau hai chị em lại cúi nhìn về mặt đất bởi "vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật và xa lạ" nhanh chóng  "làm mỏi trí nghĩ" của chúng. Nhưng liệu có gì hấp dẫn quanh chúng dưới mặt đất này khi ngay cả những thú đùa vui chính đáng nhất, "trẻ thơ nhất" cũng có thực hiện nổi đâu. Rất tinh tế, Thạch Lam mô tả cái nhìn thèm thuồng muốn nhập bọn với lũ trẻ của An. Nhưng nhớ lời mẹ dặn phải để mắt đến sạp hàng nên hai chị em đành ngồi yên trên chõng "đưa mắt dõi theo những bóng người về muộn, lừ đừ đi trong đêm". Đó là những người lương thiện lam lũ quanh năm mà vẫn quanh năm đói rách. Vấn đề hầu như duy nhất đối với họ là kiếm ăn để sống, đúng hơn là để tồn tại. "Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi cho sự sống nghèo khổ hàng ngày". Vậy Liên và An mong đợi được gì nơi họ? Hai chị em không tha thiết gì với chuyện làm ăn cũng là phải. Bản tính tự nhiên của trẻ  thơ có lúc trỗi dậy. Có sự giằng xé. Thế rồi, cuộc sống toan tính lại ập tới, xô đẩy hai chị em theo, bất chấp những mong muốn tốt lành.

Tội nghiệp nhất là tâm trạng phấp phỏng chờ đợi chuyến tàu từ Hà Nội đi qua. Chẳng phải vì chuyện buôn bán: "Liên không trông mong còn ai đến mua nữa". Chúng nóng lòng chờ đợi đoàn tàu do một nguyên cớ khác: "Muốn được nhìn chuyến tàu". Vì chuyến tàu là sự hoạt động rộn rã cuối cùng của một đêm, và còn vì, điều này quan trọng hơn, chuyến tàu từ Hà Nội trở về. Mà với Liên, Hà Nội là nơi chất chứa những kỉ niệm, những hoài vọng khiến chỉ cần nhắc đến địa danh ấy thôi là cô đã "lặng theo mơ tưởng".  Song chuyến tàu đêm ấy chỉ xao động lên trong chốc lát rồi khuất dần sau ngọn tre xa xa. Cái niềm vui hiếm hoi sau chót đã không làm cho Liên và An thỏa mãn. An buông ra một nhận xét:

- Tàu hôm nay không đông nhỉ, chị nhỉ.

Kết thúc tác phẩm là giấc ngủ của Liên "trong tĩnh mịch và đầy bóng tối" giữa cuộc đời chật hẹp như chiếc đèn của chị Ty chỉ đủ "chiếu sáng một vùng đất nhỏ". Cuộc sống đơn điệu, buồn tẻ, in hằn lên nếp sống, nếp nghĩ của trẻ thơ. Cái nhìn của Thạch Lam thật tinh tường! Tấm lòng của Thạch Lam thật bao dung! Tác phẩm vang lên lời kêu cứu. Vâng, hãy cứu tâm hồn nhỏ dại của trẻ thơ khi chưa quá muộn. Đến giờ tiếng kêu khẩn thiết cất lên từ những năm 30 ấy vẫn còn nguyên giá trị.

 Vậy là giá trị nội dung của Hai đứa trẻ thật lớn lao và đặc sắc. Cái hay là ý nghĩa xã hội và tư tưởng cao sâu, độc đáo ấy lại được gửi gắm trong một câu truyện đơn giản tới mức có thể nói là không có gì đặc biệt. Đó là những câu chuyện sinh hoạt thường ngày của những người lao động lam lũ xoay quanh quầy hàng tạp hóa của chị em Liên vào một buổi chiều tối tại một phố huyện nơi có tuyến đường sắt  từ Hà Nội đi qua. Đúng vậy, rất đơn giản, tưởng như không có gì đáng nói, đáng nhớ. Thế nhưng tài năng nghệ thuật dường như bắt đầu từ đấy. "Anh có một biệt tài qúi giá là tìm được ngọc trai trong bất kì rãnh nước nào" - một nhà thơ nói về văn hào Anđécxen như vậy. Cái khó ở đây là phải phát hiện ra những điều ẩn chứa bao ý nghĩa sâu xa. Không lấy làm lạ khi nhà văn đưa ta tới một vùng quê vắng lặng vào một buổi chiều tàn dần chuyển sang đêm ngập tràn bóng tối. Dựng cảnh, người viết dụng tâm đặc tả hai phương diện này: sự buồn tẻ của âm thanh và sự tăm tối của không gian. Thật ra không phải không có tiếng động và ánh sáng. Có điều, cùng với sự vận hành của thời gian, cảnh tượng cứ nhạt dần, cứ vắng dần. Không có thì tương lai, tồn tại trong các tác phẩm chủ yếu là thì hiện tại và một phần là quá khứ... Sự tương phản giữa trước và nay, giữa chiều và đêm thật rõ. Trước kia, phố chợ đông vui, sáng sủa hơn nhiều: "Ở sau ga, có mấy hàng cơm mở cửa đón khách, đèn sáng cho đến nửa đêm". Còn giờ đây? "Họ đóng cửa cả rồi... Im lặng và tối đen như ngoài phố". Đặc biệt là thực tại trong tâm tưởng của Liên. Kí ức với cô là Hà Nội "sáng rực vui vẻ và huyên náo". Hiện tại với cô là "đêm của đất quê và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và im lặng". Đáng buồn thay, con người hướng về không  phải là ngày mai mà là quá vãng của ngày hôm qua để mơ tưởng và tiếc nuối. Hôm nay khác biệt với hôm trước, hôm trước nữa theo chiều suy giảm. Vẻ đông vui, nhộn nhịp, sáng sủa, tươi tắn... tồn tại ở phía sau. Một quá khứ vàng son! Mà đâu cần nhìn xa, giữa chiều và đêm cũng khác nhau nhiều lắm. Lúc chập tối "các nhà đã lên đèn rồi, đèn treo trong nhà bác phó My..." để chưa đến 9 giờ "tất cả phố sá trong huyện đều thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Ty". Cuộc đời cứ thế mòn mỏi dần theo năm tháng. Người ta chỉ còn biết đọc truyện cổ tích để tiếc nuối quá khứ và lãng quên hiện tại.

Nhìn nghe cho kĩ thì trong thời khắc hiện tại không phải hoàn toàn im ắng và tối tăm. Có tiếng ếch kêu văng vẳng theo gió từ ngoài đồng thổi vào; có tiếng cười khanh khách điên khùng của bà cụ Thi; có tiếng đàn bầu của bác Sẩm bần bật trong yên lặng... Đặc biệt tiếng đoàn tàu "sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya" rầm rập đi tới rồi lại rầm rập qua nhanh như "đã đem một chút thế giới khác đi qua". Đó là âm thanh, còn ánh sáng? Có ngọn đèn lay động trên chõng của chị Ty; chấm lửa nhỏ và vàng lơ lửng mất đi rồi lại hiện ra của gánh phở bác Siêu đi trong đêm tối; và còn ngọn đèn vặn nhỏ như hạt đậu thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa của Liên nữa. Và nếu cần kể thêm thì phải kể tới những vệt sáng của những con đom đóm "bay là là trên mặt đất hay len vào cành cây". Chấp chới và mơ hồ quá! Có sáng chăng là vẻ lấp lánh của hàng ngàn ngôi sao trên bầu trời. Ánh sáng nơi trời cao, xa xăm và cách biệt. Giá chỉ một màn đêm đen tối, một không gian hoàn toàn tĩnh lặng có lẽ sẽ hơn chăng? Nhưng đó lại là cuộc sống mà tuổi thơ của những Liên, của những An phải cam chịu, phải chấp nhận. Sinh động mà bi đát, khắc khoải làm sao! Gấp truyện ngắn lại, tôi còn như trông thấy bé An từ trong gian hàng nóng nực và đầy muỗi đi ra. Thế rồi An ngồi xuống chiếc chõng tre, "chiếc chõng nan lún xuống và kêu cót két". Cuộc sống sớm dấn thân vào những lo toan vật chất thường ngày đã tác động tới tâm hồn trẻ thơ từ nhiều phía và làm cho chúng trở nên cằn cỗi, trở nên vị kỉ - trẻ thơ không còn là trẻ thơ nữa. Mà qui luật của cuộc đời lại vốn ngặt nghèo: hoa không mọc thì cỏ dại sẽ tươi tốt. Liệu chúng ta có thể dửng dưng?

Không, chúng ta không thể dửng dưng. Ấn tượng về tác phẩm vẫn còn tươi mới. Và mỗi khi nghĩ đến truyện Hai đứa trẻ, tôi cứ hay liên tưởng tới hương thơm của loài hoa đồng nội, thoang thoảng mà vấn vương, quấn quít hoài. Mùi hương của loài hoa ấy sẽ theo ta đi suốt cuộc đời...