Bồi dưỡng tình cảm qua dạy văn

 Cùng với hệ thống tín hiệu thứ nhất, hệ thống tín hiệu thứ hai - ngôn ngữ - có vai trò to lớn đối với trạng thái và diễn biến cảm xúc của con người. Nhà tâm  lí học P. Ruđich cho rằng: "Lời nói... có thể gây nên bất kì những phản ứng nào của cơ thể, đó là những phản ứng xuất hiện dưới sự tác động của các tác nhân kích thích tín hiệu thứ nhất, bên trong hoặc bên ngoài con người... Lời nói là tác nhân kích thích hiện thực không chỉ gây  tín hiệu về các  sự kiện đó của hiện thực mà còn gây nên những cảm xúc hưởng ứng những lời nói mà làm cho người ta yên lòng hay hồi hộp sau khi đã báo cho người ta biết về một điều gì đó quan trọng" (1). Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và cảm xúc, khả năng tác động  đến trái tim con người của lời nói là một thực tế dễ dàng xác nhận và trải nghiệm.

Điều này càng đặc biệt dễ nhận ra ở văn chương- nghệ thuật ngôn từ. Có lẽ ta nên hiểu đúng khái niệm "ngôn từ" trong kết hợp từ  này. Khi bàn về chất liệu sáng tạo của nhà văn, nhiều người quen nói: Đó là ngôn ngữ. Thật ra có điều gì đấy chưa thật chính xác. Ngôn ngữ thường được hiểu là hệ thống các phương tiện ngữ âm, từ ngữ, từ pháp, cú pháp và tu từ. Các phương tiện này chưa được sử dụng trong giao tiếp. Trong các tác phẩm văn chương thì khác, ngôn ngữ đã được "người nghệ si của từ" (L. Tônxtôi) vận dụng vào mục đích nghệ thuật. Đúng hơn trong lĩnh vực này phải gọi là "lời nói". Nhưng "lời nói" có lẽ cũng chưa nói hết được thực chất của vấn đề. Vì biết bao sản phẩm hoạt động lời nói khác đâu  có được xem là văn chương. Vì thế phải hiểu "ngôn từ" với tư cách là công cụ thể hiện của nhà văn là "lời nói đặc biệt", nơi mọi tiềm năng, mọi sức mạnh của lời nói trong biểu cảm và biểu ý  được phát huy đến mức cao nhất. Ta thường đòi hỏi ngôn ngữ văn chương không chỉ đúng mà còn phải hay là theo yêu cầu này.

Như vậy, với tư cách là "nghệ thuật ngôn từ" văn chương phải rất giàu khả năng truyền cảm. Chính Võ Liên Sơn, có lẽ là người đầu tiên xác định ý nghĩa của từ "văn chương" ở ta, đã hiểu rõ tính chất này: "Vả chăng cái dạng từ "văn học" bây giờ, người Tàu và người Nhật chỉ dùng theo nghĩa  mới, nghĩa hẹp cũng như hai chữ mĩ văn (Belles lettrea): Nghĩa là những thứ văn chương có tình cảm, mĩ cảm thuộc về phạm vi nghệ thuật" (2). Sức truyền cảm đặc biệt bộc lộ qua  ngôn ngữ thi ca. Nhà thơ Đỗ Phủ viết: "Ngữ bất kính nhân tử bất hưu" (Lời thơ không gây xúc động lòng người thì tới lúc chết vẫn không thôi sửa chữa).

Ví như bài thơ "Ông Đồ" của Vũ Đình Liên:

Mỗi năm hoa đào nở,

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ,

Bên phố đông người qua.

 

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài,

"Hoa tay thảo những nét

như phượng múa rồng bay".

 

Nhưng mỗi năm mỗi vắng,

Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu.

 

Ông đồ vẫn ngồi đấy,

Qua đường  không ai hay.

Lá vàng rơi trên giấy,

Ngoài trời mưa bụi bay.

 

Năm nay đào lại nở,

Không thấy ông đồ xưa.

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

Dễ nhận thấy đoạn I (hai khổ đầu) và đoạn II (hai khổ kế tiếp) là hai vế đối khá hoàn chỉnh về mặt nghĩa. Trong cả hai vế đều có cảnh và người - người viết và người thuê viết, cũng có thể nói là người nghệ sĩ và người thưởng ngoạn,  bởi lẽ trong trường hợp này viết chữ  đâu còn là chuyện làm ăn theo nghĩa thông thường. Cả hai đều hướng tới cái đẹp, một người thì sáng tạo, một người thì hưởng thụ. Cảnh và người tương phản thật rõ: Một đằng đông vui tươi sáng, một đằng tẻ vắng, lụi tàn. Nổi lên là hình ảnh ông đồ - nhân vật trung tâm của cảnh đồng thời là nhân vật trung tâm của bài thơ. Một bên thì chủ động lừng lững choán hết không gian của câu thơ, bên kia thì bị động thu mình thành một đốm nhỏ đến thảm hại. Gắn chặt với ông đồ là người thuê viết không rõ hình, rõ tướng nhưng rõ tính, rõ nết, rõ thái độ và tình cảm. Thấm sâu vào người và cảnh khách quan kia là cái nhìn và tâm trạng của người làm thơ. Cũng như mặt khách thể, phía chủ thể thật hoàn toàn khác biệt. Trong đoạn đầu, người viết càng hồ hởi, náo nức, hứng khởi bao nhiêu thì ở đoạn sau tác giả càng chua chát, xót xa và sầu buồn bấy nhiêu. Một đằng là tiếng kêu vui rộn rã, tự trong lòng thốt ra:

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài,

Phía kia là một khúc ca ai oán ngân dài như đến vô tận. Nhịp điệu 2/3 của các câu thơ kế tiếp đã góp phần thể hiện điều này:

Giấy đỏ / buồn không thắm;

Mực đọng / trong nghiên  sầu...

... ...

Lá vàng / rơi trên giấy,

Ngoài trời/ mưa bụi bay.

Hai khổ thơ trên thực tế bị phá vỡ để kết dính làm một. Cố nhiên hình ảnh gợi rất nhiều ý nghĩa, vừa đen, vừa bóng, vừa thật, vừa hư.  Song cái hay vô hình khó thấy là ở âm điệu bên trong. Các câu thơ nối nhau ngân dài đều đều như điệp khúc buồn của một khúc bi ai. Điều này gắn liền với cách thể hiện của nhà thơ. Nếu đoạn đầu bài thơ nghiêng về kể (chuyện nó hiển nhiên là thế, tự nó đã có sự thuyết phục cần gì phải trực tiếp bộc lộ thái độ) thì ở đoạn II đã có phần đổi khác: Kể gắn với tả và kể, tả gắn liền với biểu hiện. Thậm chí đôi lúc không kìm nổi lòng mình, tác giả bật ra một câu hỏi vừa ngẩn ngơ, vừa trách cứ:

Người thuê viết nay đâu?

Càng đọc ta càng thấy nhức nhối vì nhớ tiếc và xót xa. Đáng chú ý hơn cả là khổ kết: Nó thâu thái ý tứ của bốn khổ thơ trước đó  không phải ở bề mặt mà ở bề sâu, đồng thời đẩy ý thơ lên một tầm cao mới.

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

Nhà thơ hướng tới " hồn" của "những người muôn năm cũ". Ông đồ đã hòa nhập vào không gian rộng lớn và thời gian vĩnh hằng, bởi ông là hiện thân sinh động của những gì cao xa hơn nhiều - những cái đã hóa thân vào sông núi này, năm tháng này, những cái đáng được nâng niu, gìn giữ. Ta chợt hiểu vì sao mở đầu bài thơ, tác giả lại viết:

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Ông là dấu hiệu hơn thế là biểu hiện của ngày tết cổ truyền ăn sâu vào tim óc của người Việt Nam ta từ thuở nào, thiêng liêng và trang trọng. “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ”… Nhân vật trữ tình là ông đồ già (không thể nào khác thế!) với tài “thảo” chữ (không còn là viết chữ): "Như phượng múa rồng bay”. Thanh thoát và bay bướm biết nhường nào! Vì ở đây đâu còn là tay viết ra và là “thần” nghĩa là anh linh phát lộ ra ngoài. Có thể  xem khổ kết như là bài thơ ngụ ngôn tuyệt cú thật cô đúc và sâu xa đề dưới hai bức tranh liên hoàn tương phản nhau về mặt ý nghĩa ở trên:

Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người  muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

Bài thơ chứa chan ý hướng hoài cổ. Ngôn ngữ thi ca đóng vai trò quyết định tới việc bộc bạch cảm xúc của nhà thơ.

Trong văn xuôi, ngôn ngữ văn chương có tác dụng gợi không khí nhất là khắc họa tính cách nhân vật, và tất cả đều nhằm tạo nên ấn tượng khó phai trong lòng người đọc. Ta có thể  thấy rõ đều đó qua hai truyện ngắn xuất sắc:”Hai đứa trẻ” của Thạch Lam và “Vợ nhặt” của Kim Lân.

Nhiều cây bút cùng thời với Thạch Lam đã thể hiện nỗi đau đến nhức nhối trước sự bần hàn, khốn khó của người lao động. Không phải các nhà ăn này không nói tới đời sống tinh thần của tầng lớp “dưới đáy” xã hội. Song ngẫm cho ki, thể  hiện sự nghèo hèn về tinh thần  cũng để nhằm góp phần diễn tả cuộc xung đột giữa hai thế lực Thiện - Ác ở đời mà thôi. Bọn người lòng lang dạ thú  không chỉ bóc lột về vật chất mà còn áp bức về tinh thần. Thái độ người đọc thật phân minh vì lẽ đúng sai phân định thật rạch ròi. Tác động xã hội của tác phẩm loại này không nhỏ, nhưng hiệu quả nhận thức thì không được bao lăm, bởi người đọc không được tạo cơ hội tham dự vào quá trình tìm đến chân lí. Thạch Lam đã tự chọn cho mình một con đường riêng khác hẳn. Trong “Hai đứa trẻ”, nhà văn đã khám phá ra một nguy cơ thật sự và lâu dài:  Đó là sự mòn mỏi về tinh thần của trẻ thơ trước sức khống chế, sự câu thúc, thường là khó thấy, của cái thiếu, cái đói, cái nghèo. Do khó thấy mà người ta dễ xem thường và cứ để cuộc đời trôi đi như những con thuyền buông xuôi trên dòng sông năm tháng. Tai hại chính là ở đó. Ta hầu như hoàn toàn mất ý thức về nó. Thậm chí ta không còn cảm giác thấy đây là một nguy cơ có thật  tồn tại ngay cạnh ta, bao phủ xung quanh ta. Tâm hồn trẻ thơ cứ thế mà nghèo nàn, què quặt đi. Đến khi chúng ta, những người có trách nhiệm và phải có trách nhiệm về chúng, nhận ra thì đã quá muộn rồi. Cái giá phải trả sẽ rất đắt: Sự suy thoái tinh thần của cả một thế hệ. Tôi nghĩ, "Hai đứa trẻ" có giá trị xã hội to lớn, giá trị tư tưởng sâu xa chính ở điểm này.

Đọc tác phẩm, ta thấy cuộc đời cứ hiện dần ra qua cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ của Liên. Nhà văn như hòa làm một với tâm hồn và ý nghĩ của trẻ thơ. Lẽ ra tuổi của Liên và An là tuổi cắp sách đến trường, tuổi của những cảm nghĩ hồn nhiên và tươi sáng. Miếng cơm manh áo hàng ngày đã níu giữ tất cả. Sớm cai quản sạp hàng hóa, hai chị em phải buôn bán, phải lo toan, tính toán...

Chuyện làm ăn lôi cuốn hai đứa vào vòng quay của nó, tự nhiên và lạnh lùng. Cứ theo cái đà ấy gỡ ra được hầu như là chuyện viển vông, không tưởng. Quả Liên có hãnh diện về chiếc chìa khóa tráp tiền "đeo vào cái dây xà ích bạc ở thắt lưng" thật. Song đâu phải vì Liên ham thích gì cái chuyện thu vén chi tiêu. Chẳng qua nó chứng tỏ Liên là "con gái nhớn và đảm đang", vậy thôi. Cô đâu biết chính cái vòng cứ dần dà thít chặt cuộc đời cô, làm mất đi cái vẻ trẻ thơ cần có của lứa tuổi cô. Phải nói, tự trong sâu thẳm của lòng mình, Liên luôn ấp ủ một tình thương đồng loại có thể nói là bao la. Thấy lũ trẻ nghèo lúc chợ tan cứ lom khom nhặt nhạnh bất cứ thứ gì có thể dùng được của những người bán hàng để lại, lòng Liên nao lên một nỗi xót thương."Nhưng chính chị cũng không có tiền để cho chúng nó". Muốn bộc lộ sự cảm thông, muốn chia sẻ một phần sự thiếu thốn bằng hành động, qua hành động trước những người cùng cảnh ngộ, nhưng đâu có được. Ý muốn vẫn chỉ là ý muốn dẫu da diết và tốt đẹp đến mức nào. Như bao đứa trẻ khác sinh ra trên đời, Liên và An đều ấp ủ những khát khao hiểu biết. Giữa cảnh tối đen của mặt đất, hai đứa trẻ ngước nhìn bầu trời sao nhấp nháy, gắng tìm sông Ngân Hà và con vịt theo sau ông Thần nông. Nhưng rồi chỉ một lát sau hai chị em lại cúi nhìn về mặt đất bởi "vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật và xa lạ" nhanh chóng  "làm mỏi trí nghĩ" của chúng. Nhưng liệu có gì hấp dẫn quanh chúng dưới mặt đất này khi ngay cả những thú đùa vui chính đáng "trẻ thơ nhất" cũng có thực hiện nổi đâu. Rất tinh tế, Thạch Lam mô tả cái nhìn thèm thuồng muốn nhập bọn với lũ trẻ của An. Nhưng nhớ lời mẹ dặn phải để mắt đến sạp hàng nên hai  chị em đành ngồi yên trên chõng "đưa mắt dõi theo những bóng người về muộn, lừ đừ đi trong đêm". Đó là những người lương thiện lam lũ quanh năm mà vẫn quanh năm đói rách. Vấn đề hầu như duy nhất đối với họ  là kiếm ăn để sống, đúng hơn là để tồn tại. "Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi cho sự sống nghèo khổ hàng ngày". Vậy Liên và An mong đợi được gì nơi họ? Hai chị em không tha thiết gì với chuyện làm ăn cũng là phải. Bản tính tự nhiên của trẻ  thơ có lúc trỗi dậy. Có sự giằng xé. Thế rồi, cuộc sống toan tính lại ập tới, xô đẩy hai chị em theo, bất chấp những mong muốn tốt lành.

Tội nghiệp nhất là tâm trạng phấp phỏng chờ đợi chuyến tàu từ Hà Nội đi qua. Chẳng phải vì chuyện buôn bán: "Liên không trông mong còn ai đến mua nữa". Chúng nóng lòng chờ đợi đoàn tàu do một nguyên cớ khác: "Muốn được nhìn chuyến tàu". Vì chuyến tàu là sự hoạt động rộn rã cuối cùng của một đêm, và còn vì, điều này quan trọng hơn, chuyến tàu từ Hà Nội trở về. Mà với Liên, Hà Nội là nơi chất chứa những kỉ niệm , những hoài vọng khiến chỉ cần nhắc đến địa danh ấy thôi là cô đã "lặng theo mơ tưởng".  Song chuyến tàu đêm ấy chỉ xao động lên trong chốc lát rồi khuất dần sau ngọn tre xa xa. Cái niềm vui hiếm hoi sau chót đã không làm cho Liên và An thỏa mãn. An buông ra một nhận xét:

- Tàu hôm nay không đông nhỉ, chị nhỉ.

Kết thúc tác phẩm là giấc ngủ của Liên "trong tĩnh mịch và đầy bóng tối" giữa cuộc đời chật hẹp như chiếc đèn của chị Ty chỉ đủ "chiếu sáng một vùng đất nhỏ". Cuộc sống đơn điệu, buồn tẻ, in hằn lên nếp sống , nếp nghĩ của trẻ thơ. Cái nhìn của Thạch Lam thật tinh tường! Tấm lòng của Thạch Lam thật bao dung! Tác phẩm vang lên lời kêu cứu. Vâng, hãy cứu tâm hồn nhỏ dại của trẻ thơ khi chưa quá muộn. Đến giờ tiếng kêu khẩn thiết cất lên từ những năm 30 ấy vẫn còn nguyên giá trị.

 Vậy là giá trị nội dung của "Hai đứa trẻ" thật lớn lao và đặc sắc. Cái hay là ý nghĩa xã hội và tư tưởng cao sâu, độc đáo ấy lại được gửi gắm trong một câu truyện đơn giản tới mức có thể nói là không có gì đặc biệt. Đó là những câu chuyện sinh hoạt thường ngày của những người lao động  lam lũ xoay quanh  quầy hàng tạp hóa của chị em Liên vào một buổi chiều tối tại một phố huyện nơi có tuyến đường sắt  từ Hà Nội đi qua. Đúng vậy, rất đơn giản, tưởng như không có gì đáng nói, đáng nhớ. Thế nhưng tài năng nghệ thuật dường như bắt đầu từ đấy. "Anh có một biệt tài  qui giá là tìm được ngọc trai trong bất kì rãnh nước nào" - một nhà thơ nói về văn hào Anđécxen như vậy. Cái khó ở đây là phải phát hiện ra những điều ẩn chứa bao ý nghĩa sâu xa. Không lấy làm lạ khi nhà văn đưa ta tới một vùng quê  vắng lặng vào một buổi chiều tàn dần chuyển sang đêm ngập tràn bóng tối. Dựng cảnh, người viết dụng tâm đặc tả hai phương diện này: Sự buồn tẻ của âm  thanh và sự tăm tối của không gian. Thật ra không phải không có tiếng động và ánh sáng. Có điều, cùng với sự vận hành của thời gian, cảnh tượng cứ nhạt dần, cứ vắng dần. Không có  thì tương lai, tồn tại trong các tác phẩm chủ yếu là thì hiện tại và một phần là quá khứ... Sự tương phản giữa trước và nay, giữa chiều và đêm thật rõ. Trước kia, phố chợ đông vui, sáng sủa hơn nhiều: "Ở sau ga, có mấy hàng cơm mở cửa đón khách, đèn sáng cho đến nửa đêm". Còn giờ đây? "Họ đóng cửa cả rồi... Im lặng và tối đen như ngoài phố". Đặc biệt là thực tại trong tâm tưởng của Liên. Kí ức với cô là Hà Nội "sáng rực vui vẻ và huyên náo". Hiện tại với cô là "đêm của đất quê và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và im lặng". Đáng buồn thay, con người hướng về không  phải là ngày mai  mà là quá vãng của ngày hôm qua để mơ tưởng và tiếc nuối. Hôm nay khác biệt với hôm trước, hôm trước nữa theo chiều suy giảm. Vẻ đông vui, nhộn nhịp, sáng sủa, tươi tắn... tồn tại ở phía sau. Một  quá khứ vàng son! Mà đâu cần nhìn xa, giữa chiều và đêm cũng khác nhau nhiều lắm. Lúc chập tối "các nhà đã lên đèn  rồi, đèn treo trong nhà bác phó My..." để chưa đến 9 giờ "tất cả phố sá trong huyện đều thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Ty". Cuộc đời  cứ thế mòn mỏi dần theo năm tháng. Người ta chỉ còn biết đọc truyện cổ tích để tiếc nuối quá khứ và lãng quên hiện tại.

Nhìn nghe cho kĩ thì trong thời khắc hiện tại không phải hoàn toàn im ắng và tối tăm. Có tiếng ếch kêu văng vẳng theo gió từ ngoài đồng thổi vào; có tiếng cười khanh khách điên khùng của bà cụ Thi; có tiếng đàn bầu của bác Sẩm bần bật trong yên lặng... Đặc biệt tiếng đoàn tàu "sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya"  rầm rập đi tới  rồi lại rầm rập qua nhanh như "đã đem một chút thế giới khác  đi qua". Đó là âm thanh, còn ánh sáng? Có ngọn đèn lay động trên chõng của chị Ty; chấm lửa nhỏ và vàng lơ lửng mất đi rồi lại hiện ra của gánh phở  bác  Siêu đi trong đêm tối; và còn ngọn đèn vặn nhỏ như hạt đậu thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa của Liên nữa. Và nếu cần kể thêm thì phải kể tới những vệt sáng của những con đom đóm "bay là là trên mặt đất hay len vào cành cây". Chấp chới và mơ hồ quá! Có sáng chăng là vẻ lấp lánh  của hàng ngàn ngôi sao trên bầu trời. Ánh sáng nơi trời cao, xa xăm  và cách biệt. Giá chỉ một màn đêm đen tối, một không gian hòan toàn tĩnh lặng có lẽ sẽ hơn chăng? Nhưng đó lại là cuộc sống mà tuổi thơ của những Liên, của những An phải cam chịu, phải chấp nhận. Sinh động mà bi đát, khắc khoải làm sao! Gấp truyện ngắn lại, tôi còn như trông thấy bé An từ trong gian hàng nóng nực và đầy muỗi đi ra. Thế  rồi An ngồi xuống chiếc chõng tre, "chiếc chõng nan lún xuống và kêu cót két". Cuộc sống sớm dấn thân vào những lo toan vật chất thường ngày đã tác động tới tâm hồn trẻ thơ từ nhiều phía và làm cho chúng trở nên cằn cỗi, trở nên vị kỉ - trẻ thơ không còn là trẻ thơ nữa. Mà qui luật của cuộc đời lại vốn ngặt nghèo: Hoa không mọc thì cỏ dại sẽ tươi tốt. Liệu chúng ta có thể dửng dưng?

Không, chúng ta không thể dửng dưng. Ấn tượng về tác phẩm vẫn còn tươi mới. Và nghĩ đến truyện  "Hai đứa trẻ", tôi cứ hay liên tưởng tới hương thơm của hoa đồng nội, thoang thoảng mà vấn vương, quấn quít hoài. Mùi hương của loài hoa ấy sẽ theo ta đi suốt cuộc đời...

`

Văn chương xưa viết về chuyện dựng vợ, gả chồng vốn không ít. Êm thấm có, ngang trái trắc trở thì nhiều hơn. Nhưng truyện "Vợ nhặt" của Kim Lân thì  độc nhất vô nhị. Tràng, nhân vật chính của truyện, có vợ như một chuyện thật như đùa. Ấy là vì anh ta lấy vợ trong một tình cảnh thật đặc biệt. Đói kém, chết chóc lan tràn khắp nơi. Xóm chợ, nơi Tràng đi về mỗi ngày, là một trong những điểm tăm tối nhất: "Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm cong queo bên đường". Người nghèo còn sống sót thì đi lại vật vờ "xanh xám như những bóng ma". May mà Tràng có sức khỏe, lại có công có việc nên chỉ bị thiếu , bị đói chứ cái chết thì chưa nhòm ngó tới. Nhưng ai dám bảo đảm tình trạng ấy kéo dài được lâu. Cứ trông cái dáng đi "từng bước mệt mỏi" "cái đầu trọc nhẵn chúi về phía trước" của Tràng cũng xác nhận được một sự thật: Dạo này "hình như những lo lắng vật chất  trong một  ngày đè xuống cái lưng to rộng như lưng gấu của hắn" hơn. Giữa cảnh tăm tối, bi đát ấy, giữ cho mình và người thân (Tràng còn mẹ già) qua khỏi đã là may, ai còn động rồ động dại nghĩ đến chuyện lấy vợ lấy chồng. Tuy nhiên, cuộc đời còn có những ngả đường riêng, tưởng là bất ngờ nhưng lại không thể khác, không thể không xảy ra. Chuyện Tràng có vợ xảy ra thật đường đột, đường đột ngay cả với chính anh ta: "Ra hắn đã có vợ rồi ư? Hà! Việc xảy ra thật hắn cũng không ngờ". Có một câu hỏi cần đặt ra: Từ trong sâu thẳm lòng mình, Tràng có ước ao một cuộc sống gia đình không? Phải nói là có! Lời phân bua đến tội nghiệp của Tràng trước cảnh xống áo, niêu bát bừa bộn trên giường dưới đất lúc đưa thị vào nhà cho ta biết rõ điều đó: "Không có người đàn bà, nhà cửa bề bộn thế đấy!" Chỉ bởi cuộc sống lam lũ, đầu tắt mặt tối vì miếng cơm manh áo đã không cho phép Tràng nghĩ tới, mà có khi nào nghĩ tới chuyện vợ con thì anh ta chỉ dám coi đây là mong muốn xa vời, ước để mà ước vậy thôi. Tràng gặp thị thật tình cờ, "chỉ tầm  phơ tầm phào đâu có hai bận". Mong ước kia được đánh thức dậy, lên tiếng đòi được thỏa mãn. Không phải lí trí đã hoàn toàn câm bặt. Mới đây, khi cái chuyện hệ trọng kia cần đi tới quyết định, Tràng cũng thấy "chờn": "Thóc dạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không lại đèo bòng". Nhưng sau khi anh ta chặc lưỡi chấp nhận, thì họ nên vợ, nên chồng. Khát vọng tự nhiên đã chiến thắng, dường như  bất chấp cái lẽ thông thường. Rõ ràng, mong muốn nương tựa vào nhau giữa cảnh nghèo đói đã gắn bó hai số phận cô đơn lại với nhau. Bà cụ Tư nghĩ rất thật : "Người ta có gặp bước  khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy con mình. Mà con mình mới có vợ được".

Thành vợ thành chồng trong một hoàn cảnh đặc biệt nên mọi chuyện diễn ra không được bình thường cũng là dễ hiểu. Không lễ dạm ngõ, ăn hỏi, ngay cả dăm ba mâm để trình họ trình làng cũng không có. Nhưng "cũng chẳng ai chấp nhặt chi cái bước này", bà mẹ nghĩ thế là phải. Có điều, vật chất thiếu thốn người ta sẵn lòng bỏ qua, còn luật lệ trong nhà  có điều kiện thực hiện thì phải cho nghiêm, cho  phải đạo. Con cái lấy nhau phải được sự đồng ý của cha mẹ, đó là luật lệ không thành văn nhưng đòi hỏi mọi người phải tự giác tuân thủ, không được bỏ qua, hoặc coi nhẹ, xem thường. Sau cái cảnh "trình làng" bóng  anh đi trước bóng nàng theo sau là cái cảnh cặp tình nhân đợi mẹ về chờ  đợi lời phán quyết cuối cùng của thân mẫu. Giây phút thật hệ trọng! Sự chờ đợi thật căng thẳng! Với cô dâu đã đành, cả chàng rể - chủ nhà cũng thế. Hạnh phúc của đời họ  không phải tùy thuộc  vào lời phán quyết cuối cùng ấy sao? Mà ai dám cả quyết chỉ có thuận chứ không có nghịch? Dưới ngòi bút của tác giả, tâm trạng của bà mẹ hiện lên thật tinh tế. Vừa bước chân tới cổng, bà cụ cảm thấy có gì khang khác đang xảy ra. Đến giữa sân, bà đứng sững lại, ngạc nhiên hơn: "Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ?...Lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u?" Tuy chưa hiểu thật rõ ràng bà cũng đã bắt đầu ngờ ngợ. Tràng lên tiếng giải thích. Chủ động thế là phải. Đúng, đó là duyên, là kiếp, là số phận. May mắn thay số phận! Mà cũng oái ăm thay số phận! Tình thương trào dâng trong lòng ngươì mẹ. Lấy vợ giữa lúc này ư? Liệu có qua khỏi tao đoạn này không. Rồi còn chuyện sinh con đẻ cái ngẩng mặt nhìn đời? Nghĩ vậy nên bà "vừa ai oán, vừa xót xa". Rồi ý thức về bổn phận và trách nhiệm của người làm cha làm mẹ lại ập tới. Có sự giằng xé giữa tình cảm và lí trí, day dứt và quyết liệt  để cuối cùng lí trí đã chiến thắng trong bà: "Ừ...U cũng bằng lòng...". Bà đã chấp nhận, dù bà buộc lòng miễn cưỡng bởi sự ám ảnh nặng nề của tương lai, một tương lai rất gần, ngày mai, ngày mốt thôi. Có lẽ tình thế không cho phép bà chọn lựa. Con bà thở phào nhẹ nhõm. Ý nguyện của Tràng đã trở thành ý nguyện của gia đình. Vợ Tràng có điều kiện sống yên ổn trong sự đùm bọc của lòng mẹ, người yêu thương duy nhất còn sống sót  trên đời.

Thế rồi bà hướng tới "con dâu mới". Phải tạo lập những nhịp cầu đầu tiên  nối liền tình cảm giữa hai người vốn còn là những người xa lạ. Song, tình cảm còn phải xây dựng  trên sự hiểu biết, hiểu biết để thực sự cảm thông, một điều có lẽ cần thiết hơn cả giữa lúc này. Bà giới thiệu gia cảnh: "Nhà ta thì nghèo con ạ!" Bà căn dặn con dâu: "Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn...cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi". Thật giản dị mà chí lí, chí tình. Nhưng đâu có dễ thực hiện nhất là khi cái đói, cái chết đang rình rập ở ngoài kia đe dọa không chỉ niềm vui sống của của cặp vợ chồng mới được nhen lên mà còn đe dọa sự tồn tại ngay chính  cặp vợ chồng đó. Con dâu lẫn con trai bà đều chăm chú lắng nghe. Từ thâm tâm, họ coi đây là những điều hệ trọng được nói ra trong giây phút hệ trọng nhất của đời họ.

Kết thúc là cảnh động phòng của đôi uyên ương. Ở đoạn này cũng như  trong tòan bộ tác phẩm, tác giả không rơi vào hai thái cực thường thấy trong văn chương đương thời khi viết về đời sống người lao động ở thôn quê: Hoặc thi vị hóa, hoặc trần tục hóa. Ngòi bút của tác giả là chân thực. Có cái mộng bay bổng khi Tràng thức dậy “bên ngoài gió từ mặt sông thổi lên như tiếng người thì thầm trò chuyện”. Cũng như vậy, khi Tràng thức dậy sau đêm tân hôn “trong người êm ái lửng lơ như người trong giấc mơ đi ra”. Đi liền với điều đó là cái thực, khắc nghiệt và chua xót: “Giữa sự im lặng của đôi vợ chồng mới có tiếng ai khóc ngoài xóm lọt vào ti tê lúc to, lúc nhỏ...” Bữa cơm sau ngày cưới cũng thế. Lần đầu tiên cả gia đình sum họp trong một bữa cơm có thể nói là ấm cúng, ngon lành và vui vẻ nữa, tuy không thật trọn vẹn. Bữa ăn ngày đói nên trông “thảm hại” là phải: “Giữa cái mẹt rách có độc một nhúm rau chuối thái rồi và một đĩa muối ăn với cháo”. Thế nhưng, so với nhiều người đang chết dần chết mòn vì đói vì rét ngoài đường xó chợ kia thì vẫn là “sang”. Ngay cả nồi cháo cám cũng vậy. Vì đúng như bà cụ phân trần: “Xóm ta còn khối nhà chẳng có cám mà ăn đấy”.

Những trang viết về cuộc hôn nhân trong truyện thật chân thật và sinh động. Có cái chung như nhiều cuộc hôn nhân khác, nhưng đáng nói hơn là cái riêng, rất riêng như một trường hợp duy nhất ngoài  đời. Cám ơn nhà văn đã từ kinh nghiệm sống của bản thân mà phát hiện ra một mảng hiện thực mới của cuộc sống, góp  phần tạo dựng toàn diện bức tranh làng quê Việt Nam qua thân phận của người nông dân sống trong giai đoạn lịch sử một đi không trở lại. Thấm vào hiện thực được mô tả là cái nhìn chan chứa tình đời, tình người. “Vợ nhặt” không chỉ  sống động mà còn xúc động là vì thế.

Trong chuyện có nhiều số phận và tính cách. Họ đều là những người lao động bình dị và chân thật. Và hầu như mỗi dòng, mỗi chữ của tác phẩm đều thấm đượm tấm lòng yêu thương, trân trọng đối với những phẩm chất sáng trong của họ, những phẩm chất đặc biệt tỏa sáng trong những hoàn cảnh khắc nghiệt, tối tăm và bi đát nhất. Trước hết là tấm lòng của tác giả đối với nhân vật Tràng. Anh ta là người lao động hiền lành chất phác. Thực đáng yêu tiếng cười "hềnh hệch" của Tràng khi trẻ con trong xóm "đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo" mỗi chiều khi anh ta đi làm về. Đó là niềm vui ít ỏi của xóm chợ nghèo nàn. Tràng làm quần quật suốt ngày, tưởng không cất đầu lên nổi vì miếng cơm manh áo,vậy mà anh ta không hoàn toàn mất đi cái tế nhị, kín đáo đôi khi rất cần thiết trong các quan hệ xã hội. Lúc đưa thị về làng, Tràng vừa trang nghiêm đạo mạo, vừa có vẻ "phởn phơ" dám "chịu trận". Nhưng khi một người bạn hỏi thị là ai thì Tràng chỉ đáp:"Người quen". Thế là đủ và rõ ! Cần gì phải nói trắng ra. Với mẹ, Tràng vừa yêu thương, vừa kính nể. Anh ta có vóc dáng to lớn "vập vạp" của một con gấu không hề biết sợ. Vậy mà trước mẹ, Tràng là con người khác hẳn, nín lặng vâng lời đến không ngờ. Anh ta "thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi" khi lời phán quyết từ miệng mẹ buông ra, chấm dứt sự chờ đợi đến tắc thở của Tràng. Cũng như bao người lao động lương thiện khác, bênh cạnh nhu cầu vật chất, Tràng còn có nhu cầu tinh thần đôi khi cũng không kém phong phú và mãnh liệt. Ai dám bảo là anh không biết yêu. Có thể sự biểu lộ tình yêu ở Tràng còn vụng về. Đúng thôi, làm sao có thể khác được. Bước vào con đường vắng vẻ, Tràng có ý bày tỏ tình cảm với thị, nhưng anh ta lúng ta lúng túng "tay nọ xoa vào vai kia" để rồi không cất nổi nên lời. Ngẫm cho kĩ, chính cái vẻ vụng về bề ngoài ấy mới thật đáng yêu, vì nó biểu lộ của một tấm tình chân thật và trong sáng. Không lấy làm lạ khi có lúc Tràng sống tràn ngập trong một "cái gì mới mẻ, lạ lắm","nó ôm ấp mơn man khắp da thịt Tràng". Đó là cảm giác do tình yêu đem lại, khiến anh ta "hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tối tăm hàng ngày". Trong khi yêu, Tràng còn biết đùa cợt và chấp nhận sự đùa cợt như bao người tình khác. Tới kề sân nhà mình, vậy mà khi thị hỏi:"Vẫn chưa đến à?" Tràng điềm nhiên trả lời: "Còn chán". Chấp nhận hôn nhân, Tràng ý thức rất rõ, rất sâu cái bổn phận làm chồng, làm cha: "Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người... có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này". Đáng ngạc nhiên hơn cả là sự thỏa mãn nhu cầu nhục thể của Tràng. Lấy vợ, ngoài chuyện tình chuyện nghĩa, còn có "chuyện" đó. Đây là sự thử thách. Tác giả đã chấp nhận mà không né tránh. Đáng mừng là ngòi bút của Kim Lân đã tỏ ra rất vững vàng và chính ở đây phẩm chất tốt đẹp ở Tràng ngời ngợi tỏa sáng. Trong lúc biết bao việc phải lo, Tràng đã không quên dành ra hai hào (số tiền đâu phải là nhỏ!) để mua dầu thắp với lí do đáng cảm phục: "Vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ". Con người, cố nhiên có mặt bản năng. Riêng ở mặt đó thì con người chưa hoàn toàn khác con vật. Cái cách thỏa mãn nhu cầu ấy mới thật đáng nói. Vậy là, đôi khi bị đẩy vào tình huống có nguy cơ bị tha hóa, người lao động lương thiện vẫn không mất đi nhân tính. Cái nhìn nhân bản của tác giả sáng chói trong tác phẩm để tỏa sáng, soi sáng trong cuộc đời và trong mỗi người chúng ta.

Tấm lòng ưu ái của tác giả đặc biệt bao trùm lên phẩm chất và số phận của người phụ nữ. Thị, khi còn ở ngoài vòng cương tỏa, luôn tỏ ra là người đàn bà táo tợn và đáo để. Có lẽ đây là cách tự vệ tốt nhất chăng ? Tuy nhiên, khi đã chấp nhận làm vợ, làm dâu thì người đàn bà này hoàn toàn đổi khác, từ dáng vẻ bề ngoài, cách ăn nói tới suy nghĩ, cảm xúc bên trong. Trên đường về làng, thị e thẹn rón rén sau Tràng. Trước sự châm chọc đùa cợt của lũ trẻ, thị có tỏ ra khó chịu nhưng nén lòng, không nhâng nháo phản ứng một cách đáng ghét. Nhất là khi cảm nhận được cái nhìn soi mói tò mò của những người đàn bà xung quanh thì thị ngượng nghịu và lúng túng hơn nhiều, đến nỗi "chân nọ bước díu vào cả chân kia". Ta không hề thấy cử chỉ và lời nói bốp chát ở thị như hai lần gặp trước đó. Ngay trong quan hệ với Tràng cũng thế. Rõ là một người tình khả ái! Thị thường im lặng. Nếu buộc phải nói thì buông ra một cách trống không, bâng quơ tưởng như vô tình, vô nghĩa. Tình yêu có lẽ thế chăng? Nó đem lại bao ý nghĩa cho những cái tưởng là vô vị. Đôi lúc họ nói với nhau chủng chẳng không đâu vào đâu nhưng đó lại là tình yêu. Như bao người tình khác, thị cũng biết trách "yêu": "Hoang nó vừa vừa chứ", biết vặn vẹo người yêu: "Đã có một mình lại còn mấy u. Bé lắm đấy". Lúc Tràng giục đi ngủ , thị dơ tay cụng vào trán anh ta với lời trách cứ nhẹ nhàng mà ý nhị: "Chỉ được có thế là nhanh, dơ!". Cái hay là Tràng như hiểu được mọi chuyện và đáp lại cũng thật khả ái, khi là cử chỉ khi là lời nói. Mọi chi tiết như tự nói được rất nhiều điều về cái nhìn vừa hiện thực vừa nhân đạo của tác giả. Cũng thật chân thực và xúc động cái mối quan hệ giữa dâu mới và mẹ chồng. Thị ăn nói nhỏ nhẹ, mực thước, đi đứng khép nép, ý tứ. Thật khuôn phép! Đúng là một cô dâu hiền không thể chê trách vào đâu được.

Vậy là hạnh phúc gia đình đã thật sự đến với họ. Một ngày mới với bao dự cảm tốt đẹp bắt đầu đối với cuộc đời tưởng triền miên trong đêm tối của họ. Mọi cái đổi thay đến ngỡ ngàng. Những số phận cô đơn lạc loài đã tìm đến với nhau, nương tựa vào nhau, tạo lập nên hạnh phúc gia đình giản dị mà ấm cúng. "Bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên". Còn với Tràng, anh ta chỉ biết vâng dạ một cách ngoan ngoãn. "Chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp như thế". Song cái mới mẻ hơn cả, cái tạo điều kiện dẫn đến sự chuyển biến đổi thay của hoàn cảnh lại ở phía cô dâu. Ở đây sức mạnh được nhân đôi, bùng lên mãnh liệt. Chính thị, bằng những  điều mắt thấy tai nghe chuyện "Việt Minh" về phá kho thóc Nhật đã chỉ cho Tràng thấy một ngả đường khác dẫn tới một chân trời khác. Đó là cuộc sống tươi đẹp ở giữa cõi trần chứ không phải tiên cảnh trong mơ. Tuy nhiên, điều kiện của cuộc sống ấy lại được bắt đầu trong sự chuyển biến về nhận thức và hành động của mỗi người. Trong kí ức mờ tối của Tràng như hiện lên tất cả. Hãy tự cởi trói cho mình! Đã có sự chuyển biến. Bắt đầu là vẻ ân hận, tiếc rẻ vẩn vơ, khó hiểu. Nhưng đó là dấu hiệu tốt lành. Kết thúc tác phẩm là lá cờ đỏ bay phất phới giữa đám người lả đi vì đói khát. Lãng mạn ư ? Đúng vậy! Có điều, thực tế lịch sử hùng hồn diễn ra vào tháng 8 năm 1945 đã cho phép tác giả và bạn đọc cái quyền tin tưởng. Có thể nói, ý nghĩa nhân bản đặc biệt sáng tỏ trong những trang cuối cùng của truyện ngắn.

Gấp tác phẩm lại, tôi cứ miên man suy nghĩ về vẻ độc đáo và ý  nghĩa nhân bản sâu xa của truyện ngắn "Vợ nhặt". Trên những phương tiện chung có ý nghĩa phổ biến ấy, ta hoàn toàn có cơ sở để tự hào về di sản văn chương hiện đại của dân tộc ta lắm chứ.

Trở lên trên, chúng tôi đã phân tích một vài dẫn chứng tiêu biểu nhằm góp phần khẳng định vai trò của cảm xúc văn chương trong việc dạy văn ở trường phổ thông. Dẫu sao, đó cũng chỉ là một vài vận dụng cụ thể. Cái quan trọng là mỗi giáo viên cần quán triệt trong ý thức và trong hành động để thể hiện sức mạnh của tình cảm nghệ thuật một cách sống động và có hiệu quả ở từng bài giảng với từng đối tượng. Được vậy, chắc chắn chất lượng dạy và học văn sẽ càng ngày càng được nâng cao hơn.

 


1 Tâm lý học - Nxb Thể dục Thể thao, H.,1996, tr.234.

2 Văn nghệ số 52/1997.