"Độc ẩm", bài thơ thù tạc mà hay

Độc ẩm của nhà thơ Đàm Chu Văn có thể xếp vào loại thơ văn thù tạc. Đây là loại văn chương được sáng tác nhân một sự kiện nào đó, chung hoặc riêng, liên quan đến một người hoặc nhiều người. Thời trước, phần đông các nhà nho cứ có dịp là sử dụng nó, thậm chí còn xem thù tạc như một chức năng của thi ca, không thật quan thiết như những chức năng khác, nhưng cũng không cho phép xem thường. Nhu cầu thực tế của đời sống mà, văn chương cần phải đáp ứng, nếu không muốn trở thành thứ xa xỉ phẩm đối với con người. Phạm Nhữ  Dực, một nhà thơ sống ở thế kỷ XV, cũng quê Quỳnh Phụ, Thái Bình như nhà thơ Đàm Chu Văn sau này, đã viết trong một bài thơ tạ ơn:

                Thư sinh xưng tạ tương hà dĩ?

               Cố tụng Anh tài lạc dục ca

Tạm dịch nghĩa:

               Kẻ thư sinh này biết làm gì để tạ ơn?

               Cho nên xin đọc bài “Anh tài lạc dục”

Nhà thơ họ Phạm muốn nhắc đến sách Mạnh Tử trong đó có câu: Đắc thiên hạ anh tài nhi giáo dục chi  (Vui mừng được những anh tài thiên hạ để dạy dỗ họ). Một cách tri ân thật là nho nhã, cũng thật là văn chương.

Nhà thơ họ Đàm hậu bối tiếp bước tiền nhân một cách xứng đáng. Tôi dám nói thế vì bài Độc ẩm được Đàm Chu Văn viết để dâng tặng nhà văn Hoàng Văn Bổn nhân sinh nhật lần thứ 70  của ông là một bài thơ thù tạc mà hay. Được vậy là khó lắm! Rất nhiều ràng buộc, nghĩa là rất nhiều trói buộc, nên rất dễ mang tính giao đãi  đi đến giả tạo. Mà thơ thiếu chân tình, chân thành thì hay sao nổi! Cần nhớ, dẫu sao anh cũng phải ngợi ca công đức của đối tượng. Tránh sao nổi, đó là cái cớ khiến anh cầm bút kia mà. Dễ sa vào việc  đề cao quá mức do tình thân gần gũi hàng ngày thúc bách. Viết xong, đọc cho vui vui lúc ấy thì được. Công bố lại là chuyện khác. Bài thơ lập tức trở thành tài sản tinh thần chung của mọi người, không giới hạn ở thời đại anh sống. Thế là rất dễ biến thành trò cười cho người khác. Kẻ sĩ đời nào lại muốn thế!

Tôi nghĩ, ở một mức độ đáng kể, Đàm Chu Văn đã vượt thoát được thách thức và giới hạn vừa nêu. Cái chính là do anh biết xử lý đề tài một cách khéo léo. Anh không tỏ bày trực tiếp cảm nghĩ theo dẫn dắt của cái tôi trữ tình mà theo cách tạo dựng nhân vật trữ tình – nhà văn Hoàng Văn Bổn với sự nghiệp, tâm trạng, môi trường sống của ông là nhân vật trữ tình ấy. Khi đó, vào năm 2000, ông còn sống ở ngôi nhà bên bờ sông Đồng Nai thân thuộc. Nhà thơ lấy ngay trạng huống này để nói về cuộc đời và con người ông. Sự đối sánh tương hợp đến lạ lùng:

Cạn ly cùng sông nước

sông như ta rong ruổi một đời

Vâng, suốt một đời, Hoàng Văn Bổn rong ruổi như dòng sông. Rất, rất nhiều tâm sự thật khó nói ra. Độc ẩm chứ không phải đối ẩm. Vậy thì hãy mời sông cùng cạn chén:

  Mình ta rót rượu mời sông uống

  trai trẻ như sông, già như sông

Lại một sự gần gũi khác, khó nhận ra hơn. Bao đời nay dường như sông không hề thay đổi, sông trẻ là vì thế. Nhưng sông lại từng chứng kiến biết bao đổi thay của cuộc đời, sông già là vì thế. Không tồn tại mâu thuẫn, chỉ có nghịch lý - một thứ nghịch lý sâu sa. Đặc biệt:

Ta mời sông cạn thêm ly nữa

Đồng Nai chín bậc réo thác ghềnh

gió tung sóng bạc cười tóc bạc

hồn ta vẫn gửi ngọn nguồn xanh

Xin được lưu ý, chỉ đến khổ kết tên sông mới được xác định: đó là sông Đồng Nai. Trường hoạt động của Hoàng Văn Bổn đâu chỉ ở châu thổ của dòng sông này. Bước chân ông đặt lên hầu khắp mọi miền đất thân yêu của Tổ quốc chúng ta. Về già, ông mới quyết định chọn mảnh đất quê hương để nương thân, và cũng để tiếp tục mở mang sự nghiệp. Ông từng tự thuật về cuộc đời mình: Tôi trở thành nhà văn là hoàn toàn do cách mạng, kháng chiến và quân đội. Tôi sáng tác như một sự phân công của cách mạng. Suốt 30 năm cầm bút tôi phải phục vụ sự nghiệp cứu nước… Tôi rất hài lòng về điều này. Những năm tuổi đã cao, tôi có may mắn là được viết những gì mà mình ham thích. Tôi viết về quê hương tôi, về cuộc đời tôi được cả thảy mấy ngàn trang…(Nhà văn Việt Nam hiện đại, Tr.81). Hàng ngàn, hàng ngàn trang sách … Hoàng Văn Bổn không hề nói quá lời. Nếu chỉ kể tên tác phẩm của ông thôi cũng phải kín trang giấy. Đàm Chu Văn biết nói những điều đáng nói ấy trong thơ:

Giá như ghép sách làm buồm được

chữ có bay lên đến được trời

Và anh còn biết nói những điều quý giá khác nữa phía sau những trang sách:

Mỗi trang sách thấm bùn, thấm máu

làm sao rủ được bạn rong chơi?

Đọc đến đây, tôi không khỏi nghẹn ngào. Hoàng Văn Bổn thuộc số những nhà văn bị cái mệnh văn chương trói buộc. Ông sống, chết cùng văn chương, và hầu như không để ý mấy đến những chuyện khác ngoài văn chương. Trong khi, cuộc đời vốn phức tạp hơn ông tưởng rất nhiều. Vậy nên, những người như ông thường thua thiệt. Theo tôi, có lẽ giới văn học ở ta chưa đánh giá đúng mức đóng góp của ông trong việc tạo dựng văn chương, văn nghệ cho một vùng đất. Ông không chỉ đóng góp bằng trang viết. Cùng với nhà văn Lý Văn Sâm (1921 - 2000), ông đã góp công góp sức một cách  bền bỉ, có hiệu quả để xây dựng nên cả một đội ngũ viết văn khá hùng hậu ở miền Đông Nam bộ. Va tôi nghĩ,  không chỉ giới hạn ở khu vực đó đâu. Biết bao cây bút thành danh như Trương Nam Hương, Lương Định, Cao Xuân Sơn… đều được khởi nghiệp từ Biên Hòa trong bàn tay dìu dắt của các ông. Đấy là chưa nói tới những đóng góp quý giá khác của Hoàng Văn Bổn cho điện ảnh Quân đội. Ông đã từng là đạo diễn, biên kịch, biên tập cho Xưởng phim Quân đội suốt chục năm ròng.

Chiều buồn xem lại băng phim cũ

khuất sau phim ấy mảnh đời ta

đồng đội ngã Hàm Rồng, Quảng Trị …

mỗi thước phim còn ứa máu ra!

Tôi tin sẽ đến lúc chúng ta hiểu ra để đánh giá đúng công lao của những người âm thầm lao động, âm thầm cống hiến không chỉ bằng ngòi bút như ông. Xin được cám ơn nhà thơ Đàm Chu Văn vì bài thơ hay về nhà văn lão thành Hoàng Văn Bổn, một người mà sự nghiệp thuộc về một thời không thể quên được, và còn thuộc về một vùng không thể không nhắc đến. Ý nghĩa của bài thơ, do vậy, không còn giới hạn  trong địa hạt văn chương nữa rồi!

 Đà Lạt, 7/5/2003